Vũ Thảo Phương
Giới thiệu về bản thân
Câu 1
Cảm nhận về “Bài thơ chưa thể đặt tên” – Nguyễn Phan Quế Mai Đọc “Bài thơ chưa thể đặt tên” của Nguyễn Phan Quế Mai, tôi chợt lặng đi trước sự thành thật đến đau lòng của người viết. Không cần một cái tên gọi, bài thơ vẫn hiện lên trọn vẹn bằng những khoảng trống, những điều còn dang dở mà ai cũng từng mang trong tim. Giọng thơ nhẹ như lời tự sự, nhưng mỗi câu chữ lại chất chứa nỗi niềm của kiếp người tha hương, của ký ức chiến tranh và tình mẫu tử. Cái hay của Quế Mai là chị không kể lể, không lên gân, chỉ dùng hình ảnh rất đời thường như bát cơm, tấm áo, bàn tay mẹ để chạm vào phần sâu nhất trong ta. Chính sự “chưa thể đặt tên” ấy lại thành tên gọi chung cho tất cả những nỗi nhớ không lời, những vết thương chưa lành của một thế hệ. Bài thơ vì thế không khép lại khi câu chữ dừng, mà cứ ngân mãi như một tiếng thở dài dịu dàng, nhắc ta biết ơn quá khứ và biết yêu thương hiện tại nhiều hơn.
Câu 2
Câu 1. (0,5 điểm) Dấu hiệu xác định thể thơ: – Số chữ của các dòng không bằng nhau, không cố định về niêm, luật. – Là dấu hiệu để xác định thể thơ tự do của văn bản. Câu 2. (0,5 điểm) Hình ảnh được sử dụng để so sánh với từng hạt gạo ngọt thơm ở khổ thơ đầu tiên là lời ru của bà.
Câu 3. (1,0 điểm) Phân tích tác dụng biện pháp tu từ liệt kê: Nêu biểu hiện: Liệt kê/nêu/kể ra những điều nhân vật tôi “nghe trong khói hương": hồn bà lan toả, bám sâu vào đất, mọc rễ vào ruộng đồng, bà se sẽ hát ru gọi lúa trổ đòng. Tác dụng: + Thể hiện những cảm nhận tinh tế và sâu sắc, niềm xúc động của nhân vật tôi khi đứng trên cánh đồng, đứng trước mộ bà. Nhân vật trữ tình tôi như cảm nhận được linh hồn bà đã bám sâu gắn bó với đồng ruộng, với từng cây lúa nuôi con cháu lớn khôn. Qua đó đoạn trích thể hiện lòng biết ơn, sự kết nối thế hệ sau với thế hệ trước. + Tăng hiệu quả diễn đạt, khái quát được những khía cạnh khác nhau của sự vật, sự việc; tạo giọng điệu thiết tha, sâu lắng.
Câu 4. (1,0 điểm) Suy nghĩ, tình cảm của nhân vật tôi qua những câu thơ: Suy nghĩ sâu sắc: Nhận ra mỗi hạt gạo làm nên bát cơm trên tay hôm nay là kết tinh bao mồ hôi công sức của tổ tiên, kết tinh bao yêu thương của bà trong lời ru. – Tình cảm: Nhân vật tôi thể hiện sự trân trọng, biết ơn sâu sắc với tổ tiên, tình yêu thương đối với bà. Câu 5. (1,0 điểm) Hiện tại luôn được xây đắp từ quá khứ, cuộc sống ấm no trong hiện tại của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đều có được nhờ những thế hệ đi trước vất vả dựng xây. Vì vậy nhìn những gì có trong hiện tại, cần có thái độ trân quý, biết ơn với những người đi trước, với quá khứ,... Một người sẽ trưởng thành thực sự khi biết nhìn hiện tại mà thấy quá khứ, biết trân trọng những gì đang được thụ hưởng với lòng biết ơn, biết nhớ về tổ tiên, gắn kết với gia đình đặc biệt là với thế hệ trước,...
