Nguyễn Thị Quỳnh Trang

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Thị Quỳnh Trang
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

1) Fe + CuSO4 → FeSO4 + Cu

(2) Fe + Fe2(SO4)3 → 3FeSO4

(3) Fe + 2AgNO3 → Fe(NO3)2 + 2Ag

(4) Fe + Pb(NO3)2 →  Fe(NO3)2 + Pb

Gang và thép đều là hợp kim của sắt, trong đó:

- Gang: 95% sắt, 2 - 5% carbon, còn lại là các nguyên tố khác.

- Thép: ít hơn 2% carbon và một số nguyên tố khác như chromium, manganese, silicon,...

Câu 1,

Bài thơ “Khán “Thiên gia thi” hữu cảm” của Hồ Chí Minh không chỉ là những dòng cảm nhận khi đọc thơ cổ mà còn là một tuyên ngôn nghệ thuật độc đáo. Chỉ với bốn câu thơ ngắn gọn theo thể thất ngôn tứ tuyệt, Bác đã vạch ra chức năng mới của thơ ca thời đại. Hai câu đầu, “Cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ, / Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong”, miêu tả đặc điểm thơ cổ thường thiên về tả cảnh đẹp, ca tụng thiên nhiên, trăng gió, mây núi. Tuy nhiên, ở hai câu sau, bằng nhãn quan của một chiến sĩ cách mạng, Bác chuyển sang khẳng định: “Hiện đại thi trung ưng hữu thiết, / Thi gia dã yếu hội xung phong”. Chữ “thiết” (thép) được coi là ẩn dụ cho ý chí chiến đấu, tinh thần cứng cỏi, trong khi “xung phong” thể hiện tư thế chủ động, người nghệ sĩ không đứng ngoài cuộc mà là chiến sĩ cầm bút, góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Bài thơ thể hiện quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh, thơ ca phải gắn liền với thực tại và sức mạnh chiến đấu.

Câu 2

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống là "hồn cốt" dân tộc, đặc biệt quan trọng với giới trẻ. Dù có xu hướng "sính ngoại", nhiều người trẻ vẫn đang sáng tạo, lan tỏa bản sắc thông qua công nghệ, nghệ thuật, đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại để bảo tồn văn hóa Việt. Văn hóa truyền thống là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần (phong tục, lễ hội, ngôn ngữ, áo dài...) được cha ông đúc kết qua hàng nghìn năm. Đối với thế hệ trẻ, việc giữ gìn những giá trị này không chỉ là bảo vệ di sản mà còn là định hình danh tính, giúp tránh nguy cơ bị "hòa tan" giữa các nền văn hóa khác.  Thực tế hiện nay cho thấy hai mảng màu đối lập. Một bộ phận không nhỏ giới trẻ đang mải mê chạy theo các trào lưu nước ngoài, dửng dưng với các giá trị truyền thống, thậm chí làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt. Tuy nhiên, một tín hiệu tích cực là nhiều người trẻ năng động đã và đang nỗ lực đưa văn hóa truyền thống trở lại. Chúng ta thấy áo dài, cổ phục Việt được diện trong các dịp lễ, sự kiện; những dự án âm nhạc dân gian kết hợp hiện đại thu hút hàng triệu lượt xem; các dự án như "Việt Sử Kiêu Hùng" hay các kênh Tik Tok tìm hiểu di sản lan tỏa mạnh mẽ. Họ dùng công nghệ để “thổi hồn” vào những nét văn hóa cổ xưa, chứng minh rằng truyền thống không hề thức giữ gìn văn hóa bắt đầu từ những hành động nhỏ: trân trọng tiếng Việt, tìm hiểu lịch sử, tôn trọng phong tục, và lên án những hành vi làm mai một văn hóa dân tộc. Giới trẻ cần hiểu rằng, muốn hòa nhập mà không “hòa tan”, chúng ta phải giữ được “bản sắc” của mình.  Tóm lại, thế hệ trẻ là người nắm giữ chìa khóa tương lai của văn hóa dân tộc. Hãy yêu, bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống bằng sự sáng tạo của tuổi trẻ, để bản sắc Việt Nam tỏa sáng và trường tồn theo thời gian.

