Nguyễn Phương Nam

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Phương Nam
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1. (2 điểm)

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn

– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.

– Thí sinh có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành. 

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích bài thơ ở phần Đọc hiểu.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận

– Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: 

+ Là người cha yêu thương con sâu sắc, suốt đời suy nghĩ vì con: 

   ++ Vì muốn con được đặt chân vào giới quý tộc để con cái mình nhận được sự kính trọng trong xã hội, ông đã gả hai con cho những người quý tộc giàu có.

   ++ Dù nhận ra các con không yêu thương mình thật lòng nhưng vẫn cho các con thứ chúng muốn. 

   ++ Đến tận lúc chết vẫn lo cho con, vẫn muốn làm việc để kiếm tiền cho hai cô con gái.

+ Nhận xét:

   ++ Yêu thương con lầm lạc, mù quáng. 

   ++ Kết cục là phải ra đi trong sự thờ ơ, lạnh nhạt của hai cô con gái. 

d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau

– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.

– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.

– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. 

đ. Diễn đạt

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. 

e. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

Câu 2. (4 điểm)

a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài

Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Trình bày suy nghĩ của em về sự xa cách giữa cha mẹ và con cái trong xã hội hiện đại. 

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận

– Xác định được các ý chính của bài viết.

– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:

* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.

* Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận: 

– Thực trạng: Ngày nay mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái ngày càng xa cách.

– Biểu hiện:

+ Cha mẹ, con cái ít chia sẻ, giao tiếp với nhau trong cuộc sống hằng ngày.

+ Con cái dành quá nhiều thời gian cho các thiết bị điện tử, mạng xã hội, ít tương tác với gia đình. 

+ ...

– Nguyên nhân:

+ Cha mẹ bận bịu với guồng quay công việc trong đời sống hối hả ngày nay.

+ Sự phát triển nhanh chóng, đa dạng của các phương tiện truyền thông, sản phẩm công nghệ.

+ Sự khác biệt về quan điểm sống, lối sống giữa hai thế hệ.

+ Quan điểm giáo dục của bố mẹ chưa phù hợp khi áp đặt, thiếu tôn trọng ý kiến của con cái. 

– Hậu quả: 

+ Ảnh hưởng đến tâm lí con cái: Cảm giác cô đơn, thiếu thốn tình cảm, dễ bị tổn thương, có thể dẫn đến các vấn đề tâm lý như trầm cảm, lo âu.

+ Ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của con cái: Thiếu sự định hướng, giáo dục từ cha mẹ, con cái dễ bị ảnh hưởng bởi những yếu tố tiêu cực từ xã hội.

+ Ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình: Mâu thuẫn, xung đột gia tăng, không khí gia đình căng thẳng, ngột ngạt.

+ Ảnh hưởng đến xã hội: Các vấn đề xã hội như bạo lực gia đình, tội phạm vị thành niên có thể xuất phát từ sự xa cách trong gia đình.

– Giải pháp:

+ Cha mẹ cần dành nhiều thời gian để quan tâm, chăm sóc, trò chuyện cùng con cái.

+ Con cái cũng cần chủ động giúp đỡ, bày tỏ tình cảm với cha mẹ.

+ Cha mẹ, con cái cần có sự tôn trọng nhau. 

+ Tăng cường những bữa ăn, hoạt động gia đình để tăng sự gắn kết giữa các thành viên.

+ Nhà trường, xã hội cần đẩy mạnh giáo dục kĩ năng sống, kĩ năng giao tiếp cho các con; hỗ trợ cha mẹ trong việc giao tiếp, chia sẻ, định hướng cho các con. 

* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.

d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau

– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.

– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.

– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. 

đ. Diễn đạt

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. 

e. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

Câu 1. 

Ngôi kể: Ngôi thứ ba.

Câu 2. 

Đề tài: Tình phụ tử.

Câu 3. 

– HS bộc lộ suy nghị, cảm xúc của bản thân về lời nói của lão Goriot với Rastignac và có những lí giải hợp lí. 

– Lời nói của lão Goriot thể hiện những điều sau: 

+ Lão dặn dò Rastignac phải hiếu thảo với cha mẹ chàng vì lão hiểu được sự bất hạnh của người làm cha, làm mẹ khi không được con cái yêu thương, kề cận. 