Câu 1 - đoạn trích được viết theo thể thơ tám chữ Câu 2: - Một số từ ngữ tiêu biểu thể hiện hình ảnh của biển đảo và đất nước là: biển, sóng dữ, hoàng Sa, tổ quốc, màu cờ nước Việt, ngư dân…. Câu 3: -Biện pháp tu từ so sánh -Dấu hiệu: Mẹ tổ quốc vẫn luôn ở bên ta >< máu ấm trong màu cờ nước Việt -NT: Tăng sức gợi hình gợi cảm giúp tính sinh động gợi hình ảnh sự diễn đạt thêm sâu sắc -ND: Nội dung nói về nói về tình yêu thương vô bờ của mẹ và khẳng định được sự gắn bó của mẹ đến với tổ quốc như trong máu ấm trong màu cờ nước Việt khẳng định được sự gắn bó của tổ quốc đối với mỗi người dân Việt Nam mang trong tình yêu quê hương tình yêu đất nước cho thấy tình yêu nồng nàn dành cho tổ quốc của người dân nói chung và tác giả nói riêng Câu 4: -Qua đoạn trích trên thể hiện những tình cảm của nhà thơ dành cho biển đảo tổ quốc là: mang trong đó một tình yêu thương vô bờ và niềm tự hào mãnh liệt đối với lịch sử dân tộc của Việt Nam ta và trong đó một lòng biết ơn đối với những người lính và ngư dân bám biển để có thể sinh sống nơi biển đảo vì trong bài có nói biển mùa này sóng giữ phía hoàng Sa các con mẹ vẫn ngày đêm bám biển mẹ tổ quốc vẫn luôn ở bên ta như màu ấm trong màu nước Việt mang cho nó một tình yêu của người mẹ luôn hướng con và trong đó một sự chờ đợi và biết trân trọng của người Mẹ đối với tổ quốc và những người con đang bám biển ngoài xa Câu 5: Ấn tượng với hình ảnh trong đoạn trích là là hình ảnh đất nước được viết bằng máu và cả ngàn chương sử đỏ ở phần đầu trích. hình ảnh này mang tính khái quát cao về lịch sử dựng nước và đầy gian khổ nhưng cũng rất tự hào của dân tộc Việt Nam cũng là minh chứng cho tinh thần quyết tử quyết sinh, với một câu mãnh liệt” thả quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” sẵn sàng hy sinh tính mạng của vạn người con để đổi lấy sự trường tồn thịnh vượng của tổ quốc. Trong đó hình ảnh đã được truyền cho em một ngọn lửa với tình yêu nước mãnh liệt với niềm xúc động trước những hình ảnh đóng góp thầm lặng của các bậc cha anh về thời chiến và cũng như thời bình.
Câu 1 - đoạn trích được viết theo thể thơ tám chữ Câu 2: - Một số từ ngữ tiêu biểu thể hiện hình ảnh của biển đảo và đất nước là: biển, sóng dữ, hoàng Sa, tổ quốc, màu cờ nước Việt, ngư dân…. Câu 3: -Biện pháp tu từ so sánh -Dấu hiệu: Mẹ tổ quốc vẫn luôn ở bên ta >< máu ấm trong màu cờ nước Việt -NT: Tăng sức gợi hình gợi cảm giúp tính sinh động gợi hình ảnh sự diễn đạt thêm sâu sắc -ND: Nội dung nói về nói về tình yêu thương vô bờ của mẹ và khẳng định được sự gắn bó của mẹ đến với tổ quốc như trong máu ấm trong màu cờ nước Việt khẳng định được sự gắn bó của tổ quốc đối với mỗi người dân Việt Nam mang trong tình yêu quê hương tình yêu đất nước cho thấy tình yêu nồng nàn dành cho tổ quốc của người dân nói chung và tác giả nói riêng Câu 4: -Qua đoạn trích trên thể hiện những tình cảm của nhà thơ dành cho biển đảo tổ quốc là: mang trong đó một