Ong Khánh Ly
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
Bài thơ “Đề đền Sầm Nghi Đống” của Hồ Xuân Hương thể hiện rõ thái độ mỉa mai, khinh bỉ của tác giả đối với tướng giặc xâm lược Sầm Nghi Đống. Chỉ bằng bốn câu thơ ngắn gọn, nữ sĩ đã khéo léo phơi bày sự nhỏ bé, đáng chê cười của kẻ thù bại trận. Hình ảnh “ghé mắt trông ngang” cho thấy thái độ coi thường, không thèm nhìn thẳng. Ngôi đền thờ được miêu tả “đứng cheo leo” gợi cảm giác chông chênh, lạc lõng, không xứng đáng với sự tôn nghiêm. Hai câu thơ cuối là lời mỉa mai sâu cay: nếu đổi phận làm trai thì cái gọi là “anh hùng” của Sầm Nghi Đống cũng chẳng có gì đáng kể. Qua bài thơ, Hồ Xuân Hương bày tỏ niềm tự hào dân tộc, lên án kẻ xâm lược và khẳng định chiến thắng oanh liệt của đất nước.
Câu 2.
Xây dựng và bảo vệ đất nước là trách nhiệm thiêng liêng của mỗi người dân, không phân biệt tuổi tác, nghề nghiệp hay hoàn cảnh sống. Trong bất cứ thời đại nào, sự phát triển bền vững của quốc gia cũng cần đến ý thức trách nhiệm và sự chung tay góp sức của toàn xã hội.
Trước hết, trách nhiệm xây dựng đất nước thể hiện ở việc mỗi người không ngừng học tập, lao động và rèn luyện để hoàn thiện bản thân. Học sinh cần chăm chỉ học tập, trau dồi tri thức, đạo đức và kỹ năng sống để trở thành công dân có ích. Người lao động cần làm việc nghiêm túc, sáng tạo, góp phần tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Khi mỗi cá nhân sống có mục tiêu, có lý tưởng, đất nước sẽ có nguồn nhân lực vững mạnh để phát triển.
Bên cạnh đó, trách nhiệm bảo vệ đất nước không chỉ giới hạn trong thời chiến mà còn thể hiện rõ trong thời bình. Đó là ý thức chấp hành pháp luật, giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Mỗi hành động nhỏ như tuân thủ luật giao thông, không xả rác bừa bãi, lên án cái xấu, cái ác đều góp phần xây dựng một xã hội văn minh, an toàn.
Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, mỗi người cần có tinh thần cảnh giác, ý thức bảo vệ chủ quyền quốc gia, giữ gìn hình ảnh đất nước trước bạn bè quốc tế. Trách nhiệm ấy còn thể hiện ở lòng yêu nước chân chính, không thờ ơ trước những vấn đề chung của cộng đồng và dân tộc.
Là thế hệ trẻ, em nhận thức rõ rằng xây dựng và bảo vệ đất nước bắt đầu từ những việc làm thiết thực nhất: học tập tốt, sống có trách nhiệm, biết cống hiến và sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung. Khi mỗi người đều ý thức được trách nhiệm của mình, đất nước sẽ ngày càng giàu mạnh và bền vững.
Câu 1.
Bài thơ “Đề đền Sầm Nghi Đống” được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, gồm bốn câu, mỗi câu bảy chữ, niêm luật chặt chẽ.
Câu 2.
– Trợ từ được sử dụng trong bài thơ là từ “kìa”, có tác dụng thu hút sự chú ý, bộc lộ trực tiếp thái độ của người nói.
– Từ tượng hình là “cheo leo”, gợi hình ảnh cao, chênh vênh, không vững chắc.
Câu 3.
Những từ ngữ, cách nói thể hiện thái độ của nữ sĩ khi đi qua đền Sầm Nghi Đống là: “ghé mắt”, “trông ngang”, “kìa”, “đứng cheo leo”.
Qua những từ ngữ này có thể thấy thái độ của Hồ Xuân Hương là coi thường, khinh bỉ và mỉa mai. Bà không nhìn thẳng mà chỉ “ghé mắt”, “trông ngang”, cho thấy sự thiếu tôn trọng đối với kẻ thù xâm lược đã bại trận. Hình ảnh ngôi đền “đứng cheo leo” càng làm nổi bật sự nhỏ bé, tầm thường, đáng chê cười của đối tượng được thờ phụng.