Câu 1. 

Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.

Câu 2. 

Căn cứ vào chữ thứ hai của dòng thơ thứ nhất là chữ “thi” – luật bằng, suy ra bài thơ được triển khai theo luật bằng

Câu 3.

Biện pháp tu từ liệt kê được thể hiện qua việc tác giả chỉ ra những sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên được đưa vào thơ cổ: Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong. Phép liệt kê được sử dụng ở đây có tác dụng làm rõ cho quan điểm Cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ mà tác giả đưa ra trước đó. 

Câu 5:

Bài thơ có kết cấu chặt chẽ, vừa tương phản, đối lập, vừa hài hòa, thống nhất. Đặt thơ xưa với thơ nay trong sự đối lập, tác giả không nhằm hạ thấp thơ xưa, trái lại Người rất trân trọng, yêu thích thơ xưa, nhưng Người không đồng tình với quan điểm sáng tác đó. Nên Người đã nêu lên quan niệm nghệ thuật của mình về thơ nay – cần có “chất thép” ở trong thơ, để thơ ca trở thành một thứ vũ khí sắc bén, còn anh chị em sáng tác sẽ là một chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, văn nghệ. 

Khi đưa nam châm lại gần khung dây, từ thông qua khung dây tăng, dòng điện cảm ứng xuất hiện trong khung dây gây ra từ trường cảm ứng ngược chiều với từ trường ngoài (để chống lại sự tăng của từ thông qua khung dây) nên dòng điện cảm ứng chạy trên cạnh AB theo chiều từ B đến A (theo quy tắc nắm tay phải).

a) Khi chưa dùng máy tăng thế, hiệu điện thế đưa lên đường dây là 500 V.

Công suất hao phí trên đường dây là

\(P_{h p} = \frac{P^{2}}{U^{2}} R = \frac{50000^{2}}{500^{2}} . 4 = 40000\) W = 40 kW

Hiệu suất truyền tải là

\(H = \frac{P - P_{h p}}{P} = \frac{50000 - 40000}{50000} = 20\)%

Độ giảm thế trên đường dây:

\(\Delta U = I R = \frac{P}{U} R = \frac{50000}{500} . 4 = 400\) V

Hiệu điện thế tại nơi tiêu thụ điện là

\(U^{'} = U - \Delta U = 500 - 400 = 100\) V

b) Khi dùng máy tăng thế với tỉ số vòng dây 0,1, hiệu điện thế đưa lên đường dây được tăng lên 10 lần, tức là 5000 V.

Công suất hao phí trên đường dây khi đó là

\(P_{h p} = \frac{P^{2}}{U_{2}^{2}} R = \frac{50000^{2}}{5000^{2}} . 4 = 400\) W

Hiệu suất truyền tải là

\(H = \frac{P - P_{h p}}{P} = \frac{50000 - 400}{50000} = 99 , 2\)%

Độ giảm thế trên đường dây:

\(\Delta U = I R = \frac{P}{U} R = \frac{50000}{5000} . 4 = 40\) V

Hiệu điện thế tại nơi tiêu thụ điện là

\(U^{'} = U - \Delta U = 5000 - 40 = 4960\) V

a) Cường độ dòng điện chạy qua dây dẫn là

\(I = \frac{n q}{t} = \frac{10^{18} . 1 , 6.10^{- 19}}{1} = 0 , 16\) A

b) Độ lớn của lực từ tác dụng lên dây dẫn là

\(F = B I ℓ sin ⁡ \alpha = 5.10^{- 3} . 0 , 16.0 , 5. sin ⁡ 90^{o} = 4.10^{- 4}\)N

Câu 1. 

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên là: Biểu cảm, tự sự, miêu tả.

Câu 2. 

Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích là:

- Những người đàn ông bị bắt đi lính, chẳng may gặp cảnh buổi chiến trận mạng người như rác, mà bỏ mạng nơi sa trường. 

