Lê Nguyễn Bảo Ngọc

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lê Nguyễn Bảo Ngọc
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận

Câu 2: Văn bản trên bàn về mối quan hệ mật thiết giữa ước mơ và lao động, cùng vai trò quyết định của lao động trong việc hiện thực hóa những khát vọng của con người.

Câu 3: Để làm rõ cho ý kiến: "Mọi động vật đều lao động, trước hết là để duy trì sự sống." tác giả đã sử dụng những bằng chứng là:

- Chim yến còn non nớt đã phải tập bay đi kiếm mồi

- Hổ và sư tử phải tự mình lao động( săn mồi) để tồn tại.

-> Nhận xét: Các bằng chứng này rất xác thực, gần gũi và giàu sức thuyết phục. Việc đưa ra các loài vật từ hiền lành đến hung dữ giúp khẳng định lao động là một bản năng sinh tồn tất yếu, khách quan của mọi sinh linh trong tự nhiên.

Câu 4: "Việc con người có cảm nhận được niềm vui trong lao động hay không sẽ có ý nghĩa lớn lao, quyết định cuộc đời của người đó hạnh phúc hay không." Câu văn gợi ý cho em rằng hạnh phúc không nằm ở đích đến mà nằm ngay trong quá trình thực tiễn. Lao động chiếm phần lớn thời gian đời người; nếu coi lao động là niềm vui, ta sẽ thấy mỗi ngày trôi qua đều ý nghĩa và tràn đầy năng lượng. Ngược lại, nếu coi lao động chỉ là sự ép buộc hay công cụ kiếm tiền khô khan, ta sẽ dễ rơi vào mệt mỏi. Thái độ tích cực với lao động chính là nền tảng của một cuộc đời hạnh phúc.

Câu 5: Một biểu hiện tiêu cực khá phổ biến hiện nay là tâm lí "ngại khó, ngại khổ" hoặc " muốn giàu nhanh nhưng không muốn làm". Nhiều người, đặc biệt là một bộ phận giới trẻ, chỉ thích hưởng thụ, chạy theo những giá trị ảo trên mạng xã hội, hoặc trông chờ vào sự may rủi mà không chịu rèn luyện kĩ năng, làm việc thực chất. Họ coi lao động chân tay hay những công việc bắt đầu từ vị trí thấp kém, từ đó dẫn đến lối sống ỷ lại, thiếu mục đích và không thể hiện thực hóa được ước mơ của chính mình.

Câu 1:

Ước mơ là bản thiết kế vĩ đại của tâm hồn, nhưng lao động mới là viên gạch đầu tiên để xây nên thực tại." Thật vậy, giữa ước mơ và lao động luôn tồn tại một sợi dây cộng hưởng không thể tách rời: ước mơ là đích đến, còn lao động chính là con đường. Ước mơ không phải là những ảo ảnh phù hoa, mà là mục tiêu cao đẹp thúc đẩy con người vươn tới; còn lao động là quá trình dấn thân, đổ mồ hôi và trí tuệ để hiện thực hóa những khát vọng đó. Vai trò của lao động vô cùng kỳ diệu, nó biến những ý tưởng " nằm trên giấy" thành giá trị hữu hình, giúp con người khai phá giới hạn của bản thân. Ta bắt gặp biểu hiện ấy ở những người trẻ ngày đêm miệt mài trong phòng lab hay những sinh viên nghèo vừa làm vừa học để chạm tay vào tấm bằng đại học. Chẳng nói đâu xa, hình ảnh Rapper Đen Vâu-từ một công nhân vệ sinh bãi biển đã lao động bền bỉ để nuôi dưỡng giấc mơ âm nhạc tử tế - chính là minh chứng sống động nhất cho việc lao động chân chính sẽ chắp cánh cho ước mơ bay xa. Hay gần gũi hơn là những " Gen Z khởi nghiệp xanh", họ không chỉ mơ về một thế giới không rác thải mà thực sự lao động bằng cách dấn thân vào các dự án tái chế đầy gian nan. Tuy nhiên, ta cần bác bỏ lối sống " mơ mộng hão huyền" của một bộ phận trẻ chủ thích hưởng thụ, ngồi đợi vận may mà lười nhác hành động. Ước mơ mà thiếu đi lao động chỉ là những "lâu đài trên cát" dễ dàng sụp đổ trước cơn gió của thực tế. Ngược lại, lao động mà không có ước mơ sẽ chỉ là sự lặp lại đơn điệu của một cỗ máy. Tóm lại, chỉ khi ước mơ được đặt trên nền tảng của sự cần cù, nó mới trở nên rực rỡ và ý nghĩa. Bản thân là một học sinh lớp 11, em tự nhủ rằng mỗi giờ tự học căng thẳng, mỗi trang sách mở ra chính là hình thức lao động cao quý nhất để tôi tự vẽ nên chân dung tương lai của chính mình. Hãy để đôi mắt nhìn về phía những vì sao, nhưng đôi chân phải bước đi thật vững chãi trên mặt đất của sự nỗ lực.