tình yêu thương vô bờ và niềm tự hào mãnh liệt đối với lịch sử dân tộc của Việt Nam ta và trong đó một lòng biết ơn đối với những người lính và ngư dân bám biển để có thể sinh sống nơi biển đảo vì trong bài có nói biển mùa này sóng giữ phía hoàng Sa các con mẹ vẫn ngày đêm bám biển mẹ tổ quốc vẫn luôn ở bên ta như màu ấm trong màu nước Việt mang cho nó một tình yêu của người mẹ luôn hướng con và trong đó một sự chờ đợi và biết trân trọng của người Mẹ đối với tổ quốc và những người con đang bám biển ngoài xa Câu 5: Ấn tượng với hình ảnh trong đoạn trích là là hình ảnh đất nước được viết bằng máu và cả ngàn chương sử đỏ ở phần đầu trích. hình ảnh này mang tính khái quát cao về lịch sử dựng nước và đầy gian khổ nhưng cũng rất tự hào của dân tộc Việt Nam cũng là minh chứng cho tinh thần quyết tử quyết sinh, với một câu mãnh liệt” thả quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” sẵn sàng hy sinh tính mạng của vạn người con để đổi lấy sự trường tồn thịnh vượng của tổ quốc. Trong đó hình ảnh đã được truyền cho em một ngọn lửa với tình yêu nước mãnh liệt với niềm xúc động trước những hình ảnh đóng góp thầm lặng của các bậc cha anh về thời chiến và cũng như thời bình
Câu 1 - đoạn trích được viết theo thể thơ tám chữ Câu 2: - Một số từ ngữ tiêu biểu thể hiện hình ảnh của biển đảo và đất nước là: biển, sóng dữ, hoàng Sa, tổ quốc, màu cờ nước Việt, ngư dân…. Câu 3: -Biện pháp tu từ so sánh -Dấu hiệu: Mẹ tổ quốc vẫn luôn ở bên ta >< máu ấm trong màu cờ nước Việt -NT: Tăng sức gợi hình gợi cảm giúp tính sinh động gợi hình ảnh sự diễn đạt thêm sâu sắc -ND: Nội dung nói về nói về tình yêu thương vô bờ của mẹ và khẳng định được sự gắn bó của mẹ đến với tổ quốc như trong máu ấm trong màu cờ nước Việt khẳng định được sự gắn bó của tổ quốc đối với mỗi người dân Việt Nam mang trong tình yêu quê hương tình yêu đất nước cho thấy tình yêu nồng nàn dành cho tổ quốc của người dân nói chung và tác giả nói riêng Câu 4: -Qua đoạn trích trên thể hiện những tình cảm của nhà thơ dành cho biển đảo tổ quốc là: mang trong đó một tình yêu thương vô bờ và niềm tự hào mãnh liệt đối với lịch sử dân tộc của Việt Nam ta và trong đó một lòng biết ơn đối với những người lính và ngư dân bám biển để có thể sinh sống nơi biển đảo vì trong bài có nói biển mùa này sóng giữ phía hoàng Sa các con mẹ vẫn ngày đêm bám biển mẹ tổ quốc vẫn luôn ở bên ta như màu ấm trong màu nước Việt mang cho nó một tình yêu của người mẹ luôn hướng con và trong đó một sự chờ đợi và biết trân trọng của người Mẹ đối với tổ quốc và những người con đang bám biển ngoài xa Câu 5: Ấn tượng với hình ảnh trong đoạn trích là là hình ảnh đất nước được viết bằng máu và cả ngàn chương sử đỏ ở phần đầu trích. hình ảnh này mang tính khái quát cao về lịch sử dựng nước và đầy gian khổ nhưng cũng rất tự hào của dân tộc Việt Nam cũng là minh chứng cho tinh thần quyết tử quyết sinh, với một câu mãnh liệt” thả quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” sẵn sàng hy sinh tính mạng của vạn người con để đổi lấy sự trường tồn thịnh vượng của tổ quốc. Trong đó hình ảnh đã được truyền cho em một ngọn lửa với tình yêu nước mãnh liệt với niềm xúc động trước những hình ảnh đóng góp thầm lặng của các bậc cha anh về thời chiến và cũng như thời bình
