Nguyễn Long Nhật
Giới thiệu về bản thân
- Nếu là An, em sẽ khuyên bạn nên:
- Tiết kiệm tiền.
- Chi tiêu vào những việc hợp lí hơn.
- Lập kế hoạch chi tiêu.
- Lên các phương án dự phòng,...
- Nếu là An, em sẽ khuyên bạn nên:
- Tiết kiệm tiền.
- Chi tiêu vào những việc hợp lí hơn.
- Lập kế hoạch chi tiêu.
- Lên các phương án dự phòng,...
Câu 1:
Người chinh phụ trong đoạn trích hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho nỗi cô đơn và nhớ thương da diết của người vợ có chồng ra trận. Nàng sống trong cảnh mòn mỏi chờ tin, “trải mấy xuân tin đi tin lại, tới xuân này tin hãy vắng không”, thể hiện sự trông ngóng vô vọng và nỗi buồn dài dằng dặc theo năm tháng. Những hành động như “gieo bói tiền”, “dạo hiên vắng”, “ngồi rèm thưa”... cho thấy nàng không tìm được sự an ủi, quanh quẩn giữa nỗi nhớ thương và cô độc. Nỗi buồn ấy được khắc họa bằng giọng điệu mềm mại, man mác, khiến người đọc cảm nhận sâu sắc tình yêu thương, sự thủy chung và khát vọng đoàn tụ của người phụ nữ. Qua hình tượng người chinh phụ, tác giả bộc lộ niềm cảm thương sâu sắc cho thân phận người phụ nữ trong chiến tranh và lên án những cuộc chiến vô nghĩa đã cướp đi hạnh phúc lứa đôi.
Câu 2:
Chiến tranh là một trong những bi kịch lớn nhất của nhân loại. Mỗi khi tiếng súng vang lên, hàng triệu sinh mạng bị tước đoạt, hàng nghìn gia đình ly tán, và biết bao giá trị tốt đẹp bị chôn vùi trong khói lửa. Đọc Chinh phụ ngâm, ta càng thấm thía nỗi đau ấy qua hình ảnh người chinh phụ cô đơn, ngày ngày ngóng trông chồng nơi biên ải xa xôi. Từ đó, mỗi chúng ta – đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay – cần nhận thức sâu sắc những mất mát, đau thương do chiến tranh gây ra và trân trọng, gìn giữ cuộc sống hòa bình hiện tại.
Chiến tranh là xung đột vũ trang giữa các quốc gia hoặc phe phái, nhằm tranh giành quyền lực, lãnh thổ hay lợi ích. Nó kéo theo những mất mát không gì bù đắp nổi – từ sinh mạng con người, tài sản vật chất đến tinh thần và văn hóa. Trong chiến tranh, người lính ra trận phải đối mặt với cái chết, với nỗi xa cách gia đình và người thân. Ở hậu phương, người mẹ, người vợ, đứa con nhỏ phải sống trong lo lắng, mong chờ và nước mắt. Đất nước bị tàn phá, kinh tế kiệt quệ, văn hóa đình trệ, môi trường bị hủy hoại nặng nề. Ngay cả khi chiến tranh kết thúc, những vết thương tinh thần vẫn còn hằn sâu trong ký ức nhiều thế hệ.
Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh điều đó. Từ những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đến chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, bao lớp người đã ngã xuống để đất nước được độc lập, tự do. Họ là những người cha, người mẹ, người con – để lại sau lưng tuổi trẻ, tình yêu và ước mơ. Còn ngày nay, thế giới vẫn chưa hoàn toàn yên bình: chiến tranh ở Gaza, xung đột giữa Nga và Ukraina, hay nạn khủng bố ở nhiều nơi vẫn tiếp diễn. Điều đó cho thấy hòa bình vẫn là khát vọng chưa trọn vẹn của nhân loại.
Chiến tranh tước đi quyền sống trong an toàn và hạnh phúc của con người, phá vỡ những giá trị thiêng liêng của gia đình, tình yêu, hôn nhân, và kìm hãm sự phát triển của xã hội. Nó không chỉ làm tổn thương thể xác mà còn gieo vào lòng người nỗi ám ảnh, sợ hãi và hận thù. Chính vì vậy, hòa bình là điều quý giá nhất – là ước mơ, là mục tiêu mà toàn nhân loại luôn hướng tới.