Câu 2:

Trong dòng chảy của thi ca kháng chiến chống Pháp, nếu ta từng bắt gặp một Quang Dũng hào hoa với " Tây Tiến ", một Hồng Nguyên chân chất với "Nhớ", thì không thể không nhắc đến Nguyễn Đình Thi - một nghệ sĩ đa tài với hồn thơ vừa trí thức, phóng khoáng, vừa sâu sắc, hàm súc. Bài thơ "Nhớ" là một trong những thi phẩm tình yêu đặc sắc nhất của ông, ra đời khi khói lửa chiến tranh đang bao trùm lấy mảnh đất quê hương. Không chỉ là tiếng lòng thổn thức của một trái tim đang yêu, tác phẩm còn là bản hòa ca tuyệt đẹp giữa tình cảm riêng tư và lý tưởng chung của thời đại. Qua đó, tâm trạng của nhân vật trữ tình hiện lên như một điểm sáng rực rỡ, khẳng định vẻ đẹp của con người Việt Nam: biết yêu hết mình và cũng biết dấn thân hết mình cho độc lập dân tộc.

Tâm trạng của nhân vật trữu tình trước hết hiện lên qua nỗi nhớ gắn liền với không gian chiến trận khắc nghiệt nhưng đầy chất thơ. Nỗi nhớ không được gọi tên một cách khô khan mà len lỏi qua các thi ảnh thiên nhiên:

"Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh , Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây." Nhân vật trữ tình đã nhân hóa "ngôi sao" để gửi gắm tâm tư của chính mình. Giữa cái lạnh buốt của "đèo mây" hay " đêm lạnh", ánh sao và "ngọn lửa hồng" trở thành những điểm sáng sưởi ấm tâm hồn. Nỗi nhớ ở đây không làm con người yếu mềm đi mà trái lại, nó trở thành ánh sáng soi đường, thành nguồn nhiệt lượng giúp người lính vượt qua gian khổ.

Đỉnh cao trong diễn biến tâm trạng của nhân vật trữ tình chính là sự định nghĩa lại về tình yêu một cách đầy cao cả:

" Anh yêu em như anh yêu đất nước, Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần". Đây là một sự so sánh đầy táo bạo và mới mẻ của một tri thức đi theo cách mạng. Tình yêu dành cho "em" được đặt ngang hàng với tình yêu dành cho "đất nước". Đất nước ấy tuy "vất vả đau thương" nhưng vẫn "tươi thắm vô ngần" - cũng giống như tình yêu của anh và em, phải kinh qua khói lửa chiến tranh mới thấy được sự rực rỡ và bền bỉ. Nỗi nhớ trong thơ Nguyễn Đình Thi còn mang tính chất thường trực hiện hữu trong mọi khoảnh khắc của cuộc sống đời thường thông qua điệp từ "mỗi": "mỗi bước đường", "mỗi tối anh nằm", "mỗi tiếng anh ăn". Nỗi nhớ ấy len lỏi vào từng kẽ hở của cuộc sống sinh hoạt, chứng minh một tình yêu chân thành, mộc mạc nhưng vô cùng sâu nặng. Tâm trạng của nhân vật trữ tình kết thúc không phải trong sự chia lìa mà trong niềm "kiêu hãnh":

"Chúng ta yêu nhau chiến đấu suốt đời, ...Chúng ta yêu nhau kiêu hãnh làm người". Yêu nhau không chỉ là nhìn nhau, mà là cùng nhìn về một hướng. "Kiêu hãnh làm người" chính là cái đích cao nhất của tâm hồn nhân vật trữ tình: yêu gắn liền với trách nhiệm và nhân phẩm. Đó là tư thế của một thế hệ tự do, làm chủ cuộc đời mình ngay trong bom đạn.

Để chuyển tải một tâm trạng phúc hợp như vậy Nguyễn Đình Thi đã sử dụng thể thơ tự do phóng khoáng, nhịp điệu thơ linh hoạt như nhịp đập thổn thức của trái tim, lúc dồn dập, lúc lại trầm lắng suy tư. Hệ thống hình ảnh trong bài thơ mang đậm tính biểu tượng và sự đối lập (đau thương-tươi thắm, đêm lạnh-ngọn lửa hồng) làm nổi bật vẻ đẹp kiên cường của cả con người và đất nước. Ngôn ngữ thơ hàm súc, giàu nhạc điệu kết hợp cùng các biện pháp tu từ đã làm cho nỗi nhớ vốn trừu tượng trở nên sống động, có hình có khối, chạm vào cảm xúc của người đọc.

