Nguyễn Kim Anh
Giới thiệu về bản thân
- Các dấu hiệu đặc trưng của sinh sản ở sinh vật:
+ Hình thành cơ thể mới.
+ Truyền đạt vật chất di truyền.
+ Điều hòa sinh sản.
- Phân biệt sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính:
| Sinh sản vô tính | Sinh sản hữu tính |
Sự hình thành giao tử | Không có | Có |
Sự thụ tinh | Không có | Có |
Đặc điểm di truyền của cá thể con | Giống cá thể mẹ | Khác cá thể bố mẹ |
Cơ sở di truyền | Nguyên phân | Giảm phân |
Ví dụ ở sinh vật | Thủy tức nảy chồi | Sinh sản ở người |
Động vật có hai hình thức phát triển chính:
- Phát triển không qua biến thái: Là quá trình phát triển mà con non sinh ra có hình thái và cấu tạo tương tự như con trưởng thành. Ví dụ: Người, chim, bò, lợn,...
- Phát triển qua biến thái: Là quá trình phát triển mà con non (ấu trùng) có hình thái và cấu tạo khác với con trưởng thành, phải trải qua quá trình biến đổi mới thành con trưởng thành.
Phát triển qua biến thái được chia thành hai loại:
+ Phát triển qua biến thái hoàn toàn:
- Là quá trình phát triển mà ấu trùng có hình thái và cấu tạo rất khác với con trưởng thành, phải trải qua giai đoạn trung gian (nhộng hoặc kén) trước khi biến đổi thành con trưởng thành.
- Ví dụ: Bướm, ong, ruồi, muỗi,...
+ Phát triển qua biến thái không hoàn toàn:
- Là quá trình phát triển mà ấu trùng có hình thái và cấu tạo gần giống với con trưởng thành, trải qua nhiều lần lột xác để hoàn thiện hình thái và cấu tạo.
- Ví dụ: Châu chấu, cào cào, gián,...
a,pt phản ứng là:
(CH3)2CHCH2CH2OH+CH3OOH+H2SO4-->CH3COOH2CH2CH(CH3)+H2O
b, giá trị của m là 2,275 gam
mỗi ngày 1 nam giới có thể uống tối đa khoảng 0,06944 lít rượu 36% mà không vượt quá mức tiêu thụ an toàn
Các phản ứng của aldehyde có ctpt C5H10O với NaBH4 là:
+)ch3ch2ch2ch2cho+NaBH4+H20-->ch3ch2ch2ch2ch2oh+NaOH
+)ch3ch2ch(ch3)cho+NaBH4+H2o-->ch3ch2ch(ch3)ch2oh+NaOH
+) (ch3)2chch2cho+NaBH4+h2o-->(ch3)2chch2ch2oh+NaOH
+)(ch3)3ccho+nabh4+h2o-->(ch3)3cch2oh+NaOH
Trong dòng chảy không ngừng của thời đại, con người ngày càng có nhiều cơ hội tiếp cận với văn hóa hiện đại, hội nhập với thế giới bên ngoài. Tuy nhiên, điều đó cũng đặt ra một thách thức lớn: làm thế nào để vừa phát triển, vừa giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc. Việc gìn giữ và bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống trở thành một yêu cầu cấp thiết trong đời sống hiện đại hôm nay.
Văn hóa truyền thống là tổng hòa những giá trị vật chất và tinh thần được hình thành, tích lũy qua hàng ngàn năm lịch sử của một dân tộc. Đó có thể là tiếng nói, trang phục, phong tục tập quán, lễ hội, đạo lý ứng xử, văn học dân gian,… Những giá trị ấy chính là cội nguồn, là nền tảng tinh thần tạo nên bản sắc riêng của mỗi dân tộc. Văn hóa truyền thống không chỉ giúp ta hiểu rõ về quá khứ, mà còn là sợi dây kết nối giữa các thế hệ, là "gốc rễ" để con người không bị lạc lõng giữa sự thay đổi của thời đại.
Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại ngày nay, khi làn sóng toàn cầu hóa và văn hóa ngoại lai du nhập mạnh mẽ, nhiều người – đặc biệt là giới trẻ – dần trở nên thờ ơ, thậm chí quay lưng với những giá trị truyền thống. Không ít người sính ngoại, chuộng cái mới, coi thường hoặc lãng quên bản sắc dân tộc. Một số phong tục đẹp đang dần mai một, các làng nghề truyền thống bị bỏ hoang, những giá trị đạo lý như “kính trên nhường dưới”, “tôn sư trọng đạo” cũng có dấu hiệu phai nhạt.
Trước thực trạng ấy, gìn giữ văn hóa truyền thống không có nghĩa là bảo thủ, khép kín, mà là biết chọn lọc, kế thừa và phát huy những giá trị tốt đẹp, đồng thời biết tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là việc tôn trọng tiếng mẹ đẻ, giữ gìn trang phục dân tộc, tham gia các lễ hội truyền thống, học tập lịch sử và trân trọng các di sản văn hóa. Nhà nước cũng cần có những chính sách cụ thể để bảo tồn, phục dựng và quảng bá các giá trị văn hóa truyền thống ra thế giới. Mỗi cá nhân, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần tự ý thức được vai trò của mình trong việc giữ gìn hồn cốt dân tộc.
Văn hóa truyền thống không chỉ là niềm tự hào, mà còn là sức mạnh mềm để đất nước phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập. Giữ gìn văn hóa chính là giữ gìn bản sắc, giữ gìn linh hồn của dân tộc. Hãy để những nét đẹp truyền thống không chỉ được nhắc đến trong quá khứ, mà còn sống động trong hiện tại và lan tỏa đến tương lai.
Trong bài thơ Chân quê, Nguyễn Bính đã xây dựng hình ảnh nhân vật “em” – một cô gái quê với vẻ đẹp mộc mạc, duyên dáng nhưng đang dần đánh mất chính mình khi chạy theo lối sống thị thành. Ban đầu, “em” hiện lên với hình ảnh thôn nữ hiền dịu, kín đáo: “áo cánh nâu, quần lãnh đen”, “tay bưng” thúng, “chân đi dép lụa” – tất cả đều toát lên vẻ đẹp chân chất, giản dị của người con gái miền quê. Tuy nhiên, khi có cơ hội tiếp xúc với cuộc sống hiện đại, “em” bắt đầu thay đổi: mặc áo mới, đi giày cao gót, đánh phấn, tô môi. Sự “đổi thay” ấy không chỉ là ngoại hình mà còn ẩn chứa sự xa rời gốc gác, đánh mất nét duyên xưa. Qua đó, tác giả thể hiện nỗi tiếc nuối và lo âu cho sự mai một của những giá trị truyền thống. Nhân vật “em” không chỉ là một hình ảnh cụ thể mà còn là biểu tượng cho lớp người trẻ đang đứng giữa giao thoa truyền thống và hiện đại, khiến người đọc không khỏi suy ngẫm về việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Giữ gìn nét đẹp mộc mạc, chân quê là điều đáng quý trong đời sống và trong tình yêu.
Người con trai yêu vẻ đẹp tự nhiên, giản dị, mang hồn quê của người con gái. Sự thay đổi theo thời cuộc, sự “tân thời hóa” khiến người con gái dần xa rời nét duyên dáng vốn có, làm phai nhạt đi chất quê mộc mạc khiến chàng trai tiếc nuối.
Biện pháp tu từ ẩn dụ và hoán dụ
Tác dụng:câu thơ này nỗi tiếc nuối và lo lắng của tác giả trước sự thay đổi của người con gái quê . Đồng thời, thể hiện tình cảm yêu thương trân trọng cái trân quê giản dị mộc mạc
Những loại trang phục trong bài thơ "chân quê"
-khăn nhung
-quần lĩnh
-áo cài khuy bấm
-áo tứ thân
-yếm lụa sồi
-dây lưng đũi
-khăn mỏ quạ
-quấn nái đen
Đại diện:
-khăn nhung, quần lĩnh,áo cài khuy bấm đại diện cho vẻ đẹp sành điệu,thành thị ,hiện đại
-áo tứ thân,yếm lụa dồi,dây lưng dũi,khăn mỏ quạ,quấn nái đen:là những trang phục truyền thống bình dị ,gắn liền với hình ảnh người con gái thôn quê