Câu 4.
Trong hai câu thơ:
“Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo
Kìa đền Thái thú đứng cheo leo”
tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ đảo ngữ kết hợp với từ tượng hình. Cụm từ “đứng cheo leo” được đặt ở cuối câu nhằm nhấn mạnh trạng thái chông chênh, không vững vàng của ngôi đền. Qua đó, hình ảnh đền thờ trở nên nhỏ bé, lạc lõng, mang ý nghĩa châm biếm, chế giễu Sầm Nghi Đống – một viên tướng xâm lược thất bại thảm hại.
Câu 5.
Qua bài thơ, Hồ Xuân Hương gửi gắm thông điệp lên án kẻ xâm lược phương Bắc, khẳng định sự thất bại nhục nhã của chúng và bày tỏ niềm tự hào sâu sắc trước chiến thắng oanh liệt của dân tộc Việt Nam. Đồng thời, bài thơ còn thể hiện cá tính mạnh mẽ, giọng thơ sắc sảo và tinh thần yêu nước của nữ sĩ.
Trong xã hội hiện đại, giới trẻ được xem là lực lượng xung kích, là tương lai của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những bạn trẻ sống có lý tưởng, có trách nhiệm, vẫn còn một bộ phận giới trẻ mang lối sống vô trách nhiệm, gây ra nhiều hệ lụy đáng lo ngại cho bản thân, gia đình và xã hội.
Lối sống vô trách nhiệm trước hết được thể hiện ở thái độ sống thờ ơ, buông thả, thiếu ý thức với bản thân và cộng đồng. Nhiều bạn trẻ lười học, ngại lao động, chỉ chạy theo hưởng thụ, coi nhẹ việc trau dồi tri thức và đạo đức. Có người vô trách nhiệm với chính mình khi sa vào các tệ nạn xã hội, lối sống lệch lạc, không quan tâm đến tương lai. Có người lại vô trách nhiệm với gia đình khi không biết hiếu thảo, phụ giúp cha mẹ, chỉ biết đòi hỏi và hưởng thụ.
Không dừng lại ở đó, lối sống vô trách nhiệm còn thể hiện ở sự thờ ơ trước các vấn đề chung của xã hội. Nhiều bạn trẻ thiếu ý thức chấp hành pháp luật, vi phạm an toàn giao thông, xả rác bừa bãi, vô cảm trước nỗi đau hay khó khăn của người khác. Một số người chỉ quan tâm đến “thế giới ảo”, sống ích kỉ, chỉ nghĩ cho bản thân mà quên đi trách nhiệm công dân, trách nhiệm xây dựng cộng đồng.
Nguyên nhân của lối sống vô trách nhiệm xuất phát từ nhiều phía. Trước hết là do nhận thức chưa đầy đủ của một bộ phận giới trẻ về vai trò và trách nhiệm của bản thân. Bên cạnh đó, sự buông lỏng trong giáo dục gia đình, ảnh hưởng tiêu cực của mạng xã hội, lối sống thực dụng, chạy theo vật chất cũng góp phần làm cho nhiều bạn trẻ dễ sa ngã, thiếu bản lĩnh và mục tiêu sống đúng đắn.
Hậu quả của lối sống vô trách nhiệm là vô cùng nghiêm trọng. Với cá nhân, nó khiến con người đánh mất tương lai, sống vô nghĩa, thất bại trong cuộc sống. Với gia đình, đó là nỗi lo lắng, đau lòng. Với xã hội, lối sống này làm suy giảm chất lượng nguồn nhân lực, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước.
Trước thực trạng đó, mỗi bạn trẻ cần tự ý thức rèn luyện lối sống có trách nhiệm. Trách nhiệm với bản thân bằng cách học tập nghiêm túc, sống lành mạnh, có ước mơ và mục tiêu rõ ràng. Trách nhiệm với gia đình bằng sự yêu thương, hiếu thảo. Trách nhiệm với xã hội bằng việc chấp hành pháp luật, sống nhân ái, sẵn sàng cống hiến cho cộng đồng. Đồng thời, gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần quan tâm, định hướng, giáo dục để giúp giới trẻ hình thành nhân cách tốt đẹp.