Tóm lại, qua bài thơ "Nhớ", Nguyễn Đình Thi đã khắc họa thành công một bức chân dung tâm hồn cao đẹp của nhân vật trữ tình-người chiến sĩ có trái tim nồng cháy gắn liền với lý tưởng cách mạng. Với nội dung giàu tính nhân văn và nghệ thuật thơ tự do độc đáo, bài thơ đã khẳng định: tình yêu chính là chất xúc tác để con người trở nên vĩ đại hơn. Đọc bài thơ, mỗi người đều rút ra được bài học quý giá: tình yêu chân chính luôn song hành cùng trách nhiệm với tổ quốc. Là một học sinh, em nhận thức được rằng mình cần nuôi dưỡng những tình cảm tốt đẹp, biến chúng thành động lực để học tập và cống hiến, để xứng đáng sống một cuộc đời" kiêu hãnh làm người" như những thế hệ đi trước.


Câu 1:

Ước mơ là bản thiết kế vĩ đại của tâm hồn, nhưng lao động mới là viên gạch đầu tiên để xây nên thực tại." Thật vậy, giữa ước mơ và lao động luôn tồn tại một sợi dây cộng hưởng không thể tách rời: ước mơ là đích đến, còn lao động chính là con đường. Ước mơ không phải là những ảo ảnh phù hoa, mà là mục tiêu cao đẹp thúc đẩy con người vươn tới; còn lao động là quá trình dấn thân, đổ mồ hôi và trí tuệ để hiện thực hóa những khát vọng đó. Vai trò của lao động vô cùng kỳ diệu, nó biến những ý tưởng " nằm trên giấy" thành giá trị hữu hình, giúp con người khai phá giới hạn của bản thân. Ta bắt gặp biểu hiện ấy ở những người trẻ ngày đêm miệt mài trong phòng lab hay những sinh viên nghèo vừa làm vừa học để chạm tay vào tấm bằng đại học. Chẳng nói đâu xa, hình ảnh Rapper Đen Vâu-từ một công nhân vệ sinh bãi biển đã lao động bền bỉ để nuôi dưỡng giấc mơ âm nhạc tử tế - chính là minh chứng sống động nhất cho việc lao động chân chính sẽ chắp cánh cho ước mơ bay xa. Hay gần gũi hơn là những " Gen Z khởi nghiệp xanh", họ không chỉ mơ về một thế giới không rác thải mà thực sự lao động bằng cách dấn thân vào các dự án tái chế đầy gian nan. Tuy nhiên, ta cần bác bỏ lối sống " mơ mộng hão huyền" của một bộ phận trẻ chủ thích hưởng thụ, ngồi đợi vận may mà lười nhác hành động. Ước mơ mà thiếu đi lao động chỉ là những "lâu đài trên cát" dễ dàng sụp đổ trước cơn gió của thực tế. Ngược lại, lao động mà không có ước mơ sẽ chỉ là sự lặp lại đơn điệu của một cỗ máy. Tóm lại, chỉ khi ước mơ được đặt trên nền tảng của sự cần cù, nó mới trở nên rực rỡ và ý nghĩa. Bản thân là một học sinh lớp 11, em tự nhủ rằng mỗi giờ tự học căng thẳng, mỗi trang sách mở ra chính là hình thức lao động cao quý nhất để tôi tự vẽ nên chân dung tương lai của chính mình. Hãy để đôi mắt nhìn về phía những vì sao, nhưng đôi chân phải bước đi thật vững chãi trên mặt đất của sự nỗ lực.

Câu 2:

Trong dòng chảy của thi ca kháng chiến chống Pháp, nếu ta từng bắt gặp một Quang Dũng hào hoa với " Tây Tiến ", một Hồng Nguyên chân chất với "Nhớ", thì không thể không nhắc đến Nguyễn Đình Thi - một nghệ sĩ đa tài với hồn thơ vừa trí thức, phóng khoáng, vừa sâu sắc, hàm súc. Bài thơ "Nhớ" là một trong những thi phẩm tình yêu đặc sắc nhất của ông, ra đời khi khói lửa chiến tranh đang bao trùm lấy mảnh đất quê hương. Không chỉ là tiếng lòng thổn thức của một trái tim đang yêu, tác phẩm còn là bản hòa ca tuyệt đẹp giữa tình cảm riêng tư và lý tưởng chung của thời đại. Qua đó, tâm trạng của nhân vật trữ tình hiện lên như một điểm sáng rực rỡ, khẳng định vẻ đẹp của con người Việt Nam: biết yêu hết mình và cũng biết dấn thân hết mình cho độc lập dân tộc.

