Lê Thị Nhường
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên. → Bài thơ được viết theo thể thơ tự do (không gò bó số câu, số chữ; nhịp linh hoạt). Câu 2. Nhận xét về nhịp thơ của bài thơ. → Nhịp thơ linh hoạt, biến đổi theo cảm xúc. → Có những câu ngắn tạo cảm giác dồn nén, suy tư; có những câu dài diễn tả dòng cảm xúc mãnh liệt. → Nhịp điệu góp phần thể hiện tâm trạng yêu đương da diết, khát khao nhưng cũng nhiều trăn trở. Câu 3. Phát biểu đề tài, chủ đề của bài thơ. Đề tài: Tình yêu đôi lứa. Chủ đề: Bài thơ thể hiện quan niệm về tình yêu đầy trăn trở, khát khao nhưng cũng nhiều lo âu, mất mát. Qua đó, tác giả bộc lộ nỗi niềm cô đơn và sự say mê mãnh liệt trong tình yêu. Câu 4. Phân tích ý nghĩa của một hình ảnh ấn tượng trong văn bản. Một hình ảnh tiêu biểu là: “Yêu, là chết ở trong lòng một ít.” → Đây là hình ảnh ẩn dụ giàu ý nghĩa. → “Chết” ở đây không phải là cái chết thực sự mà là sự tổn thương tinh thần, sự đau khổ khi yêu mà không được đáp lại. → Câu thơ thể hiện quan niệm tình yêu đầy nhạy cảm của Xuân Diệu: yêu là hạnh phúc nhưng cũng chứa đựng nhiều nỗi đau, lo sợ mất mát. → Hình ảnh này làm nổi bật tâm trạng cô đơn, khát khao yêu thương mãnh liệt của cái “tôi” trữ tình. Câu 5. Văn bản gợi cho em những cảm nhận và suy nghĩ gì? Bài thơ giúp em hiểu rằng tình yêu luôn đi kèm với cảm xúc mạnh mẽ, có cả hạnh phúc và đau khổ. Tình yêu khiến con người trở nên nhạy cảm, dễ rung động nhưng cũng dễ tổn thương. Qua đó, em nhận ra rằng khi yêu cần chân thành, nhưng cũng cần sự tỉnh táo và trân trọng. Bài thơ còn cho thấy phong cách thơ độc đáo của Xuân Diệu – nhà thơ của tình yêu và tuổi trẻ, với cảm xúc mãnh liệt và sâu sắc.
Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên. → Bài thơ được viết theo thể thơ tự do (không gò bó số câu, số chữ; nhịp linh hoạt). Câu 2. Nhận xét về nhịp thơ của bài thơ. → Nhịp thơ linh hoạt, biến đổi theo cảm xúc. → Có những câu ngắn tạo cảm giác dồn nén, suy tư; có những câu dài diễn tả dòng cảm xúc mãnh liệt. → Nhịp điệu góp phần thể hiện tâm trạng yêu đương da diết, khát khao nhưng cũng nhiều trăn trở. Câu 3. Phát biểu đề tài, chủ đề của bài thơ. Đề tài: Tình yêu đôi lứa. Chủ đề: Bài thơ thể hiện quan niệm về tình yêu đầy trăn trở, khát khao nhưng cũng nhiều lo âu, mất mát. Qua đó, tác giả bộc lộ nỗi niềm cô đơn và sự say mê mãnh liệt trong tình yêu. Câu 4. Phân tích ý nghĩa của một hình ảnh ấn tượng trong văn bản. Một hình ảnh tiêu biểu là: “Yêu, là chết ở trong lòng một ít.” → Đây là hình ảnh ẩn dụ giàu ý nghĩa. → “Chết” ở đây không phải là cái chết thực sự mà là sự tổn thương tinh thần, sự đau khổ khi yêu mà không được đáp lại. → Câu thơ thể hiện quan niệm tình yêu đầy nhạy cảm của Xuân Diệu: yêu là hạnh phúc nhưng cũng chứa đựng nhiều nỗi đau, lo sợ mất mát. → Hình ảnh này làm nổi bật tâm trạng cô đơn, khát khao yêu thương mãnh liệt của cái “tôi” trữ tình. Câu 5. Văn bản gợi cho em những cảm nhận và suy nghĩ gì? Bài thơ giúp em hiểu rằng tình yêu luôn đi kèm với cảm xúc mạnh mẽ, có cả hạnh phúc và đau khổ. Tình yêu khiến con người trở nên nhạy cảm, dễ rung động nhưng cũng dễ tổn thương. Qua đó, em nhận ra rằng khi yêu cần chân thành, nhưng cũng cần sự tỉnh táo và trân trọng. Bài thơ còn cho thấy phong cách thơ độc đáo của Xuân Diệu – nhà thơ của tình yêu và tuổi trẻ, với cảm xúc mãnh liệt và sâu sắc.