Để gìn giữ hòa bình, mỗi người – đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay – cần có ý thức trách nhiệm và hành động cụ thể. Trước hết, phải nhận thức rõ giá trị của hòa bình, biết trân trọng những gì mình đang có. Tiếp đó, cần học tập, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, đóng góp trí tuệ và sức trẻ để xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh – bởi chỉ khi đất nước vững mạnh, hòa bình mới được bảo vệ bền lâu. Ngoài ra, thanh niên cần lan tỏa tinh thần nhân ái, yêu thương, phản đối bạo lực, chiến tranh, và tích cực tham gia các hoạt động vì cộng đồng, vì hòa bình.
Chiến tranh là nỗi đau của quá khứ, là lời nhắc nhở sâu sắc cho hiện tại và tương lai. Mỗi người chúng ta hãy biết yêu hòa bình, trân trọng cuộc sống, sống nhân hậu và có trách nhiệm, để không bao giờ phải chứng kiến những mất mát đau thương như người chinh phụ trong khúc ngâm năm xưa. Bởi hòa bình không chỉ là sự im tiếng súng, mà còn là niềm hạnh phúc, tình yêu và khát vọng sống của con người trên khắp hành tinh này.
Câu 1:
Thể thơ song thất lục bát.
Câu 2:
Dòng thơ cho thấy sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng của người chinh phụ: Thấy nhạn luống tưởng thư phong.
Câu 3:
− Nghĩ về người chồng đang chiến đấu nơi xa, người chinh phụ đã:
+ Sắm áo bông cho chồng.
+ Định "đề chữ gấm" để xin cho chồng được về nhà.
+ Gieo bói tiền.
− Nhận xét: Những hành động trên cho thấy:
+ Tình cảm yêu thương chân thành, sâu sắc mà người chinh phụ dành cho người chinh phu.
+ Sự lo lắng, quan tâm của người chinh phụ.
+ Sự mong mỏi, nhớ mong đến khắc khoải, bồn chồn của chinh phụ.
Câu 4:
- Biện pháp tu từ nhân hoá trong hai dòng thơ: Đèn có biết dường bằng chẳng biết, / Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.:
+ Biện pháp nhân hoá được thể hiện ở chỗ ngọn đèn − vốn là vật vô tri, vô giác song lại được miêu tả với những từ ngữ như "có biết" và "chẳng biết.
+ Tác dụng: Ngọn đèn ấy thường ngày vẫn luôn đồng hành cùng người chinh phụ, là người bạn duy nhất để người chinh phụ bày tỏ nỗi lòng bi thiết nỗi buồn rầu của mình. Thế nhưng dẫu ngọn đèn có biết nhưng nó cũng chỉ là vật vô tri, vô giác nên chẳng thể nào an ủi, vỗ về người chinh phụ. Chính vì thế, hình ảnh này vừa có tác dụng làm cho hình ảnh thơ trở nên sinh động, gần gũi hơn, vừa góp phần khắc hoạ sâu sắc nỗi cô đơn cùng cực của người chinh phụ khi không nhận được hồi âm của người chồng đang chinh chiến phương xa.
Câu 5:
− Trong văn bản này, người chinh phụ đã thể hiện tâm trạng: Buồn tủi, cô đơn, khắc khoải mong ngóng tin chồng, lo lắng cho an nguy của chồng nơi trận mạc.
- Qua tâm trạng ấy, em nhận ra giá trị to lớn của cuộc sống hòa bình hôm nay. Nhờ có hòa bình, con người được sống trong hạnh phúc, sum vầy, không phải chia ly, mất mát như người chinh phụ xưa. Vì thế, chúng ta cần biết trân trọng, giữ gìn và bảo vệ hòa bình, sống yêu thương và biết ơn những người đã hy sinh để có được cuộc sống yên bình hiện tại.
Câu 1:
Nhân vật bà má trong văn bản Bà má Hậu Giang là hình tượng tiêu biểu cho vẻ đẹp anh hùng, bất khuất và giàu lòng yêu nước của người phụ nữ Nam Bộ trong kháng chiến. Bà má xuất hiện với dáng vẻ giản dị của một người nông dân nhưng có tinh thần căm thù giặc sâu sắc và lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng. Khi bị giặc bắt, tra tấn dã man, bà vẫn gan góc, kiên cường, một mực không khai báo, sẵn sàng chịu chết để bảo vệ cán bộ, chiến sĩ cách mạng. Dù thân thể “lẩy bẩy như tàu chuối khô”, nhưng ý chí của bà vẫn cứng cỏi, không gì lay chuyển được. Ở bà còn toát lên niềm tin mãnh liệt vào cách mạng và thế hệ trẻ, những người sẽ tiếp nối con đường đấu tranh vì độc lập dân tộc. Tác giả khắc họa bà má bằng ngôn ngữ mộc mạc, đậm chất Nam Bộ, giàu cảm xúc và hình ảnh chân thực, khiến người đọc xúc động, khâm phục. Qua hình tượng ấy, bà má trở thành biểu tượng của người mẹ Việt Nam anh hùng – hiện thân cho phẩm chất cao quý, bất khuất và lòng yêu nước nồng nàn của phụ nữ Việt Nam trong thời chiến.
