Dương Thanh Huyền

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Dương Thanh Huyền
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1.
Văn bản được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2.
Một tên lính Tây xông vào lều tranh của bà má Hậu Giang, tra khảo, đe dọa để hỏi du kích ở đâu. Bà má kiên quyết không khai, thà chết chứ không phản bội các con chiến sĩ.

Câu 3.
Hành động độc ác: dùng gươm đe dọa, tra hỏi, chửi mắng, đạp lên đầu bà má.
Nhận xét: Tên giặc hung hãn, tàn bạo, mất nhân tính.

Câu 4.
Biện pháp tu từ: so sánh (Con tao… như rừng đước…, như rừng chàm…).
Tác dụng: làm nổi bật sức mạnh, sự kiên cường, dũng cảm của lực lượng du kích; khắc họa niềm tin, tự hào mãnh liệt của bà má vào con em mình; gợi sắc thái đậm chất Nam Bộ.

Câu 5.
Hình tượng bà má thể hiện tấm lòng yêu nước sâu sắc và tinh thần bất khuất của nhân dân ta trong kháng chiến. Dù không trực tiếp cầm súng, bà vẫn sẵn sàng hy sinh để bảo vệ du kích, căm thù quân xâm lược, một lòng hướng về độc lập tự do. Qua đó, em hiểu rằng nhân dân Việt Nam giàu lòng yêu nước, kiên cường, đoàn kết; thế hệ trẻ hôm nay cần biết ơn, trân trọng và tiếp nối tinh thần ấy bằng học tập, rèn luyện và hành động có ích cho đất nước.


Câu 1.
Văn bản trên thuộc thể loại truyền kì.

Câu 2.
Ngôi kể: ngôi thứ ba.

Câu 3.
Nhân vật chính: Lý Hữu Chi (Lý tướng quân).
Tính cách: ban đầu có tài, giỏi đánh trận; về sau tham lam, tàn bạo, kiêu ngạo, mê sắc đẹp, xem thường nho sĩ, ỷ quyền làm điều bạo ngược, không nghe lời khuyên.

Câu 4.
Chi tiết hoang đường, kì ảo: Thúc Khoản được dẫn xuống Minh Ti xem cảnh xét xử và cảnh Lý Hữu Chi bị trừng phạt (lò lửa, vạc dầu,…).
Tác dụng: tăng tính hấp dẫn, thể hiện quan niệm nhân quả, thiện ác báo ứng, bộc lộ thái độ và tư tưởng đạo đức của tác giả.

Câu 5.
Văn bản thể hiện quan niệm: làm ác sẽ chịu báo ứng, không thoát khỏi lẽ trời. Qua đó nhắc nhở con người phải sống nhân hậu, khiêm nhường, không ỷ quyền làm điều xấu. Bản thân em rút ra bài học: cần sống lương thiện, tôn trọng người khác và tránh tham lam, tàn bạo.

Câu 1.
Thể thơ: song thất lục bát.


Câu 2.
Dòng thơ thể hiện sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng:
“Trải mấy xuân tin đi tin lại,
Tới xuân này tin hãy vắng không.”

Câu 3.
Nghĩ về người chồng đang chiến đấu nơi xa, người chinh phụ: chuẩn bị áo bông, mở thư gấm, gieo bói tiền, trông nhạn đưa thư, dạo hiên, ngồi rèm chờ tin.
Nhận xét: Những hành động ấy vô vọng, thể hiện nỗi nhớ thương, lo lắng, mong ngóng khắc khoải.


Câu 4.
Biện pháp tu từ ấn tượng: nhân hóa ở câu “Đèn có biết dường bằng chẳng biết”.
Tác dụng: làm nổi bật nỗi cô đơn tuyệt vọng của người chinh phụ; nàng gửi nỗi lòng vào vật vô tri, làm tăng tính gợi cảm và buồn thương.


Câu 5.
Tâm trạng của người chinh phụ: buồn tủi, cô đơn, nhớ thương, mong ngóng, lo sợ cho chồng; chán nản vì không có tin tức.
Suy nghĩ: Qua đó thấy giá trị của cuộc sống hòa bình; hòa bình giúp con người được đoàn tụ, hạnh phúc, tránh cảnh chia ly; cần trân trọng và giữ gìn hòa bình.