Câu 1
Bài thơ Khán “Thiên gia thi” hữu cảm thể hiện quan điểm nghệ thuật sâu sắc của Hồ Chí Minh về thơ ca. Qua việc so sánh thơ cổ và thơ hiện đại, tác giả khẳng định thơ xưa thường thiên về vẻ đẹp thiên nhiên như núi, sông, trăng, gió, còn thơ hiện đại cần có tính chiến đấu và tinh thần thời đại. Bài thơ sử dụng nghệ thuật đối lập chặt chẽ, ngôn ngữ ngắn gọn nhưng giàu ý nghĩa. Qua đó, ta thấy được tư tưởng tiến bộ của Bác: văn học phải gắn liền với thực tiễn, phục vụ cách mạng và cuộc sống. Tác phẩm không chỉ thể hiện sự am hiểu thơ ca mà còn bộc lộ trách nhiệm của người nghệ sĩ trước dân tộc. Bài thơ vì thế mang giá trị nghệ thuật và giá trị tư tưởng sâu sắc.
Câu 2
Trong thời đại ngày nay, việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc là nhiệm vụ quan trọng của mỗi người, đặc biệt là giới trẻ. Văn hóa truyền thống là nền tảng hình thành nên bản sắc dân tộc, là những giá trị tốt đẹp được cha ông ta vun đắp qua hàng nghìn năm lịch sử như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, trang phục truyền thống, lễ hội, phong tục tập quán… Giới trẻ hôm nay sống trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng. Bên cạnh nhiều cơ hội phát triển, chúng ta cũng phải đối mặt với nguy cơ mai một bản sắc văn hóa nếu không có ý thức giữ gìn. Vì vậy, thanh niên cần hiểu rõ giá trị của truyền thống để có hành động cụ thể như: tích cực tìm hiểu lịch sử dân tộc, tham gia các hoạt động văn hóa, giữ gìn tiếng Việt trong sáng, trân trọng trang phục và phong tục truyền thống. Đồng thời, cần biết tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới một cách chọn lọc, không chạy theo lối sống lệch lạc hay xa rời cội nguồn. Giữ gìn truyền thống không có nghĩa là bảo thủ, mà là kế thừa và phát huy một cách sáng tạo. Giới trẻ có thể quảng bá văn hóa Việt Nam qua mạng xã hội, du lịch, nghệ thuật, góp phần đưa hình ảnh đất nước đến với bạn bè quốc tế. Khi mỗi người trẻ ý thức được trách nhiệm của mình, văn hóa dân tộc sẽ được bảo tồn và phát triển bền vững trong thời đại mới. Tóm lại, giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống là nhiệm vụ thiêng liêng của thế hệ trẻ. Đó không chỉ là trách nhiệm mà còn là niềm tự hào, góp phần xây dựng một Việt Nam giàu bản sắc, hội nhập nhưng không hòa tan.