Câu 2:
Mỗi thời đại đều đặt ra cho thế hệ trẻ những sứ mệnh riêng, nhưng có một trách nhiệm thiêng liêng không bao giờ thay đổi – đó là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Câu chuyện về Bà má Hậu Giang đã để lại cho chúng ta bài học sâu sắc về tinh thần yêu nước, lòng dũng cảm và ý chí hi sinh vì đất nước. Trong thời đại hòa bình hôm nay, trách nhiệm ấy vẫn tiếp tục được trao cho thế hệ trẻ – những chủ nhân tương lai của dân tộc.
Trách nhiệm là bổn phận, là ý thức tự giác cống hiến cho cộng đồng, cho đất nước bằng năng lực và hành động của bản thân. Hiện nay, nhiều bạn trẻ đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao: nỗ lực học tập, làm việc sáng tạo, tích cực tham gia hoạt động tình nguyện, chung tay giúp đỡ cộng đồng. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận thanh niên thờ ơ, thiếu lí tưởng, sống buông thả, chỉ biết hưởng thụ cá nhân, làm tổn thương hình ảnh thế hệ trẻ Việt Nam.
Khi ý thức được trách nhiệm với Tổ quốc, mỗi người trẻ sẽ sống có mục tiêu, có lí tưởng, không ngừng học hỏi để hoàn thiện bản thân, góp phần đưa đất nước phát triển. Đó cũng là cách tiếp nối truyền thống yêu nước, bất khuất mà cha ông để lại. Mỗi người trẻ cần chăm chỉ học tập, trau dồi tri thức và kỹ năng, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tích cực tham gia hoạt động xã hội, sống nhân ái, sẻ chia, và luôn sẵn sàng bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ khi Tổ quốc cần.
Trách nhiệm với đất nước là niềm tự hào và sứ mệnh thiêng liêng của tuổi trẻ. Bản thân em nhận thấy cần phải sống có ước mơ, có hoài bão, nỗ lực học tập và rèn luyện mỗi ngày, để mai này có thể góp phần xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu đẹp, văn minh, xứng đáng với sự hi sinh của các thế hệ đi trước.
Câu 1:
Văn bản "Bà má Hậu Giang" được viết theo thể thơ song thất lục bát.
Câu 2:
Sự việc xảy ra trong văn bản: Một tên giặc xông vào túp lều, tra khảo và dùng bạo lực để bắt bà má khai chỗ ở của du kích.
Câu 3:
Những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc:
– Đạp rơi liếp mành, xông vào nhà dân một cách thô bạo.
– Tra khảo, rống hét, buộc bà má phải khai nơi ở của du kích.
– Đe doạ chém đầu khi bà má không khai.
– Đạp lên đầu bà má, dùng lưỡi gươm lạnh kề hông để uy hiếp.
* Nhận xét về nhân vật tên giặc:
– Tên giặc hiện lên với bản chất tàn bạo, hung hãn, mất nhân tính.
– Hắn là đại diện cho tội ác của kẻ thù xâm lược, gieo rắc đau thương và mất mát của nhân dân ta.
Câu 4:
– Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ là so sánh. Những người lính được so sánh với rừng đước và rừng chàm.
– Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh:
+ Khẳng định sức mạnh chiến đấu bền bỉ, dẻo dai, bất khuất của những người lính trong kháng chiến.
+ Thể hiện niềm tin, sự tự hào lớn lao của bà má về những người lính, người con của cách mạng.
+ Hình ảnh so sánh gần gũi, bình dị, tăng sức gợi hình, gợi cảm cho bài thơ.
Câu 5:
Tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc:
– Nhân dân dù gian khổ, hiểm nguy vẫn một lòng trung thành với cách mạng, sẵn sàng hi sinh để bảo vệ Tổ quốc.
