Bùi Bảo Ngân
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 Bi kịch của gia đình ông lão mù trong văn bản “Không một tiếng vang” là một nỗi đau thấm thía về sự rạn nứt tình thân dưới sức ép của nghèo đói và tiền bạc. Ông lão mù – người yếu thế, đáng lẽ phải được con cái yêu thương, chăm sóc – lại trở thành gánh nặng trong mắt chính những người thân của mình. Các con, đặc biệt là anh cả Thuận, dần bị đồng tiền chi phối, trở nên thực dụng, lạnh lùng, đặt lợi ích vật chất lên trên đạo lí làm con. Những mâu thuẫn, xung đột trong gia đình không chỉ xuất phát từ hoàn cảnh khó khăn mà còn từ sự tha hóa về nhân cách. Điều đáng buồn là tất cả diễn ra trong im lặng, “không một tiếng vang”, như một sự bế tắc và vô cảm đến đáng sợ. Bi kịch ấy không chỉ phản ánh số phận một gia đình mà còn gợi lên nỗi lo về sự xuống cấp của tình người trong xã hội khi con người bị cuốn vào vòng xoáy của “cơm áo gạo tiền”
Câu 2 Bi kịch của gia đình ông lão mù trong văn bản “Không một tiếng vang” đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về sự thờ ơ, thiếu trách nhiệm đối với những người yếu thế trong xã hội. Từ đó, ta càng nhận ra rõ hơn sự cần thiết của tinh thần nhân ái và trách nhiệm cộng đồng trong cuộc sống hôm nay. Tinh thần nhân ái là sự yêu thương, sẻ chia, biết quan tâm và giúp đỡ người khác, đặc biệt là những người gặp khó khăn, bất hạnh. Trách nhiệm cộng đồng là ý thức của mỗi cá nhân trong việc góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp, nơi không ai bị bỏ lại phía sau. Hai yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau và là nền tảng để xã hội phát triển bền vững. Trong thực tế, vẫn còn rất nhiều người yếu thế như người già neo đơn, người khuyết tật, trẻ em mồ côi… cần sự giúp đỡ. Nếu xã hội thiếu đi lòng nhân ái, họ sẽ bị bỏ rơi, sống trong cô đơn và thiệt thòi. Ngược lại, khi con người biết yêu thương, chia sẻ, những hành động dù nhỏ như giúp đỡ một cụ già qua đường, quyên góp cho người nghèo hay đơn giản là một lời hỏi han cũng có thể mang lại ý nghĩa lớn lao. Chính những điều đó góp phần làm cho xã hội trở nên ấm áp và nhân văn hơn. Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, không ít người trở nên thờ ơ, vô cảm trước nỗi đau của người khác. Một phần nguyên nhân là do áp lực cuộc sống, sự cạnh tranh và chạy theo vật chất khiến con người dần quên đi giá trị tinh thần. Đây là một thực trạng đáng lo ngại, bởi khi con người sống ích kỉ, chỉ nghĩ đến bản thân, xã hội sẽ trở nên lạnh lẽo và thiếu gắn kết. Vì vậy, mỗi người cần ý thức rõ vai trò của mình trong cộng đồng. Hãy bắt đầu từ những hành động nhỏ nhất: sống tử tế, biết yêu thương gia đình, quan tâm đến những người xung quanh và tích cực tham gia các hoạt động thiện nguyện. Đồng thời, xã hội cũng cần có những chính sách hỗ trợ thiết thực để bảo vệ và giúp đỡ những người yếu thế. Tóm lại, tinh thần nhân ái và trách nhiệm cộng đồng là những giá trị không thể thiếu trong cuộc sống. Chỉ khi con người biết yêu thương và sẻ chia, xã hội mới thực sự trở thành một nơi đáng sống, nơi mà mọi người đều được quan tâm và trân trọng.