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên. → Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt (Đường luật) (mỗi câu 7 chữ, gồm 4 câu). Câu 2. Xác định luật của bài thơ. → Bài thơ thuộc luật bằng (vần “phong” được gieo ở các câu 1, 2, 4). Bài thơ tuân theo niêm, luật và cách gieo vần của thơ Đường luật. Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ em ấn tượng trong bài thơ. Một biện pháp nổi bật là phép đối: Cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ ↔ Hiện đại thi trung ưng hữu thiết Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong ↔ Thi gia dã yếu hội xung phong → Tác dụng: Làm nổi bật sự khác biệt giữa thơ cổ và thơ hiện đại. Nhấn mạnh quan điểm: thơ hiện đại không chỉ tả cảnh đẹp mà còn phải có tính chiến đấu, gắn với thực tế. Tạo sự cân đối, hài hòa, tăng tính chặt chẽ cho bài thơ. Câu 4. Vì sao tác giả cho rằng: “Hiện đại thi trung ưng hữu thiết, / Thi gia dã yếu hội xung phong”? → Vì trong hoàn cảnh đất nước đang đấu tranh, thơ ca không thể chỉ dừng lại ở việc thưởng thức cái đẹp thiên nhiên như thơ cổ. → Thơ hiện đại cần có tính hiện thực, tính chiến đấu, góp phần phục vụ cách mạng, cổ vũ tinh thần đấu tranh. → Nhà thơ cũng phải có trách nhiệm với thời đại, với đất nước. Câu 5. Nhận xét về cấu tứ của bài thơ. → Bài thơ có cấu tứ rõ ràng, chặt chẽ theo kiểu đối lập – so sánh giữa thơ cổ và thơ hiện đại. → Từ việc nêu đặc điểm thơ cổ → chuyển sang yêu cầu của thơ hiện đại → thể hiện quan điểm nghệ thuật tiến bộ. → Cấu tứ logic, súc tích, giàu tính tư tưởng
Câu 1
Di tích lịch sử là “chứng nhân” sống động của quá khứ, nơi lưu giữ hồn cốt và bản sắc dân tộc. Bảo tồn di tích hiện nay không chỉ là giữ lại gạch đá, mà là giữ lại cội nguồn để thế hệ sau hiểu mình là ai. Tuy nhiên, nhiều di tích đang xuống cấp vì thời gian, ô nhiễm và cả sự thờ ơ, thương mại hóa. Bảo tồn không có nghĩa là “đóng khung” di tích, mà phải gắn với đời sống: tôn tạo đúng cách, giáo dục ý thức cho người dân, và khai thác du lịch bền vững. Khi ta biết trân trọng những vết tích cha ông để lại, ta mới có điểm tựa vững chắc để bước tới tương lai. Mỗi viên gạch cổ được giữ lại hôm nay chính là một bài học lịch sử sống mãi cho ngày mai.
Câu 2
“Đồng dao cho người lớn” của Nguyễn Trọng Tạo là một tiếng thở dài xót xa trước những nghịch lý của đời sống hiện đại. Mượn hình thức đồng dao vốn dành cho trẻ em, nhà thơ đã gửi gắm những chiêm nghiệm sâu sắc, đánh thức lương tri của người lớn giữa một xã hội nhiều biến động. Về nội dung, bài thơ là bản tổng kết những điều “có” đầy trớ trêu, phi lý đang tồn tại. Đó là “cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi” - sự hủy hoại thiên nhiên nhưng con người vẫn tự ru ngủ mình. Đó là “con người sống mà như qua đời” - lối sống vô cảm, tồn tại mà không có ý nghĩa. Hàng loạt nghịch lý tiếp nối: “câu trả lời biến thành câu hỏi”, “ngoại tình ngỡ là tiệc cưới”, “có cha có mẹ có trẻ mồ côi”, “có cả đất trời mà không nhà cửa”. Tất cả phơi bày một thực tại đảo lộn giá trị, nơi cái giả lấn át cái thật, nơi con người cô đơn ngay trong chính cộng đồng. Hai câu thơ “mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ / mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió” như một nốt lặng. Dù đời nhiều cay đắng, thiên nhiên và khát vọng sống vẫn bền bỉ tồn tại. Câu kết “có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi” mang sức nặng triết lý: đời người ngắn ngủi, nhưng những mất mát, lầm lạc có thể khiến ta đánh mất cả một kiếp người. Về nghệ thuật, thành công lớn nhất là nhà thơ dùng hình thức đồng dao để nói chuyện người lớn. Điệp từ “có” ở đầu câu tạo nhịp điệu như lời kể trẻ thơ, nhưng càng đọc càng trĩu nặng suy tư. Biện pháp đối lập, nghịch lý được sử dụng dày đặc: chết - xanh, sống - qua đời, tiệc cưới - ngoại tình, đất trời - không nhà cửa. Chính sự đối lập gay gắt này xoáy sâu vào nhận thức, buộc người đọc phải giật mình nhìn lại. Ngôn ngữ thơ giản dị, đời thường nhưng giàu sức gợi và đa nghĩa. Giọng thơ vừa như kể, vừa như trách móc, xót xa, mang đậm chất suy tư, triết lý. Tóm lại, “Đồng dao cho người lớn” không ru ta vào giấc ngủ tuổi thơ mà đánh thức ta khỏi cơn mộng mị của người lớn. Bài thơ là lời cảnh tỉnh về lối sống, về sự tha hóa giá trị trong xã hội hiện đại. Nó nhắc mỗi chúng ta hãy sống chậm lại, sống thật hơn để không phải ân hận trong “cái chớp mắt nghìn năm” của đời người.