– Tinh thần kiên cường, bất khuất được thể hiện ở chỗ không chùn bước trước mọi hiểm nguy, áp bức, sẵn sàng đối mặt với cái chết để bảo vệ lý tưởng.
– Lòng dũng cảm phi thường được thể hiện qua việc vượt lên nỗi sợ hãi bản năng để đứng vững, chống lại kẻ thù mạnh hơn nhiều lần.
Câu 1:
Nhân vật Lý Hữu Chi trong “Chuyện Lý tướng quân” là hình tượng tiêu biểu cho kẻ có quyền lực nhưng đạo đức suy đồi, coi thường đạo lí. Xuất thân là người nông dân nghèo, nhờ sức khỏe và tài đánh trận, Lý được tiến cử làm tướng quân – một vị trí được nhiều người kính trọng. Thế nhưng, khi có quyền thế trong tay, hắn liền trở nên kiêu ngạo, hung bạo, sống tham lam và ích kỉ. Lý kết thân với bọn trộm cướp, chiếm đoạt ruộng đất, bắt dân phục dịch khổ cực mà không hề động lòng thương xót. Khi được thầy tướng khuyên răn về hậu quả của việc làm ác, hắn vẫn ngạo mạn, cho rằng sức mạnh của mình có thể vượt qua cả trời đất. Chính sự mù quáng, cậy quyền và không biết hối cải ấy đã khiến hắn phải chịu những hình phạt ghê gớm nơi âm phủ. Qua nhân vật này, Nguyễn Dữ muốn gửi gắm bài học đạo đức sâu sắc: con người phải biết sống thiện lương, khiêm nhường, nếu buông thả theo lòng tham và cái ác thì sớm muộn cũng sẽ bị quả báo, không thể thoát khỏi quy luật công bằng của trời đất.
Câu 2:
Trong cuộc sống, ai cũng có ước muốn được hạnh phúc, đủ đầy, nhưng khi ham muốn vượt quá giới hạn, biến thành lòng tham, nó trở thành con dao hai lưỡi có thể hủy hoại cả nhân cách con người. Câu chuyện về Lý Hữu Chi trong “Chuyện Lý tướng quân” là lời cảnh tỉnh thấm thía về hậu quả nặng nề của lòng tham không đáy.
Lòng tham khiến con người trở nên mù quáng và ích kỉ. Vì muốn có nhiều hơn, người ta dễ dàng chà đạp lên đạo lí, sẵn sàng làm điều sai trái để đạt được mục đích. Lý Hữu Chi, khi có trong tay quyền lực, đã không biết dùng nó để giúp dân mà lại lợi dụng để chiếm đoạt, áp bức, thỏa mãn dục vọng cá nhân. Cuối cùng, hắn phải chịu sự trừng phạt khủng khiếp ở âm phủ – một kết cục tất yếu cho kẻ tàn bạo và tham lam. Trong đời sống hôm nay, lòng tham cũng biểu hiện dưới nhiều hình thức: tham tiền bạc mà gian lận, lừa gạt; tham điểm số mà quay cóp, gian dối trong thi cử; tham danh vọng mà sẵn sàng nói xấu, hạ thấp người khác. Những hành động ấy tuy có thể mang lại lợi ích trước mắt, nhưng về lâu dài, nó khiến con người đánh mất nhân cách, niềm tin và sự tôn trọng từ mọi người xung quanh. Một xã hội mà con người chỉ biết chạy theo lòng tham thì sẽ không còn tình thương, không còn công bằng và đạo đức sẽ dần bị bào mòn.
Để hạn chế và loại bỏ lòng tham, trước hết mỗi người cần học cách biết đủ, sống giản dị, trung thực và hướng thiện. Nhà trường, gia đình phải giáo dục cho thế hệ trẻ hiểu rõ giá trị của lao động chân chính, rèn luyện đạo đức và biết sống vì người khác. Bên cạnh đó, xã hội cần có những biện pháp mạnh mẽ để xử lý nghiêm minh những hành vi tham lam, vụ lợi, nhằm giữ gìn sự công bằng và lẽ phải.
Tóm lại, lòng tham là cội nguồn của nhiều tội lỗi và đau khổ trong cuộc sống. Mỗi người cần biết kiểm soát ham muốn, sống lương thiện, biết sẻ chia, trân trọng những gì mình đang có. Chỉ khi con người biết dừng lại đúng lúc và sống bằng trái tim chân thành, cuộc sống mới thật sự bình an, hạnh phúc và đáng quý.