Câu 1 Bi kịch của gia đình ông lão mù trong văn bản “Không một tiếng vang” là một nỗi đau thấm thía về sự rạn nứt tình thân dưới sức ép của nghèo đói và tiền bạc. Ông lão mù – người yếu thế, đáng lẽ phải được con cái yêu thương, chăm sóc – lại trở thành gánh nặng trong mắt chính những người thân của mình. Các con, đặc biệt là anh cả Thuận, dần bị đồng tiền chi phối, trở nên thực dụng, lạnh lùng, đặt lợi ích vật chất lên trên đạo lí làm con. Những mâu thuẫn, xung đột trong gia đình không chỉ xuất phát từ hoàn cảnh khó khăn mà còn từ sự tha hóa về nhân cách. Điều đáng buồn là tất cả diễn ra trong im lặng, “không một tiếng vang”, như một sự bế tắc và vô cảm đến đáng sợ. Bi kịch ấy không chỉ phản ánh số phận một gia đình mà còn gợi lên nỗi lo về sự xuống cấp của tình người trong xã hội khi con người bị cuốn vào vòng xoáy của “cơm áo gạo tiền”
Câu 2 Bi kịch của gia đình ông lão mù trong văn bản “Không một tiếng vang” đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về sự thờ ơ, thiếu trách nhiệm đối với những người yếu thế trong xã hội. Từ đó, ta càng nhận ra rõ hơn sự cần thiết của tinh thần nhân ái và trách nhiệm cộng đồng trong cuộc sống hôm nay. Tinh thần nhân ái là sự yêu thương, sẻ chia, biết quan tâm và giúp đỡ người khác, đặc biệt là những người gặp khó khăn, bất hạnh. Trách nhiệm cộng đồng là ý thức của mỗi cá nhân trong việc góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp, nơi không ai bị bỏ lại phía sau. Hai yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau và là nền tảng để xã hội phát triển bền vững. Trong thực tế, vẫn còn rất nhiều người yếu thế như người già neo đơn, người khuyết tật, trẻ em mồ côi… cần sự giúp đỡ. Nếu xã hội thiếu đi lòng nhân ái, họ sẽ bị bỏ rơi, sống trong cô đơn và thiệt thòi. Ngược lại, khi con người biết yêu thương, chia sẻ, những hành động dù nhỏ như giúp đỡ một cụ già qua đường, quyên góp cho người nghèo hay đơn giản là một lời hỏi han cũng có thể mang lại ý nghĩa lớn lao. Chính những điều đó góp phần làm cho xã hội trở nên ấm áp và nhân văn hơn. Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, không ít người trở nên thờ ơ, vô cảm trước nỗi đau của người khác. Một phần nguyên nhân là do áp lực cuộc sống, sự cạnh tranh và chạy theo vật chất khiến con người dần quên đi giá trị tinh thần. Đây là một thực trạng đáng lo ngại, bởi khi con người sống ích kỉ, chỉ nghĩ đến bản thân, xã hội sẽ trở nên lạnh lẽo và thiếu gắn kết. Vì vậy, mỗi người cần ý thức rõ vai trò của mình trong cộng đồng. Hãy bắt đầu từ những hành động nhỏ nhất: sống tử tế, biết yêu thương gia đình, quan tâm đến những người xung quanh và tích cực tham gia các hoạt động thiện nguyện. Đồng thời, xã hội cũng cần có những chính sách hỗ trợ thiết thực để bảo vệ và giúp đỡ những người yếu thế. Tóm lại, tinh thần nhân ái và trách nhiệm cộng đồng là những giá trị không thể thiếu trong cuộc sống. Chỉ khi con người biết yêu thương và sẻ chia, xã hội mới thực sự trở thành một nơi đáng sống, nơi mà mọi người đều được quan tâm và trân trọng.