+ Lời dặn dò thể hiện nỗi đau đớn, xót xa khi không được nhìn mặt các con trước phút lâm chung, đồng thời cho thấy sự tủi thân, nỗi buồn thảm của lão khi thiếu sự yêu thương, quan tâm của các con trong suốt mười năm ròng rã. 

=> Lời dặn dò cho thấy sự đáng thương của lão Goriot - một người cha yêu con sâu sắc nhưng nhận lại chỉ là sự đắng cay, lạnh lẽo. 

Câu 4. 

– HS cần lí giải được lí do lão Goriot khát khao được gặp mặt các con trước phút lâm chung dù trước đó lão đã than trách, thậm chí là nguyền rủa những đứa con bất hiếu. 

– Lí do: Dù chua xót nhận ra sự thật rằng các con không hề yêu thương mình thật lòng, chúng chỉ yêu thương ông, tìm đến ông để bòn rút tiền của, đến khi ông không còn gì nữa, chúng bỏ mặc ông không màng sống chết, nhưng ông vẫn khát khao được gặp các con vì tình yêu thương, lòng bao dung của ông dành cho hai cô con gái rất rộng lớn. Đó chính là tình cảm đáng quý của người cha già này. Ông yêu con, sẵn sàng hi sinh vì con, bao dung với con cái mình mà không cầu các con hồi đáp lại những gì ông đã trao cho chúng. 

Câu 5. 

– HS dựa vào những chi tiết trong văn bản để rút ra nhận xét và lí giải phù hợp về hoàn cảnh của lão Goriot vào những giây phút cuối đời. 

– Cần bám sát các ý sau: 

+ Lão khát khao, mong chờ các con tới gặp mặt lần cuối nhưng kết cục là ra đi khi chưa hoàn thành được tâm nguyện. 

+ Những giây phút cuối đời, người ở bên lão chỉ là chàng sinh viên Rastignac và Bianchon. 

=> Hoàn cảnh đáng thương, đầy xót xa.

Câu 1. 

Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.

Câu 2. 

Căn cứ vào chữ thứ hai của dòng thơ thứ nhất là chữ “thi” – luật bằng, suy ra bài thơ được triển khai theo luật bằng

Câu 3. 

– HS chỉ ra được mổt biện pháp tu từ trong văn bản: Phép đối, phép liệt kê.

– HS nêu tác dụng của một biện pháp tu từ mà các em ấn tượng.

– Ví dụ: Biện pháp tu từ liệt kê được thể hiện qua việc tác giả chỉ ra những sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên được đưa vào thơ cổ: Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong. Phép liệt kê được sử dụng ở đây có tác dụng làm rõ cho quan điểm Cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ mà tác giả đưa ra trước đó. 

Câu 4. 

– HS diễn giải cách hiểu về hai dòng thơ và có sự lí giải hợp lí. Ở đây, HS cần bám vào hoàn cảnh sáng tác của bài thơ, bối cảnh xã hội lúc bấy giờ để thấy rằng sự thay đổi về nội dung sáng tác theo quan điểm của Bác là tất yếu.

Câu 5. 

– HS dựa vào bố cục, mạch cảm xúc của bài thơ để rút ra nhận xét về cấu tứ của bài thơ:

+ Bố cục: Bao gồm 2 phần: Hai câu đầu nói về thơ xưa, hai câu sau nói về thơ nay.

+ Mạch cảm xúc: Hai câu thơ đầu thể hiện sự trân trọng đối với vẻ đẹp thơ xưa, hai câu sau thể hiện sự cởi mở, khuyến khích sự đổi mới về nội dung thơ ca, tư duy sáng tác trong thời đại mới.

=> Bài thơ có kết cấu chặt chẽ, vừa tương phản, đối lập, vừa hài hòa, thống nhất. Đặt thơ xưa với thơ nay trong sự đối lập, tác giả không nhằm hạ thấp thơ xưa, trái lại Người rất trân trọng, yêu thích thơ xưa, nhưng Người không đồng tình với quan điểm sáng tác đó. Nên Người đã nêu lên quan niệm nghệ thuật của mình về thơ nay – cần có “chất thép” ở trong thơ, để thơ ca trở thành một thứ vũ khí sắc bén, còn anh chị em sáng tác sẽ là một chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, văn nghệ. 

Phương trình điện phân dung dịch NaCl: 

\(2 N a C l + 2 H_{2} O 2 N a O H + C l_{2} + H_{2}\)

Khối lượng NaOH thu được ứng với mỗi lít nước muối bão hòa ban đầu:

\(m_{N a O H} = \frac{300 - 220}{58 , 5} . 40.0 , 8 = 43 , 8 \left(\right. g \left.\right)\).