- Những người đàn bà vì dòng đời lận đận mà phiêu bạt tới chốn lầu xanh.

Câu3:

những từ láy được sử dụng trong hai câu thơ: lập lòe (từ láy tượng hình), văng vẳng (từ láy tượng thanh). 

-  hiệu quả của việc sử dụng từ láy trong hai câu thơ:

+ Khắc họa trạng thái của sự vật: lập lòe gợi ánh sáng khi mờ khi tỏ (ý chỉ linh hồn của những người lính chết trận); văng vẳng gợi âm thanh vọng lại từ xa, không rõ ràng (ý chỉ tiếng ai oán của những vong linh ấy). 

+ Nhấn mạnh lòng thương xót của Nguyễn Du dành cho những người lính chết oan uổng nơi sa trường lạnh lẽo. 

Câu 4. 

- Chủ đề: Sự đáng thương của những kiếp người nhỏ bé.

- Cảm hứng chủ đạo: Xuyên suốt đoạn trích là tấm lòng thương cảm, xót xa của Nguyễn Du đối với những kiếp người nhỏ bé, đáng thương, khổ sở. 

Câu 5. 


- Truyền thống nhân đạo là truyền thống quý báu và lâu đời của dân tộc ta. 

- Biểu hiện:

+ Thành ngữ, tục ngữ, ca dao: Thương người như thể thương thân, Lá lành đùm lá rách, Nhiễu điều phủ lấy giá gương/Người trong một nước phải thương nhau cùng,...

+ Trong Văn tế thập loại chúng sinh: Truyền thống nhân đạo được thể hiện qua tình yêu thương, sự đồng cảm, xót xa mà Nguyễn Du dành cho những kiếp người khốn cùng, khổ sở.

+ HS chỉ ra một số biểu hiện của truyền thống nhân đạo trong đời sống hiện nay: Các chương trình, hoạt động quyên góp, thiện nguyện hàng năm của các tổ chức, tập thể; tinh thần tương trợ giúp đỡ người gặp nạn của nhân dân ta. (Tìm dẫn chứng cụ thể, người thật việc thật trong cuộc sống)

- Ý nghĩa của truyền thống nhân đạo: 

+ Giúp con người thấu hiểu, đồng cảm với nhau hơn.

+ Giúp cho cuộc đời thêm ý nghĩa, đẹp đẽ. 

- Cho đến ngày hôm nay, truyền thống này vẫn tiếp tục được duy trì và phát huy.


Câu 1:

Nhân vật bé Gái trong truyện Nhà nghèo là hình ảnh tiêu biểu cho những đứa trẻ sống trong hoàn cảnh khó khăn nhưng giàu tình yêu thương và đức hi sinh. Bé Gái tuy còn nhỏ tuổi nhưng rất hiểu chuyện, biết lo lắng cho cha mẹ và em nhỏ. Em nhường phần ăn ngon cho em trai, biết giúp đỡ cha mẹ trong công việc, thể hiện tấm lòng hiếu thảo, nhân hậu và vị tha. Dù nghèo khổ, bé Gái vẫn giữ được tâm hồn trong sáng, nhân cách cao đẹp. Nhân vật giúp người đọc nhận ra rằng trong nghèo khó, con người vẫn có thể sống đẹp, biết yêu thương và chia sẻ. Qua bé Gái, tác giả muốn gửi gắm thông điệp về giá trị của tình thương, lòng nhân ái và nghị lực sống – những điều quý hơn vật chất.

Câu 2:

Trong xã hội hiện nay, bạo lực gia đình vẫn là một vấn đề đáng lo ngại, để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với sự phát triển của trẻ em. Gia đình là nơi yêu thương, che chở và nuôi dưỡng tâm hồn con trẻ. Thế nhưng, khi trong gia đình tồn tại bạo lực – cả thể chất lẫn tinh thần, trẻ em sẽ chịu tổn thương sâu sắc.