Câu 1. Nhân vật Thông Xạ là chủ nhà cho thuê, có quan hệ chủ nợ với gia đình ông lão mù. Gia đình ông lão thuê nhà của lão Thông Xạ nhưng thiếu tiền thuê nên thường xuyên bị lão đòi nợ, đe doạ đuổi ra đường. Câu 2. Xung đột cơ bản của văn bản là: Xung đột giữa người dân nghèo khổ, lương thiện với xã hội bất công, tàn nhẫn và đồng tiền. Đồng thời còn là xung đột giữa khát vọng được sống tử tế với hiện thực đói nghèo, bế tắc khiến con người rơi vào tuyệt vọng. Câu 3. Anh cả Thuận cho rằng: “Chỉ có đồng tiền là Giời, là Phật…” Anh xem đồng tiền có sức mạnh chi phối tất cả: lương tâm, luật pháp, cả niềm tin vào Giời Phật. Quan điểm đó phản ánh: Xã hội thực dân phong kiến bất công, nơi đồng tiền thống trị mọi giá trị. Người lao động nghèo bị dồn ép đến mức mất niềm tin vào công lí và cuộc sống. Đồng thời thể hiện sự phẫn uất, bế tắc của người dân trước Cách mạng tháng Tám. Câu 4. Nhân vật chị cả Thuận được khắc hoạ với nhiều phẩm chất đáng quý: Yêu thương, chăm sóc gia đình: Lo lắng cho bố chồng đau ốm: “đắp chiếu cho bố”, “dìu bố”, “mua bát cháo với lọ dầu cho thầy”. Hi sinh, chịu thương chịu khó: Mang chiếc chậu đi bán để lấy tiền mua cháo và thuốc cho bố chồng. Quan tâm, lo lắng cho chồng: Hốt hoảng chạy theo khi anh cả Thuận bỏ đi. Giàu tình cảm, giàu trách nhiệm: Trong lúc rối ren vẫn vừa chăm bố vừa lo cho chồng. => Chị cả Thuận là hình ảnh tiêu biểu của người phụ nữ nghèo giàu đức hi sinh và tình thương. Câu 5. Bi kịch của gia đình ông lão mù cho thấy sức ép của “cơm áo gạo tiền” vô cùng khủng khiếp. Nghèo đói không chỉ khiến con người đau khổ về vật chất mà còn đẩy họ vào tuyệt vọng, mất niềm tin và có thể đánh mất cả nhân phẩm. Anh cả Thuận từ một người lương thiện đã có ý nghĩ làm liều vì bị dồn vào đường cùng. Ông lão mù cũng chọn cái chết để khỏi trở thành gánh nặng cho con cháu. Qua đó, tác phẩm khiến em thêm trân trọng giá trị của cuộc sống đủ đầy, đồng thời biết yêu thương, sẻ chia với những người có hoàn cảnh khó khăn.
Áp dụng công thức v =∆C/∆t = 0,22 - 0,1 / 4 = 0,03 ( M /s )
Để xác định biến thiên enthalpy chuẩn của phản ứng đốt cháy ethane, ta sử dụng công thức sau: ΔH° = ΣnΔH°f (sản phẩm) - ΣmΔH°f (chất phản ứng) Trong đó: ΔH° là biến thiên enthalpy chuẩn của phản ứng. n và m là hệ số stoichiometric của các chất trong phương trình phản ứng. ΔH°f là enthalpy tạo thành chuẩn của các chất. Phương trình phản ứng đốt cháy ethane: C2H6 (g) + O2 (g) → 2CO2 (g) + 3H2O (l) Từ bảng số liệu, ta có: ΔH°f (C2H6 (g)) = -84,70 kJ/mol ΔH°f (O2 (g)) = 0 kJ/mol (vì O2 là đơn chất bền) ΔH°f (CO2 (g)) = -393,50 kJ/mol ΔH°f (H2O (l)) = -285,84 kJ/mol Áp dụng công thức: ΔH° = [2 × ΔH°f (CO2 (g)) + 3 × ΔH°f (H2O (l))] - [1 × ΔH°f (C2H6 (g)) + 0 × ΔH°f (O2 (g))] ΔH° = [2 × (-393,50) + 3 × (-285,84)] - [1 × (-84,70) + 0] ΔH° = [-787,00 - 857,52] - [-84,70] ΔH° = -1644,52 + 84,70 ΔH° = -1559,82 kJ/mol Vậy, biến thiên enthalpy chuẩn của phản ứng đốt cháy ethane là -1559,82 kJ/mol