Câu 1 (khoảng 200 chữ) Giữa nhịp sống hiện đại cuồn cuộn, khi những tòa nhà vươn cao và dòng người hối hả cuốn ta đi xa dần những lối mòn đất đỏ, việc gìn giữ bản sắc quê hương trở thành một điểm tựa lặng lẽ mà bền bỉ cho thế hệ trẻ. Bản sắc ấy không chỉ là tiếng nói, làn điệu dân ca hay phong tục tập quán, mà còn là ký ức, là cách con người đối đãi với nhau, là nếp nghĩ và cốt cách được bồi đắp qua bao đời. Khi người trẻ biết trân trọng nguồn cội, họ sẽ không bị lạc lõng giữa thế giới rộng lớn, bởi trong sâu thẳm luôn có một “điểm về” nâng đỡ tâm hồn. Giữ gìn bản sắc không có nghĩa là khép mình trước cái mới, mà là biết chọn lọc, dung hòa, để hội nhập mà không hòa tan. Chính từ nền tảng quê hương, người trẻ có thể tự tin bước ra thế giới, mang theo vẻ đẹp riêng của dân tộc như một dấu ấn không thể trộn lẫn. Vì thế, gìn giữ bản sắc quê hương không chỉ là trách nhiệm, mà còn là cách để mỗi người trẻ hiểu mình là ai giữa dòng đời rộng lớn. Câu 2 (khoảng 600 chữ) Trong dòng chảy của văn học, hình ảnh quê hương luôn hiện lên như một miền ký ức vừa gần gũi vừa xa xăm, nơi con người tìm về để nhận ra chính mình. So sánh giá trị nội dung của văn bản ở phần Đọc hiểu với bài thơ “Về làng” của Đỗ Viết Tuyên, có thể thấy một điểm gặp gỡ sâu sắc: cả hai đều khơi dậy ý nghĩa của quê hương như cội nguồn bản sắc và nơi neo giữ tâm hồn con người, đặc biệt trong bối cảnh đổi thay không ngừng của cuộc sống hiện đại. Trước hết, nếu văn bản ở phần Đọc hiểu nhấn mạnh ý nghĩa của việc gìn giữ bản sắc quê hương đối với thế hệ trẻ—coi đó là nền tảng để con người không bị đánh mất mình trong quá trình hội nhập—thì bài thơ “Về làng” lại thể hiện điều ấy bằng những rung động tinh tế, giàu chất trữ tình. Nhân vật trữ tình trong bài thơ mang theo một nỗi vội vã, “xuống tàu vội vã về quê”, như thể chỉ cần chậm một nhịp thôi là sẽ đánh mất điều gì đó rất thiêng liêng. Quê hương trong thơ không phải khái niệm trừu tượng, mà hiện lên qua những hình ảnh cụ thể: con đê đầu làng, cánh đồng heo may, khói bếp lam chiều… Tất cả gợi nên một không gian thân thuộc, ấm áp, nơi lưu giữ ký ức tuổi thơ và những giá trị bền vững của đời sống. Điểm tương đồng thứ hai là cả hai văn bản đều thể hiện nỗi trăn trở trước sự phai nhạt của những giá trị truyền thống. Nếu văn bản Đọc hiểu có thể đặt ra vấn đề một cách trực tiếp—rằng trong thời đại mới, người trẻ dễ xa rời cội nguồn—thì bài thơ lại gợi lên điều đó bằng cảm xúc man mác: “Người xưa giờ có còn sang hát chèo”, “Nhà ai khói bếp lam chiều…”. Những câu thơ như một tiếng hỏi khẽ, vừa bâng khuâng vừa lo lắng, như