Tâm trạng của nhân vật trữu tình trước hết hiện lên qua nỗi nhớ gắn liền với không gian chiến trận khắc nghiệt nhưng đầy chất thơ. Nỗi nhớ không được gọi tên một cách khô khan mà len lỏi qua các thi ảnh thiên nhiên:

"Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh , Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây." Nhân vật trữ tình đã nhân hóa "ngôi sao" để gửi gắm tâm tư của chính mình. Giữa cái lạnh buốt của "đèo mây" hay " đêm lạnh", ánh sao và "ngọn lửa hồng" trở thành những điểm sáng sưởi ấm tâm hồn. Nỗi nhớ ở đây không làm con người yếu mềm đi mà trái lại, nó trở thành ánh sáng soi đường, thành nguồn nhiệt lượng giúp người lính vượt qua gian khổ.

Đỉnh cao trong diễn biến tâm trạng của nhân vật trữ tình chính là sự định nghĩa lại về tình yêu một cách đầy cao cả:

" Anh yêu em như anh yêu đất nước, Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần". Đây là một sự so sánh đầy táo bạo và mới mẻ của một tri thức đi theo cách mạng. Tình yêu dành cho "em" được đặt ngang hàng với tình yêu dành cho "đất nước". Đất nước ấy tuy "vất vả đau thương" nhưng vẫn "tươi thắm vô ngần" - cũng giống như tình yêu của anh và em, phải kinh qua khói lửa chiến tranh mới thấy được sự rực rỡ và bền bỉ. Nỗi nhớ trong thơ Nguyễn Đình Thi còn mang tính chất thường trực hiện hữu trong mọi khoảnh khắc của cuộc sống đời thường thông qua điệp từ "mỗi": "mỗi bước đường", "mỗi tối anh nằm", "mỗi tiếng anh ăn". Nỗi nhớ ấy len lỏi vào từng kẽ hở của cuộc sống sinh hoạt, chứng minh một tình yêu chân thành, mộc mạc nhưng vô cùng sâu nặng. Tâm trạng của nhân vật trữ tình kết thúc không phải trong sự chia lìa mà trong niềm "kiêu hãnh":

"Chúng ta yêu nhau chiến đấu suốt đời, ...Chúng ta yêu nhau kiêu hãnh làm người". Yêu nhau không chỉ là nhìn nhau, mà là cùng nhìn về một hướng. "Kiêu hãnh làm người" chính là cái đích cao nhất của tâm hồn nhân vật trữ tình: yêu gắn liền với trách nhiệm và nhân phẩm. Đó là tư thế của một thế hệ tự do, làm chủ cuộc đời mình ngay trong bom đạn.

Để chuyển tải một tâm trạng phúc hợp như vậy Nguyễn Đình Thi đã sử dụng thể thơ tự do phóng khoáng, nhịp điệu thơ linh hoạt như nhịp đập thổn thức của trái tim, lúc dồn dập, lúc lại trầm lắng suy tư. Hệ thống hình ảnh trong bài thơ mang đậm tính biểu tượng và sự đối lập (đau thương-tươi thắm, đêm lạnh-ngọn lửa hồng) làm nổi bật vẻ đẹp kiên cường của cả con người và đất nước. Ngôn ngữ thơ hàm súc, giàu nhạc điệu kết hợp cùng các biện pháp tu từ đã làm cho nỗi nhớ vốn trừu tượng trở nên sống động, có hình có khối, chạm vào cảm xúc của người đọc.

Tóm lại, qua bài thơ "Nhớ", Nguyễn Đình Thi đã khắc họa thành công một bức chân dung tâm hồn cao đẹp của nhân vật trữ tình-người chiến sĩ có trái tim nồng cháy gắn liền với lý tưởng cách mạng. Với nội dung giàu tính nhân văn và nghệ thuật thơ tự do độc đáo, bài thơ đã khẳng định: tình yêu chính là chất xúc tác để con người trở nên vĩ đại hơn. Đọc bài thơ, mỗi người đều rút ra được bài học quý giá: tình yêu chân chính luôn song hành cùng trách nhiệm với tổ quốc. Là một học sinh, em nhận thức được rằng mình cần nuôi dưỡng những tình cảm tốt đẹp, biến chúng thành động lực để học tập và cống hiến, để xứng đáng sống một cuộc đời" kiêu hãnh làm người" như những thế hệ đi trước.