Viết phương trình hóa học xảy ra và chỉ rõ chất khử, chất oxi hóa, quá trình oxi hóa, quá trình khử. Phản ứng giữa KMnO₄ và HCl đặc tạo ra Cl₂: 2KMnO₄ + 16HCl → 2KCl + 2MnCl₂ + 5Cl₂ + 8H₂O Chất khử: HCl (Cl⁻ → Cl₂) Chất oxi hóa: KMnO₄ (Mn⁷⁺ → Mn²⁺) Quá trình oxi hóa: 2Cl⁻ → Cl₂ + 2e⁻ Quá trình khử: Mn⁷⁺ + 5e⁻ → Mn²⁺ b) Tính khối lượng KMnO₄ đã phản ứng để thu được lượng chlorine trên. Bước 1: Tính số mol của NaI Số mol NaI = C × V = 0.1 mol/L × 0.2 L = 0.02 mol Bước 2: Viết phương trình phản ứng giữa Cl₂ và NaI Cl₂ + 2NaI → 2NaCl + I₂ Bước 3: Tính số mol Cl₂ Theo phương trình, số mol Cl₂ = 1/2 × số mol NaI = 1/2 * 0.02 mol = 0.01 mol Bước 4: Tính số mol KMnO₄ Theo phương trình phản ứng ở câu a, số mol KMnO₄ = 2/5 × số mol Cl₂ = 2/5 × 0.01 mol = 0.004 mol Bước 5: Tính khối lượng KMnO₄ Khối lượng KMnO₄ = số mol × khối lượng mol = 0.004 mol × 158 g/mol = 0.632 g => Khối lượng KMnO₄ đã phản ứng để thu được lượng chlorine trên là 0.632 g.
Để xác định biến thiên enthalpy chuẩn của phản ứng đốt cháy ethane, ta sử dụng công thức sau: ΔH° = ΣnΔH°f (sản phẩm) - ΣmΔH°f (chất phản ứng) Trong đó: ΔH° là biến thiên enthalpy chuẩn của phản ứng. n và m là hệ số stoichiometric của các chất trong phương trình phản ứng. ΔH°f là enthalpy tạo thành chuẩn của các chất. Phương trình phản ứng đốt cháy ethane: C2H6 (g) + O2 (g) → 2CO2 (g) + 3H2O (l) Từ bảng số liệu, ta có: ΔH°f (C2H6 (g)) = -84,70 kJ/mol ΔH°f (O2 (g)) = 0 kJ/mol (vì O2 là đơn chất bền) ΔH°f (CO2 (g)) = -393,50 kJ/mol ΔH°f (H2O (l)) = -285,84 kJ/mol Áp dụng công thức: ΔH° = [2 × ΔH°f (CO2 (g)) + 3 × ΔH°f (H2O (l))] - [1 × ΔH°f (C2H6 (g)) + 0 × ΔH°f (O2 (g))] ΔH° = [2 × (-393,50) + 3 × (-285,84)] - [1 × (-84,70) + 0] ΔH° = [-787,00 - 857,52] - [-84,70] ΔH° = -1644,52 + 84,70 ΔH° = -1559,82 kJ/mol Vậy, biến thiên enthalpy chuẩn của phản ứng đốt cháy ethane là -1559,82 kJ/mol
Tốc độ trung bình = (Thay đổi nồng độ của chất phản ứng) / (Thời gian) Trong trường hợp này: Thay đổi nồng độ của tert-butyl chloride = (Nồng độ ban đầu - Nồng độ còn lại) = (0.22 M - 0.10 M) = 0.12 M Thời gian = 4 s Vậy, tốc độ trung bình của phản ứng là: Tốc độ trung bình = 0.12 M / 4 s = 0.03 M/s => Tốc độ trung bình của phản ứng là 0.03 M/s.