Là một người trẻ trong thời đại mới, em nhận thức rõ rằng sống có trách nhiệm không chỉ là nghĩa vụ mà còn là thước đo giá trị của mỗi con người. Chỉ khi mỗi bạn trẻ biết sống có trách nhiệm, đất nước mới có thể phát triển bền vững và tương lai mới thực sự tươi sáng.
Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2.
Đối tượng trào phúng trong bài thơ là chính tác giả (Nguyễn Khuyến) – một kiểu tự trào, đồng thời qua đó phản ánh, phê phán con đường công danh, khoa cử và bản thân tầng lớp nho sĩ đương thời.
Câu 3.
- “Làng nhàng” có nghĩa là tầm thường, không nổi trội, không ra sao cả.
- Từ này thể hiện thái độ tự giễu, tự chê, xen lẫn chán chường, ngán ngẩm của tác giả về bản thân và cuộc đời.
Câu 4.
- Nghệ thuật trào phúng: ẩn dụ kết hợp nói quá, mỉa mai (lấy hình ảnh cờ bạc: “hết nước”, “chạy làng” để nói chuyện công danh).
- Tác dụng: chế giễu sự thất bại, bế tắc của con đường công danh, bộc lộ tâm trạng bất lực, chua chát của tác giả trước thời cuộc.
Câu 5.
Hai câu thơ thể hiện tâm trạng tự ý thức sâu sắc: tác giả tự thấy mình đáng “ngán”, nhưng lại chua chát nhận ra rằng bản thân vẫn mang danh người có học vị, có tên trên bia đá, bảng vàng. Đó là mâu thuẫn giữa danh vọng hình thức và giá trị thực, giữa vinh danh xã hội và nỗi trống rỗng trong lòng.
Câu 6.
Từ thông điệp bài thơ, giới trẻ ngày nay cần:
- Sống có lý tưởng, trách nhiệm, không chạy theo danh vọng hình thức.
- Rèn luyện tri thức, đạo đức, kỹ năng, gắn học tập với cống hiến thực chất.
- Chủ động sáng tạo, dấn thân, đóng góp bằng những việc làm cụ thể để xây dựng quê hương, đất nước.
Nhân dịp kỉ niệm ngày thành lập trường, lớp em đã có một chuyến tham quan đầy ý nghĩa đến hai di tích lịch sử nổi tiếng: Văn Miếu – Quốc Tử Giám ở Hà Nội và Cố đô Huế. Sáng hôm ấy, cả lớp háo hức tập trung, ai cũng mang theo máy ảnh và sổ ghi chép để lưu giữ những trải nghiệm quý giá.
Điểm dừng chân đầu tiên là Văn Miếu – Quốc Tử Giám, nơi thờ Khổng Tử và từng là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Em ấn tượng mạnh khi bước vào cổng chính, nhìn thấy các bia tiến sĩ xếp ngay ngắn, mỗi tấm bia là một câu chuyện về những con người xuất sắc của đất nước. Thầy cô hướng dẫn giải thích về lịch sử của Văn Miếu, về tri thức và truyền thống hiếu học của người Việt. Em cảm thấy tự hào và khâm phục những người xưa đã dạy học và nghiên cứu một cách nghiêm túc, cống hiến cho đất nước.
Sau đó, lớp chúng em tiếp tục hành trình đến Cố đô Huế, nơi lưu giữ dấu ấn của triều đại Nguyễn. Khi bước vào Hoàng thành, em như được trở về thời xưa, chứng kiến lăng tẩm nguy nga, kiến trúc cung điện uy nghiêm và những chiếc cổng gạch đỏ rêu phong. Tham quan từng phòng, từng điện, em cảm nhận được sự tài hoa của các kiến trúc sư xưa và sự khéo léo, tỉ mỉ trong từng chi tiết trang trí. Mỗi góc nhỏ đều khiến em ngỡ ngàng và muốn lưu giữ thật lâu trong trí nhớ.