Để bảo vệ vỏ tàu biển khỏi bị ăn mòn có thể sử dụng một tấm kim loại kẽm gắn vào vỏ tàu biển vì kẽm hoạt động mạnh hơn sắt trong thép nên kẽm sẽ bị ăn mòn thay sắt. Ngoài ra có thể sơn lên vỏ tàu biển để hạn chế vỏ tàu bị ăn mòn.

(1) Fe + CuSO4 → FeSO4 + Cu

(2) Fe + Fe2(SO4)3 → 3FeSO4

(3) Fe + 2AgNO3 → Fe(NO3)2 + 2Ag

(4) Fe + Pb(NO3)2 →  Fe(NO3)2 + Pb

Gang và thép đều là hợp kim của sắt, trong đó:

- Gang: 95% sắt, 2 - 5% carbon, còn lại là các nguyên tố khác.

- Thép: ít hơn 2% carbon và một số nguyên tố khác như chromium, manganese, silicon,...

Câu 1. (2 điểm)

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn

- Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.

- Thí sinh có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành. 

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích, đánh giá những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích ở phần Đọc hiểu.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận

- Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: 

+ Về nội dung: Nguyễn Du đề cập đến những kiếp người nhỏ bé, đáng thương: 

 ++ Đó là những người đàn ông bị bắt đi lính, phải chịu cái chết oan uổng vì tên rơi đạn lạc.

 ++ Đó là những người phụ nữ không may phiêu bạt tới chốn lầu xanh. Cuộc đời họ cũng giống như nàng Kiều, đầy ngang trái, éo le, lận đận mà không được hưởng hạnh phúc. Khi về già cũng không nơi nương tựa.

++ Đó là những người hành khất, lang thang nằm cầu gối đất, sống nhờ vào sự bố thí của người đời.

=> Qua đó, chúng ta không chỉ cảm nhận được tấm lòng thương cảm, xót xa mà Nguyễn Du dành cho những con người khốn cùng ấy, mà còn thấy được truyền thống nhân đạo của dân tộc được thể hiện rất sâu sắc trong đoạn trích. 

+ Về nghệ thuật: Các tác phẩm văn tế thường viết theo lối văn biền ngẫu, với quy định chặt chẽ về niêm, luật, vần, đối. Nhưng ở đây, Nguyễn Du đã không viết theo lối văn biền ngẫu với những quy định khắt khe trên mà sử dụng thể thơ dân dã, gần gũi với nhân dân ta hơn là thể song thất lục bát. Bên cạnh đó, ngôn ngữ thơ, hình ảnh thơ cũng hết sức dân dã, quen thuộc với đời sống của nhân dân ta. 

=> Nguyễn Du đã xuất phát từ nhu cầu thực tế của quần chúng nhân dân trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ để sáng tác bài văn tế này để bày tỏ tấm lòng thương cảm và tinh thần nhân đạo của nhân dân ta đối với những kiếp người nhỏ bé, đáng thương.


d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau

- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.

- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.

- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. 

đ. Diễn đạt

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. 

e. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.


Câu 2. (4 điểm)

a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài

Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Hiện tượng thế hệ gen Z bị gắn mác, quy chụp bằng nhiều định kiến tiêu cực về lối sống và cách làm việc. 

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận

- Xác định được các ý chính của bài viết.

- Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:

* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.

* Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận:

- Giải thích từ khóa: Gen Z, gắn mác, quy chụp.

- Thể hiện quan điểm của người viết, có thể theo một số gợi ý sau: 

+ Thực trạng của vấn đề: Hiện nay, có nhiều bạn trẻ thuộc thế hệ gen Z bị gắn mác về lối sống, các làm việc trong môi trường sinh sống, học tập và làm việc. (Trích dẫn số liệu, minh chứng cụ thể, chính xác, đầy đủ)

+ Nguyên nhân của vấn đề:

    ++ Một số cá nhân có biểu hiện không tốt dẫn đến những ấn tượng không tốt trong mắt mọi người xung quanh.

    ++ Cái nhìn phiến diện, đánh đồng của mọi người.

+ Hệ quả: Nhiều bạn trẻ sẽ gặp phải những trở ngại như:

   ++ Dễ bị ảnh hưởng về mặt tâm lý bởi những yếu tố tiêu cực từ sự đánh giá, quy chụp của mọi người xung quanh.