Câu 1: Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin tổng hợp. Vì văn bản cung cấp các tri thức, dữ liệu khách quan về Vạn Lý Trường Thành trên nhiều khía cạnh: lịch sử xây dựng, thực trạng, quy mô, kết cấu, vật liệu... nhằm giúp người đọc hiểu rõ hơn về di tích này. Câu 2: Đối tượng thông tin được đề cập đến trong văn bản là gì? Đối tượng thông tin chính là Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc. Văn bản xoay quanh 10 sự thật/đặc điểm nổi bật về công trình này. Câu 3: Là dữ liệu thứ cấp. Vì tác giả không trực tiếp nghiên cứu, đo đạc mà tổng hợp từ các nguồn khác. , Vạn Lý Trường Thành đang 'biến mất dần theo năm tháng'" hoặc "Thống kê của UNESCO cho thấy gần một phần ba công trình này đã biến mất", "Theo Daily mail, tổng chiều dài... là 21.196,18 km". Câu 4: Chỉ ra và nêu tác dụng của việc sử dụng phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ trong văn bản. - Phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng: Hình ảnh minh họa Vạn Lý Trường Thành. - Tác dụng: Giúp người đọc hình dung trực quan, cụ thể về quy mô và hình dáng của Vạn Lý Trường Thành. Tăng tính hấp dẫn, sinh động cho văn bản thông tin, tránh khô khan toàn chữ. Câu 5: Văn bản gợi cho em suy nghĩ gì về đối tượng thông tin Văn bản cho thấy Vạn Lý Trường Thành là một kỳ quan vĩ đại, kết tinh công sức và trí tuệ của con người qua hàng ngàn năm. Tuy nhiên, công trình cũng đang bị tàn phá bởi thời gian và con người. Điều này gợi cho em sự khâm phục trước tầm vóc lịch sử của di tích, đồng thời là lời nhắc nhở về trách nhiệm bảo tồn các di sản văn hóa của nhân loại để thế hệ sau còn được chiêm ngưỡng.
Câu 1 Văn bản được kể theo ngôi thứ ba. Người kể chuyện giấu mình, gọi các nhân vật bằng tên hoặc đại từ như “lão Goriot”, “ông cụ”, “Biăng-sông”, “Rastignac”… Nhờ đó, câu chuyện được thuật lại một cách khách quan, chân thực. Câu 2 Đề tài của văn bản là: bi kịch của người cha hết lòng yêu thương con nhưng bị con cái vô tâm, bạc bẽo; qua đó ca ngợi tình phụ tử thiêng liêng và phê phán sự ích kỉ, vô ơn của con cái. Câu 3. Lời nói của lão Goriot gợi nhiều xúc động sâu sắc. Đó là nỗi đau đớn, tủi cực của một người cha dành trọn đời cho con nhưng cuối cùng lại không nhận được tình yêu thương đáp lại. Dù bị các con phụ bạc, lão vẫn luôn yêu thương, lo lắng và khát khao được gặp con trong giây phút cuối đời. Câu nói “Ta luôn thấy khát nhưng không bao giờ được uống” là hình ảnh ẩn dụ cho nỗi khát khao tình cảm của người cha. Qua đó, em càng thấm thía sự thiêng liêng của tình phụ tử và thấy cần phải biết yêu thương, trân trọng cha mẹ khi còn có thể. Câu 4 Lão Goriot vẫn khao khát gặp các con ngay sau khi nguyền rủa, mắng chửi chúng vì: Lão là một người cha hết mực yêu thương con. Tình yêu của cha mẹ dành cho con là vô điều kiện, bao dung và vị tha. Dù bị con làm tổn thương, lão vẫn không thể ngừng yêu thương hay thôi lo lắng cho các con. Trong giây phút cuối đời, điều lão mong mỏi nhất vẫn là được nhìn thấy con, được con quan tâm, yêu thương. Câu 5 Tình cảnh cuối đời của lão Goriot vô cùng bi thương, cô độc và đáng thương. Từ một người giàu có, lão trở nên nghèo khổ vì hi sinh tất cả cho con. Khi hấp hối, lão không có các con ở bên chăm sóc, tiễn biệt. Lão ra đi trong nỗi đau đớn, tuyệt vọng và cô đơn. Cái chết của lão là lời tố cáo mạnh mẽ sự vô tâm, bất hiếu của con cái, đồng thời làm nổi bật tình yêu thương bao la, cao cả của người cha. Qua đó, tác giả gửi gắm thông điệp sâu sắc về tình thân và đạo làm con trong cuộc sống.