Điều để lại ấn tượng sâu sắc nhất trong em không chỉ là cảnh đẹp hay kiến trúc, mà còn là những câu chuyện lịch sử gắn liền với hai nơi này. Em hiểu rằng việc học về lịch sử, về văn hóa dân tộc không chỉ giúp ta biết quá khứ, mà còn nhắc nhở mỗi người sống có trách nhiệm và trân trọng giá trị truyền thống. Khi chuyến đi kết thúc, cả lớp chụp những bức ảnh kỷ niệm và chia sẻ cảm xúc, ai cũng vui vẻ và tự hào về quê hương, đất nước. Đây thực sự là một chuyến tham quan đáng nhớ, để lại trong em nhiều kỷ niệm và bài học quý giá.
Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường.
Câu 2. Những hình ảnh thiên nhiên được nhắc đến trong bốn dòng thơ đầu: hoè lục đùn đùn; thạch lựu phun thức đỏ; hồng liên trì tiễn mùi hương.
(HS cũng có thể diễn đạt: hoa hoè sum suê, thạch lựu nở hoa đỏ chói; hoa sen đến mùa nở rộ;…)
Câu 3.
– Biện pháp đảo ngữ: từ “lao xao”, “dắng dỏi” được đảo lên đầu các dòng thơ “Lao xao chợ cá làng ngư phủ,/ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.”.
– Tác dụng:
+ Tạo nhạc điệu, gợi sự sôi nổi của đời sống.
+ Nhấn mạnh âm thanh sống động trong đời sống lao động của con người.
+ Làm nổi bật bức tranh mùa hè không chỉ có màu sắc, hương vị mà còn có âm thanh chân thực của con người và thiên nhiên.
Câu 4. Trong hai dòng thơ cuối, tác giả đã bộc lộ tình cảm, cảm xúc:
– Niềm mong ước thái bình: hình ảnh “Ngu cầm” gợi thời Nghiêu – Thuấn, nhân dân sống yên vui, hạnh phúc.
– Tình yêu thương nhân dân: ước muốn “dân giàu đủ khắp đòi phương” cho thấy tác giả lo cho đời sống muôn dân, không nghĩ riêng cho bản thân.
– Khát vọng nhân văn: Nguyễn Trãi gửi gắm tư tưởng “lấy dân làm gốc”, mong mỏi hạnh phúc chung cho xã hội.
=> Hai dòng thơ bộc lộ tình yêu dân, thương dân và khát vọng về một xã hội thái bình, nhân dân ấm no, hạnh phúc.
Câu 5.
– Chủ đề của bài thơ: Ca ngợi vẻ đẹp rực rỡ, sinh động của thiên nhiên ngày hè và thể hiện tấm lòng yêu đời, yêu dân, lo cho dân của Nguyễn Trãi.
– Căn cứ để xác định chủ đề:
+ Nhan đề của văn bản: “Cảnh ngày hè”.
+ Các từ ngữ miêu tả khung cảnh thiên nhiên; bộc lộ tình cảm, cảm xúc của tác giả.
+ Nội dung chính của các phần.
Câu 6.
Rút ra bài học trong việc giữ gìn tinh thần lạc quan, biết tận hưởng những điều bình dị quanh mình.Biết trân trọng những điều giản dị trong đời sống: cảnh vật, âm thanh, sắc màu quanh ta.Giữ cho mình tinh thần lạc quan, tìm thấy niềm vui ngay trong cuộc sống thường ngày, kể cả trong học tập, lao động.Sống chan hoà với thiên nhiên, biết bảo vệ và làm giàu đẹp môi trường sống.
Dòng thơ “Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng” gợi lên niềm tin và hy vọng về một mùa xuân mới, tượng trưng cho sự khởi đầu tươi sáng và đổi thay trong cuộc sống. Niềm hi vọng chính là nguồn động lực mạnh mẽ giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách. Khi ta có niềm tin vào tương lai tốt đẹp, dù gặp bao gian nan vẫn không dễ dàng bỏ cuộc. Niềm hi vọng giúp tâm hồn ta vững vàng, lạc quan và luôn hướng về phía trước. Chính vì thế, dù cuộc đời có nhiều biến động, ta vẫn cần giữ lấy niềm hi vọng để tìm thấy ý nghĩa và sức mạnh sống. Niềm hi vọng như ngọn đèn soi sáng trong bóng tối, giúp ta không ngừng nỗ lực và tin tưởng vào ngày mai.