   ++ Khó hòa nhập với tập thể.

   ++ Khó có cơ hội thăng tiến tại nơi làm việc.

+ Giải pháp:

   ++ Tích cực thay đổi, thể hiện bản thân để thay đổi định kiến của mọi người.

   ++ Góp ý cho những bạn trẻ khác có biểu hiện không tốt để đối phương thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn.

* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận. 


d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau

- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.

- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.

- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. 

đ. Diễn đạt

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. 

e. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

Câu 1. 

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên là: Biểu cảm, tự sự, miêu tả.

Câu 2. 

Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích là:

- Những người đàn ông bị bắt đi lính, chẳng may gặp cảnh buổi chiến trận mạng người như rác, mà bỏ mạng nơi sa trường. 

- Những người đàn bà vì dòng đời lận đận mà phiêu bạt tới chốn lầu xanh.

- Những người hành khất, lang thang, phải sống cảnh màn trời chiếu đất, sống nhờ vào sự bố thí của người đời. 

Câu 3. 

- HS xác định những từ láy được sử dụng trong hai câu thơ: lập lòe (từ láy tượng hình), văng vẳng (từ láy tượng thanh). 

- HS phân tích hiệu quả của việc sử dụng từ láy trong hai câu thơ:

+ Khắc họa trạng thái của sự vật: lập lòe gợi ánh sáng khi mờ khi tỏ (ý chỉ linh hồn của những người lính chết trận); văng vẳng gợi âm thanh vọng lại từ xa, không rõ ràng (ý chỉ tiếng ai oán của những vong linh ấy). 

+ Nhấn mạnh lòng thương xót của Nguyễn Du dành cho những người lính chết oan uổng nơi sa trường lạnh lẽo. 

Câu 4. 

- Chủ đề: Sự đáng thương của những kiếp người nhỏ bé.

- Cảm hứng chủ đạo: Xuyên suốt đoạn trích là tấm lòng thương cảm, xót xa của Nguyễn Du đối với những kiếp người nhỏ bé, đáng thương, khổ sở. 

Câu 5. 

* HS trình bày suy nghĩ của mình về truyền thống nhân đạo của dân tộc, sao cho đảm bảo về mặt hình thức và hoàn chỉnh về nội dung. HS có thể tham khảo gợi ý dưới đây:

- Truyền thống nhân đạo là truyền thống quý báu và lâu đời của dân tộc ta. 

- Biểu hiện:

+ Thành ngữ, tục ngữ, ca dao: Thương người như thể thương thân, Lá lành đùm lá rách, Nhiễu điều phủ lấy giá gương/Người trong một nước phải thương nhau cùng,...

+ Trong Văn tế thập loại chúng sinh: Truyền thống nhân đạo được thể hiện qua tình yêu thương, sự đồng cảm, xót xa mà Nguyễn Du dành cho những kiếp người khốn cùng, khổ sở.

+ HS chỉ ra một số biểu hiện của truyền thống nhân đạo trong đời sống hiện nay: Các chương trình, hoạt động quyên góp, thiện nguyện hàng năm của các tổ chức, tập thể; tinh thần tương trợ giúp đỡ người gặp nạn của nhân dân ta. (Tìm dẫn chứng cụ thể, người thật việc thật trong cuộc sống)

- Ý nghĩa của truyền thống nhân đạo: 

+ Giúp con người thấu hiểu, đồng cảm với nhau hơn.

+ Giúp cho cuộc đời thêm ý nghĩa, đẹp đẽ. 

- Cho đến ngày hôm nay, truyền thống này vẫn tiếp tục được duy trì và phát huy.

Câu1:

Bé Gái trong truyện ngắn "Nhà nghèo" của Tô Hoài là một hình tượng bi thương, đại diện cho những đứa trẻ vô tội phải gánh chịu sự khốn cùng của đói nghèo. Ngoan ngoãn, hiểu chuyện và trưởng thành sớm hơn tuổi, bé Gái luôn là người chứng kiến những cuộc cãi vã, bạo hành om sòm của cha mẹ. Khi cha mẹ cãi nhau, nó đã "khóc thút thít", cho thấy sự nhạy cảm và nỗi sợ hãi in hằn. Đáng thương hơn, nó phải gánh vác công việc nhà, thậm chí "ra tận đầu xóm xin lửa" vì nhà không có nổi một bao diêm, một chi tiết đắt giá thể hiện sự nghèo khó cùng cực. Chi tiết bé đi bắt nhái, "nhe hai hàm răng sún đen xỉn, cười toét" khi khoe giỏ nhái đầy với mẹ, và "cười tủm một mình" khi vồ được nhái, khắc họa niềm vui giản dị, hồn nhiên nhưng cũng đầy lam lũ của em. Bi kịch được đẩy đến đỉnh điểm khi bé Gái gục chết bên vệ ao, hai tay vẫn "ôm khư khư cái giỏ nhái". Cái chết của em là tiếng chuông cảnh tỉnh về sự tàn phá của đói nghèo, khiến độc giả không khỏi xót xa trước số phận "thân tàn ma dại" của một đứa trẻ mới lớn.

Câu2:

Bạo lực gia đình (BLGĐ), dưới bất kì hình thức nào từ thể chất đến tinh thần, là một vết thương vô hình nhưng dai dẳng, để lại những di chứng nghiêm trọng và lâu dài đối với sự phát triển toàn diện của trẻ em. Gia đình vốn là cái nôi nuôi dưỡng, là nơi an toàn nhất; khi nơi đó bị "ô nhiễm" bởi bạo lực, sự phát triển của một đứa trẻ sẽ bị méo mó và tổn thương sâu sắc. Ảnh hưởng dễ nhận thấy nhất là những tổn thương về mặt tâm lí. Trẻ em sống trong môi trường BLGĐ thường xuyên phải chứng kiến hoặc là nạn nhân của các hành vi bạo lực, dẫn đến sợ hãi, lo âu và stress kéo dài. Chúng có thể hình thành rối loạn stress sau chấn thương (PTSD), gặp ác mộng, khó ngủ, và luôn ở trong trạng thái cảnh giác cao độ. Sự bất ổn trong gia đình phá hủy niềm tin cơ bản của trẻ vào thế giới và những người thân yêu, khiến chúng khó thiết lập các mối quan hệ lành mạnh, dễ rơi vào tình trạng trầm cảm, tự ti, hoặc tự hủy hoại bản thân. BLGĐ còn là mầm mống dẫn đến các rối loạn hành vi. Trẻ em là những người học hỏi thông qua quan sát; khi bạo lực trở thành "ngôn ngữ" giao tiếp trong gia đình, trẻ có xu hướng bắt chước hành vi đó để giải quyết mâu thuẫn hoặc thể hiện cảm xúc. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ em bị ảnh hưởng bởi BLGĐ có nguy cơ cao trở thành người gây hấn (bắt nạt) hoặc người có hành vi phạm pháp khi trưởng thành. Ngược lại, một số khác lại co mình lại, trở nên thụ động, khó hòa nhập, và thiếu kĩ năng xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến học tập và công việc sau này. Môi trường sống căng thẳng và không an toàn cũng cản trở sự phát triển nhận thức của trẻ. Sự lo âu và căng thẳng mãn tính có thể làm giảm khả năng tập trung, ghi nhớ và xử lí thông tin, dẫn đến kết quả học tập sa sút. Thay vì tập trung vào việc học, tâm trí của trẻ bị chiếm lĩnh bởi việc tìm cách đối phó với những bất ổn ở nhà. Điều này tạo ra một vòng luẩn quẩn, làm suy giảm cơ hội phát triển cá nhân và thăng tiến trong tương lai. Hậu quả đáng sợ nhất là tính chất truyền đời của bạo lực. Trẻ em lớn lên trong môi trường BLGĐ có nguy cơ cao tái diễn mô hình này khi chúng xây dựng gia đình riêng, trở thành nạn nhân hoặc người gây ra bạo lực. BLGĐ không chỉ làm hại một cá nhân mà còn phá hủy cấu trúc xã hội bằng cách truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo ra một vòng lặp luẩn quẩn và độc hại mà rất khó phá vỡ. Bạo lực gia đình là một vấn nạn xã hội đòi hỏi sự can thiệp mạnh mẽ từ pháp luật, cộng đồng và nhà trường. Để bảo vệ tương lai của trẻ em, mỗi cá nhân cần nâng cao nhận thức về việc xây dựng môi trường gia đình an toàn, tôn trọng và yêu thương. Chỉ khi lớn lên trong sự bình yên, trẻ em mới có thể phát triển khỏe mạnh về thể chất, tâm hồn và trí tuệ, trở thành những công dân tích cực cho xã hội.