Câu 1 (khoảng 200 chữ) Lão Goriot trong đoạn trích hiện lên là hình tượng người cha giàu lòng yêu thương, giàu đức hi sinh nhưng có số phận vô cùng bi thương. Suốt cuộc đời, lão dành trọn tình yêu và tài sản cho hai cô con gái, mong các con được sống sung túc, hạnh phúc. Ngay cả khi bị các con lợi dụng, bòn rút đến trắng tay, lão vẫn không một lời oán trách. Trong những giây phút cuối đời, điều lão khao khát nhất vẫn là được gặp các con. Câu nói: “Con phải yêu quý cha mẹ con” vừa là lời nhắn nhủ chân thành, vừa chứa đựng biết bao nỗi đau của một người cha từng bị con cái phụ bạc. Hình ảnh lão Goriot “luôn thấy khát nhưng không bao giờ được uống” là ẩn dụ sâu sắc cho nỗi khát khao tình yêu thương, sự quan tâm của con cái mà cả đời lão không được đáp lại. Nhân vật là biểu tượng cho tình phụ tử thiêng liêng, bất diệt; đồng thời gợi lên niềm xót xa trước bi kịch của những bậc cha mẹ yêu con vô điều kiện nhưng lại bị chính con cái lãng quên.
Câu 2 (khoảng 600 chữ) Trong cuộc sống, gia đình là chiếc nôi nuôi dưỡng tâm hồn con người, là nơi bắt đầu và cũng là nơi để trở về. Thế nhưng, trong xã hội hiện đại, khoảng cách giữa cha mẹ và con cái đang ngày càng trở thành một vấn đề đáng suy ngẫm. Sự xa cách ấy không chỉ là khoảng cách về không gian, thời gian mà còn là khoảng cách trong tâm hồn, trong sự thấu hiểu và sẻ chia. Trước hết, xa cách giữa cha mẹ và con cái là tình trạng hai thế hệ thiếu sự gắn kết, khó đồng cảm với nhau. Cha mẹ có thể sống cùng con nhưng không thực sự hiểu con nghĩ gì, mong muốn gì. Ngược lại, con cái cũng nhiều khi không cảm nhận được tình yêu, sự hi sinh và những lo toan của cha mẹ. Khi những cuộc trò chuyện dần ít đi, khi bữa cơm gia đình trở nên vội vã, khi mỗi người chìm trong thế giới riêng của mình, khoảng cách ấy ngày càng lớn. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này. Cuộc sống hiện đại với nhịp sống hối hả khiến cha mẹ bận rộn mưu sinh, ít có thời gian dành cho con. Trong khi đó, con cái lại bị cuốn vào việc học, bạn bè và đặc biệt là các thiết bị công nghệ. Điện thoại thông minh, mạng xã hội đôi khi trở thành “bức tường vô hình” ngăn cách các thành viên trong gia đình. Bên cạnh đó, sự khác biệt về thế hệ cũng tạo nên khoảng cách trong suy nghĩ. Cha mẹ thường nhìn nhận vấn đề theo kinh nghiệm của mình, còn con cái lại mong muốn được tự do, được lắng nghe và tôn trọng. Khi cả hai bên đều thiếu kiên nhẫn, thiếu sự chia sẻ, những hiểu lầm dễ nảy sinh. Hậu quả của sự xa cách là vô cùng lớn. Với con cái, việc thiếu sự quan tâm, định hướng từ cha mẹ có thể khiến các em cảm thấy cô đơn, lạc lõng, dễ bị ảnh hưởng bởi những tác động tiêu cực từ bên ngoài. Với cha mẹ, sự thờ ơ của con cái là nỗi buồn sâu sắc, là cảm giác hụt hẫng khi tình yêu thương không được đáp lại. Xa hơn, sự rạn nứt trong mối quan hệ gia đình sẽ làm suy giảm những giá trị truyền thống tốt đẹp, khiến mái ấm không còn là chỗ dựa tinh thần vững chắc. Tuy nhiên, khoảng cách ấy hoàn toàn có thể được thu hẹp nếu cả cha mẹ và con cái cùng nỗ lực. Cha mẹ cần dành nhiều thời gian hơn cho con, biết lắng nghe, tôn trọng suy nghĩ và cảm xúc của con thay vì áp đặt. Tình yêu thương không chỉ thể hiện qua sự chăm lo vật chất mà còn qua sự