a, Viết phương trình hóa học xảy ra và chỉ rõ chất khử, chất oxi hóa, quá trình oxi hóa, quá trình khử. Phản ứng giữa KMnO₄ và HCl đặc tạo ra Cl₂: 2KMnO₄ + 16HCl → 2KCl + 2MnCl₂ + 5Cl₂ + 8H₂O Chất khử: HCl (Cl⁻ → Cl₂)
Chất oxi hóa: KMnO₄ (Mn⁷⁺ → Mn²⁺)
Quá trình oxi hóa: 2Cl⁻ → Cl₂ + 2e⁻
Quá trình khử: Mn⁷⁺ + 5e⁻ → Mn²⁺
b) Tính khối lượng KMnO₄ đã phản ứng để thu được lượng chlorine trên. Bước 1: Tính số mol của NaI Số mol NaI = C * V = 0.1 mol/L * 0.2 L = 0.02 mol
Bước 2: Viết phương trình phản ứng giữa Cl₂ và NaI Cl₂ + 2NaI → 2NaCl + I₂ Bước 3: Tính số mol Cl₂ Theo phương trình, số mol Cl₂ = 1/2 * số mol NaI = 1/2 * 0.02 mol = 0.01 mol
Bước 4: Tính số mol KMnO₄ Theo phương trình phản ứng ở câu a, số mol KMnO₄ = 2/5 * số mol Cl₂ = 2/5 * 0.01 mol = 0.004 mol Bước 5: Tính khối lượng KMnO₄ Khối lượng KMnO₄ = số mol * khối lượng mol = 0.004 mol * 158 g/mol = 0.632 g => Khối lượng KMnO₄ đã phản ứng để thu được lượng chlorine trên là 0.632 g.
a) Cân bằng phương trình hóa học: Phương trình hóa học đã cho là: CaC2O4 + KMnO4 + H2SO4 → CaSO4 + K2SO4 + MnSO4 + CO2 + H2O Để cân bằng phương trình này, ta sử dụng phương pháp thăng bằng electron: Xác định số oxi hóa: Trong CaC2O4: C có số oxi hóa +3 Trong KMnO4: Mn có số oxi hóa +7 Trong CO2: C có số oxi hóa +4 Trong MnSO4: Mn có số oxi hóa +2
Viết quá trình oxi hóa và khử:
Oxi hóa: C(+3) → C(+4) + 1e (x2) Khử: Mn(+7) + 5e → Mn(+2) (x1)
Cân bằng electron: 2CaC2O4 + KMnO4 + H2SO4 → CaSO4 + K2SO4 + MnSO4 + CO2 + H2O
Cân bằng các nguyên tố còn lại: 2CaC2O4 + 2KMnO4 + H2SO4 → 2CaSO4 + K2SO4 + 2MnSO4 + 4CO2 + H2O
Cân bằng S: 2CaC2O4 + 2KMnO4 + 3H2SO4 → 2CaSO4 + K2SO4 + 2MnSO4 + 4CO2 + 3H2O
Vậy phương trình hóa học đã được cân bằng là: 2CaC2O4 + 2KMnO4 + 3H2SO4 → 2CaSO4 + K2SO4 + 2MnSO4 + 4CO2 + 3H2O b) Xác định nồng độ ion calcium: Tính số mol KMnO4: Số mol KMnO4 = (2,05 mL) * (4,88 10-4 M) = 2,05 * 4,88 * 10-7 mol = 1.0004 * 10-6 mol
Tính số mol CaC2O4: Theo phương trình phản ứng, 2 mol KMnO4 phản ứng với 2 mol CaC2O4, vậy số mol CaC2O4 = số mol KMnO4 = 1.0004 * 10-6 mol
Tính số mol Ca2+: 1 mol CaC2O4 chứa 1 mol Ca2+, vậy số mol Ca2+ = số mol CaC2O4 = 1.0004 * 10-6 mol Tính khối lượng Ca2+: Khối lượng Ca2+ = (1.0004 * 10-6 mol) * (40 g/mol) = 4.0016 * 10-5 g = 0.040016 mg Tính nồng độ Ca2+ trong 100 mL máu: Nồng độ Ca2+ = (0.040016 mg / 1 mL máu) * (100 mL máu) = 4.0016 mg/100 mL máu
Vậy nồng độ ion calcium trong máu người đó là 4.0016 mg Ca2+/100 mL máu.