Câu 1:
Văn bản "Chuyện Lý tướng quân" thuộc thể loại truyện truyền kì
Câu 2:
Câu chuyện được kể theo ngôi thứ ba
Câu 3:
Nhân vật chính trong truyện là Lý Hữu Chi
Câu 4:
Chi tiết hoang đường, kì ảo trong truyện là việc "Thúc Khoản được dẫn xuống âm phủ chứng kiến cảnh cha mình bị xử tội."
Tác dụng: chi tiết này giúp câu chuyện thêm hấp dẫn và thể hiện rõ quan niệm “thiện ác hữu báo” – làm điều ác sẽ bị trừng phạt, làm điều thiện sẽ được đền đáp.
Câu 5:
Câu chuyện “Chuyện Lý tướng quân” thể hiện rõ quan niệm nhân quả của dân gian: làm ác sẽ gặp ác báo, làm thiện sẽ được hưởng phúc. Nhân vật Lý Hữu Chi vì tham lam, tàn bạo mà phải chịu hình phạt nặng nề nơi âm phủ. Qua đó, truyện khuyên con người phải sống lương thiện, biết yêu thương và giúp đỡ người khác. Em rút ra bài học rằng không nên vì tiền tài, danh lợi mà làm điều sai trái. Chỉ khi sống ngay thẳng, làm việc tốt thì mới có cuộc sống hạnh phúc và bình an.
Gọi \(x\) (đồng) là giá niêm yết của mặt hàng A và \(y\) (đồng) là giá niêm yết của mặt hàng B
( \(x > 0 , \textrm{ }\textrm{ } y > 0\))
Mặt hàng A giảm 20% nên giá bán là \(0,8 x\) đồng.
Mặt hàng B giảm 15% nên giá bán là \(0,85 y\) đồng.
Khách mua 2 mặt hàng A và 1 mặt hàng B nên phải trả:
\(2 \times 0,8 x + 1 \times 0,85 y = 362000\)Trong khung giờ vàng, mặt hàng A giảm 30% nên giá bán là \(0,7 x\),
mặt hàng B giảm 25% nên giá bán là: \(0,75 y\).
Khách mua 3 mặt hàng A và 2 mặt hàng B nên phải trả:
\(3 \times 0,7 x + 2 \times 0,75 y = 552000\) \(\Rightarrow 2,1 x + 1,5 y = 552000 \left(\right. 2 \left.\right)\)Từ (1):
\(0,85 y = 362000 - 1,6 x \Rightarrow y = \frac{362000 - 1,6 x}{0,85}\)Thay vào (2):
\(2,1 x + 1,5 \times \frac{362000 - 1,6 x}{0,85} = 552000\) \(2,1 x + \frac{1,5 \left(\right. 362000 - 1,6 x \left.\right)}{0,85} = 552000\) \(2,1 x + 1,764 \left(\right. 362000 - 1,6 x \left.\right) = 552000\) \(2,1 x + 638000 - 2,822 x = 552000\) \(- 0,722 x = - 86000 \Rightarrow x = 120000\)Thay \(x = 120000\) vào (1):
\(1,6 \times 120000 + 0,85 y = 362000\) \(192000 + 0,85 y = 362000 \Rightarrow 0,85 y = 170000 \Rightarrow y = 200000\)Vậy giá niêm yết của mặt hàng A là 120 000 đồng và của mặt hàng B là 200 000 đồng.
a) Xét ΔKBC vuông tại K và ΔHDC vuông tại H có
\(\hat{K B C} = \hat{H D C}\)(ABCD là hình bình hành)
Do đó: ΔKBC~ΔHDC
=>\(\frac{C K}{C H} = \frac{C B}{C D} = \frac{C B}{B A}\)
=>\(\frac{C K}{C B} = \frac{C H}{B A}\)
Xét ΔCKH và ΔBCA có
\(\frac{C K}{B C} = \frac{C H}{B A}\)
\(\hat{K C H} = \hat{C B A} \left(\right. = \hat{A D C} \left.\right)\)
Do đó: ΔCKH~ΔBCA
b) ΔCKH~ΔBCA
=>\(\frac{K H}{C A} = \frac{C K}{C B} = s i n B\)
mà \(s i n B = s i n B A D \left(\right. \hat{B} + \hat{B A D} = 18 0^{0} \left.\right)\)
nên \(\frac{K H}{A C} = s i n B A D\)
suy ra \(K H = A C \cdot s i n B A D\)