Bạo lực khiến các em sống trong sợ hãi, mất niềm tin, ảnh hưởng đến học tập và khả năng giao tiếp. Nhiều em trở nên trầm lặng, tự ti, thậm chí có em bị lệch lạc trong nhân cách, hình thành thói quen dùng bạo lực để giải quyết vấn đề. Đó là những vết thương không dễ xóa trong tâm hồn trẻ.

Nguyên nhân của bạo lực gia đình có thể từ áp lực kinh tế, thiếu hiểu biết, hoặc lối sống gia trưởng. Dù vì lý do gì, hành vi bạo lực với trẻ đều không thể chấp nhận được.

Để khắc phục, mỗi người lớn cần ý thức được trách nhiệm yêu thương và bảo vệ trẻ em, xây dựng môi trường gia đình an toàn, hạnh phúc. Nhà trường và xã hội cũng cần tuyên truyền, hỗ trợ, can thiệp kịp thời với các trường hợp bạo lực.

Trẻ em là tương lai của đất nước, các em chỉ có thể phát triển toàn diện khi được sống trong môi trường yêu thương, tôn trọng. Mỗi gia đình, mỗi người lớn hãy trở thành tấm gương nhân ái, để mọi đứa trẻ đều được lớn lên trong hạnh phúc, không còn bóng dáng của bạo lực.




Câu 1:

Nhân vật bé Gái trong truyện Nhà nghèo là hình ảnh tiêu biểu cho những đứa trẻ sống trong hoàn cảnh khó khăn nhưng giàu tình yêu thương và đức hi sinh. Bé Gái tuy còn nhỏ tuổi nhưng rất hiểu chuyện, biết lo lắng cho cha mẹ và em nhỏ. Em nhường phần ăn ngon cho em trai, biết giúp đỡ cha mẹ trong công việc, thể hiện tấm lòng hiếu thảo, nhân hậu và vị tha. Dù nghèo khổ, bé Gái vẫn giữ được tâm hồn trong sáng, nhân cách cao đẹp. Nhân vật giúp người đọc nhận ra rằng trong nghèo khó, con người vẫn có thể sống đẹp, biết yêu thương và chia sẻ. Qua bé Gái, tác giả muốn gửi gắm thông điệp về giá trị của tình thương, lòng nhân ái và nghị lực sống – những điều quý hơn vật chất.

Câu 2:

Trong xã hội hiện nay, bạo lực gia đình vẫn là một vấn đề đáng lo ngại, để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với sự phát triển của trẻ em. Gia đình là nơi yêu thương, che chở và nuôi dưỡng tâm hồn con trẻ. Thế nhưng, khi trong gia đình tồn tại bạo lực – cả thể chất lẫn tinh thần, trẻ em sẽ chịu tổn thương sâu sắc.

Bạo lực khiến các em sống trong sợ hãi, mất niềm tin, ảnh hưởng đến học tập và khả năng giao tiếp. Nhiều em trở nên trầm lặng, tự ti, thậm chí có em bị lệch lạc trong nhân cách, hình thành thói quen dùng bạo lực để giải quyết vấn đề. Đó là những vết thương không dễ xóa trong tâm hồn trẻ.

Nguyên nhân của bạo lực gia đình có thể từ áp lực kinh tế, thiếu hiểu biết, hoặc lối sống gia trưởng. Dù vì lý do gì, hành vi bạo lực với trẻ đều không thể chấp nhận được.

Để khắc phục, mỗi người lớn cần ý thức được trách nhiệm yêu thương và bảo vệ trẻ em, xây dựng môi trường gia đình an toàn, hạnh phúc. Nhà trường và xã hội cũng cần tuyên truyền, hỗ trợ, can thiệp kịp thời với các trường hợp bạo lực.

Trẻ em là tương lai của đất nước, các em chỉ có thể phát triển toàn diện khi được sống trong môi trường yêu thương, tôn trọng. Mỗi gia đình, mỗi người lớn hãy trở thành tấm gương nhân ái, để mọi đứa trẻ đều được lớn lên trong hạnh phúc, không còn bóng dáng của bạo lực.