đồng hành và thấu hiểu. Về phía con cái, cần biết trân trọng công lao sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ; chủ động chia sẻ, trò chuyện và quan tâm đến cha mẹ nhiều hơn. Một lời hỏi han, một bữa cơm quây quần hay một cuộc trò chuyện chân thành đôi khi cũng đủ để kéo các thành viên lại gần nhau. Là người trẻ, em nhận thức rằng việc giữ gìn và vun đắp tình cảm gia đình là trách nhiệm của mỗi người. Em sẽ học cách lắng nghe cha mẹ, chia sẻ những niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống và sống có trách nhiệm hơn. Bởi gia đình là nơi duy nhất luôn yêu thương ta vô điều kiện. Nhìn lại bi kịch của lão Goriot, ta càng thấm thía giá trị của tình thân. Đừng để đến khi mất đi mới nhận ra những điều quý giá nhất luôn ở bên mình. Hãy yêu thương cha mẹ khi còn có thể, bởi tình cảm gia đình là tài sản vô giá mà không gì có thể thay thế.
Câu 1
Trong bài thơ “Những người đàn bà gánh nước sông”, Nguyễn Quang Thiều đã khắc họa hình ảnh người phụ nữ nông thôn với vẻ đẹp vừa lam lũ, vừa bền bỉ, giàu đức hi sinh. Họ hiện lên qua những chi tiết rất chân thực: “ngón chân xương xẩu”, “móng dài và đen”, mái tóc rối, lưng áo ướt. Những hình ảnh ấy gợi lên bao nhọc nhằn, vất vả của cuộc đời lao động. Dù phải gánh trên vai nỗi lo cơm áo, họ vẫn kiên cường, nhẫn nại, âm thầm gánh vác gia đình. Một tay bám vào đầu đòn gánh, tay kia như “bám vào mây trắng”, cho thấy khát vọng vươn tới những điều tốt đẹp giữa cuộc sống nhọc nhằn. Họ không chỉ là những con người lao động bình dị mà còn là biểu tượng của sức sống bền bỉ và sự hi sinh thầm lặng. Qua hình tượng ấy
Câu 1. Thể thơ: Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2. Phương thức biểu đạt: Bài thơ sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạt: Biểu cảm (là phương thức chính): bộc lộ tình cảm, sự trân trọng, xót xa của tác giả Tự sự: kể về cuộc đời, số phận của những người phụ nữ gánh nước. Miêu tả: khắc họa ngoại hình, dáng vẻ và công việc của họ
Câu 3. Tác dụng của việc lặp lại câu thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” Nhấn mạnh sự quan sát lâu dài, bền bỉ của tác giả qua nhiều năm tháng. Thể hiện hình ảnh những người phụ nữ gánh nước đã trở thành một phần quen thuộc, gắn bó của cuộc sống làng quê
Câu 4. Đề tài và chủ đề của bài thơ Đề tài: Cuộc sống lao động của người phụ nữ nông thôn, đặc biệt là những người đàn bà gánh nước sông. Chủ đề: Ca ngợi vẻ đẹp tần tảo, nhẫn nại, giàu đức hi sinh của người phụ nữ; đồng thời thể hiện niềm cảm thương trước cuộc đời lam lũ, vất vả và số phận nhiều nhọc nhằn của họ trong vòng quay bất tận của cuộc sống
Câu 5. Những suy nghĩ gợi ra từ bài thơ Bài thơ khiến em cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam: tần tảo, chịu thương chịu khó và giàu đức hi sinh. Dù cuộc sống nhiều nhọc nhằn, họ vẫn lặng lẽ gánh vác gia đình, nuôi dưỡng và chở che cho các thế hệ. Qua đó, em càng thêm trân trọng những người mẹ, người bà quanh mình. Bài thơ cũng nhắc nhở mỗi người cần biết yêu thương, sẻ chia và biết ơn những hi sinh thầm lặng của người phụ nữ. Đồng thời, chúng ta cần có trách nhiệm góp phần xây dựng một xã hội công bằng, nơi phụ nữ được tôn trọng, yêu thương và có điều kiện sống tốt đẹp hơn