thể những gì quen thuộc đang dần lùi xa vào quá khứ. Đặc biệt, câu kết “Tóc xanh đã bạc mà chưa tới làng” mang theo một nỗi tiếc nuối sâu sắc: con người mải miết đi qua cuộc đời, đến khi ngoảnh lại thì quê hương không còn nguyên vẹn như xưa, hoặc chính mình đã không còn đủ thời gian để trở về trọn vẹn. Tuy nhiên, giữa hai văn bản cũng có những điểm khác biệt đáng chú ý. Văn bản Đọc hiểu thiên về lập luận, lý giải, mang tính khái quát cao; nó hướng người đọc đến nhận thức và hành động cụ thể: phải biết gìn giữ bản sắc như một trách nhiệm của thế hệ trẻ. Trong khi đó, bài thơ “Về làng” lại đi theo con đường cảm xúc, không trực tiếp kêu gọi mà để người đọc tự lắng nghe tiếng lòng mình. Nếu văn bản giống như một lời nhắc nhở tỉnh táo, thì bài thơ lại là một nỗi nhớ dịu dàng, thấm dần vào tâm hồn, khiến ta tự nhiên muốn quay về, muốn níu giữ những gì tưởng như rất đỗi bình thường. Từ sự so sánh ấy, có thể nhận ra rằng dù được thể hiện bằng hai cách khác nhau—một bên là nghị luận, một bên là trữ tình—cả hai văn bản đều gặp nhau ở một thông điệp chung: quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra, mà còn là nơi lưu giữ bản sắc, ký ức và căn cước tinh thần của mỗi con người. Trong thế giới đang đổi thay từng ngày, việc hướng về quê hương, gìn giữ những giá trị truyền thống không chỉ giúp con người không bị lạc lối, mà còn làm cho hành trình đi xa trở nên ý nghĩa hơn. Và có lẽ, trong sâu thẳm mỗi người, luôn tồn tại một con đường dẫn về “làng”—một con đường không chỉ đo bằng khoảng cách, mà còn được đong đếm bằng nỗi nhớ và sự thức tỉnh của tâm hồn.
Câu 1 Văn bản được viết theo thể thơ tự do. Câu 2 Một hình ảnh thơ mang tính biểu tượng cho cuộc sống làng biển: "làng là mảnh lưới trăm năm" hoặc "những cánh buồm quê" hay "những mái nhà hình mắt lưới".
Câu 3 Hình ảnh "mẹ tôi bạc đầu sau những đêm đợi biển" gợi:Sự chờ đợi mỏi mòn, đầy lo âu của người mẹ có chồng, con bám biển và nỗi vất vả, hi sinh thầm lặng của người phụ nữ làng chài. Ngoài ra, hình ảnh còn thể hiện nỗi đau, nỗi thương và tình cảm sâu nặng của tác giả đối với con người quê biển. Cuối cùng, hình ảnh góp phần làm nổi bật chủ đề bài thơ: Cuộc sống nhọc nhằn nhưng giàu tình yêu quê hương.
Câu 4
"Làng là mảnh lưới trăm năm" gợi cuộc sống làng chài gắn bó bền chặt với biển qua nhiều thế hệ và truyền thống lao động biển được cha ông gìn giữ, nối tiếp. Con người trong làng gắn bó, đùm bọc nhau như những mắt lưới và thể hiện chiều sâu lịch sử và bản sắc riêng của làng biển. Câu 5
Con người làng biển hiện lên với sự bền bỉ, nhẫn nại trước sóng gió thiên nhiên. Lao động vất vả giúp họ tạo dựng cuộc sống và nuôi dưỡng niềm hi vọng. Lao động bền bỉ góp phần hình thành giá trị sống chân chính của con người. Trong cuộc sống hôm nay, mỗi người cần kiên trì, nỗ lực trong học tập và công việc. Chính sự nhẫn nại, không bỏ cuộc giúp con người vượt qua khó khăn và khẳng định ý nghĩa cuộc đời mình.