– Tâm trạng của một nhà nho gắn bó với bao nỗi vui buồn của nhân dân giữa thời loạn lạc, đói rét, lầm than.
– Nỗi buồn bơ vơ, cô đơn của một nhà nho bất đắc chí giữa thời cuộc, chỉ có thể đứng nhìn cảnh chợ thưa thớt, người người đói khổ.
– Nhà thơ cũng khao khát, mong ước có một tín hiệu tốt đẹp trong năm mới để nhân dân thoát khỏi hoàn cảnh bi đát hiện tại.
Xung quanh thành phố Hà Nội có rất nhiều di tích lịch sử nổi tiếng. Và một trong số các di tích lịch sử của Hà Nội em đã có dịp ghé thăm chính là đền Cổ Loa.
Dịp Tết vừa rồi, em đã được cùng bố mẹ đến thăm khu di tích đề Cổ Loa cổ kính vào ngày đầu năm mới. Sáng Mùng 3 Tết, cả nhà cùng nhau sửa soạn để di chuyển sang huyện Đông Anh, xã Cổ Loa. Chỉ khoảng 40 phút di chuyển cả gia đình em đã tới nơi. Do không phải ngày chính hội nên khung cảnh xung quanh rất yên tĩnh, chỉ có một số du khách đến thăm quan đền đang làm thủ tục mua vé. Khung cảnh trước cổng đền rất đẹp. Giếng ngọc được bao quanh bởi một thảm cỏ xanh với những hàng cây tỏa bóng xuống mặt hồ xanh biêng biếc. Cổng chính của đền Cổ Loa vẫn còn lưu giữ được gần như toàn bộ những nét kiến trúc xưa. Thành Cổ Loa có rất nhiều tên gọi khác nhau như Loa thành (thành Ốc), thành Côn Lôn, thành Tư Long, Cửu thành, Thành Việt Vương, thành Khả Lũ, Cổ Loa thành. Đến thế kỷ thứ X, thời kỳ Ngô Quyền làm vua, Cổ Loa lại trở thành kinh đô lần thứ hai.
Trong khu di tích Cổ Loa hiện nay vẫn còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật, như khu đền Thượng thờ An Dương Vương, đền thờ tướng Cao Lỗ, am thờ công chúa Mỵ Châu và chùa Bảo Sơn… Trong các đền chùa còn có nhiều hiện vật khảo cổ được khai quật trong Thành cổ như tượng đồng, mũi tên đồng và các món đồ bằng sứ, đá, được chạm khắc tinh tế.
Sau khi dâng hương tưởng công lao dựng nước của các bậc tiền nhân, cầu mong bình an, cả gia đình em lại cùng đi dạo để vãn cảnh đền.
Chuyến đi thăm đền Cổ Loa vào ngày Tết quả thực đã để lại cho em rất nhiều ân tượng sâu sắc. Vừa được biết thêm nhiều về lịch sử của đất nước lại được ngắm nhìn những công trình kiến trúc từ thời xa xưa khiến em thêm yêu văn hóa đất nước mình hơn.
Sống hòa hợp với thiên nhiên giúp con người cảm nhận được vẻ đẹp bình dị và sự trong lành của cuộc sống. Khi gắn bó với thiên nhiên, con người trở nên thanh thản, yêu đời và biết trân trọng những điều giản dị quanh mình. Thiên nhiên không chỉ nuôi dưỡng thể chất mà còn bồi đắp tâm hồn, giúp con người sống nhân hậu và biết yêu thương hơn. Trong bài thơ “Chiều xuân ở thôn Trừng Mại”, con người và thiên nhiên cùng hòa quyện, tạo nên cuộc sống ấm no, yên bình. Vì vậy, sống hòa hợp với thiên nhiên chính là cách để con người tìm thấy niềm vui và hạnh phúc bền vững.