Nguyễn Trần Minh Phương
Giới thiệu về bản thân
- Phương thức biểu đạt chính: Thuyết minh.
- Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá thế giới vào năm 1993.
- Phương tiện: Hình ảnh (ảnh chụp các di tích như Ngọ Môn, Điện Thái Hòa, Lăng tẩm...).
- Tác dụng: Giúp văn bản trực quan, sinh động hơn, giúp người đọc dễ dàng hình dung vẻ đẹp cổ kính, hùng vĩ của kiến trúc Cố đô mà ngôn ngữ không tả xiết, đồng thời làm tăng độ tin cậy và sự hấp dẫn của văn bản.
- Chỉ ra: Ví dụ như năm 1993, triều đại nhà Nguyễn (1802-1945), số lượng di tích, diện tích...
- Tác dụng:
- Cung cấp thông tin chính xác, khoa học về lịch sử, quy mô và giá trị của di sản.
- Làm tăng tính thuyết phục, chứng minh sự lâu đời, đồ sộ và tầm quan trọng đặc biệt của di sản.
Để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, giới trẻ cần tích cực tìm hiểu kiến thức về lịch sử, văn hóa Huế thông qua sách báo và các chuyến tham quan thực tế. Sử dụng mạng xã hội (Facebook, TikTok, Instagram...) để quảng bá hình ảnh di sản đến bạn bè quốc tế. Tuyệt đối không xâm hại đến các di tích (viết, vẽ bậy, xả rác) khi đến tham quan. Bên cạnh đó, có thể tham gia các câu lạc bộ, hoạt động tình nguyện viên làm hướng dẫn viên, giữ gìn vệ sinh môi trường tại di tích.
câu1:
Đoạn thơ vừa khắc họa bức tranh sống động về tinh thần bất khuất, lòng dũng cảm của con người Việt Nam giữa bao thử thách gian khó. Qua hình ảnh “hai cánh tay như hai cánh bay lên”, em cảm nhận được sức mạnh vươn lên không ngừng nghỉ, như những cánh chim kiên cường tung cánh vượt qua bầu trời bát ngát, khẳng định niềm tin vào một ngày mai tươi sáng. “Ngực dám đón những phong ba dữ dội” như lời tuyên ngôn của tâm hồn dũng mãnh, thể hiện khát khao, ý chí không khuất phục trước mọi bão giông của cuộc đời. Đặc biệt, hình ảnh “chân đạp bùn không sợ các loài sên” không chỉ thể hiện sự hào hùng, mà còn là biểu tượng của nghị lực bền bỉ, khẳng định rằng dù cuộc sống có khó khăn đến đâu, con người vẫn luôn tìm được bàn đạp để vươn mình, vượt lên số phận. Từng câu thơ như một lời nhắc nhở, một tiếng gọi mạnh mẽ gửi gắm vào lòng mỗi người về sức mạnh của ý chí và tinh thần đoàn kết. Đoạn thơ không chỉ là ca ngợi vẻ đẹp của nghị lực, mà còn là nguồn động viên, khích lệ mỗi chúng ta hãy sống một cuộc đời trọn vẹn, dám mơ ước và dám thực hiện hoài bão, vì tương lai của cá nhân và của cả dân tộc.
câu2:
Kiên trì là nhịp cầu ngắn nhất nối liền giữa ý chí và thành công. Tuy nhiên, trong nhịp sống hối hả ngày nay, một bộ phận không nhỏ bạn trẻ lại dễ dàng buông xuôi khi đối mặt với thử thách. Để không bị sóng gió cuộc đời đánh gục, việc tìm kiếm và thực hiện các giải pháp rèn luyện sự kiên trì là vô cùng cấp thiết. Trước hết, mỗi cá nhân cần xác định mục tiêu rõ ràng và chia nhỏ chúng. Một mục tiêu quá lớn dễ gây choáng ngợp và nản lòng. Khi chia nhỏ lộ trình thành những bước đi ngắn hạn, mỗi lần hoàn thành một cột mốc, chúng ta sẽ có thêm động lực và niềm tin để bước tiếp. Thành công nhỏ sẽ nuôi dưỡng ý chí lớn. Thứ hai, hãy rèn luyện tư duy tích cực và xem thất bại là bài học. Thay vì dằn vặt bản thân khi vấp ngã, bạn trẻ nên học cách phân tích nguyên nhân và tìm hướng khắc phục. Sự kiên trì không phải là làm đi làm lại một việc sai lầm, mà là nỗ lực tìm kiếm con đường đúng đắn hơn sau mỗi lần thất bại. Bên cạnh đó, việc rèn luyện sức khỏe và kỷ luật bản thân cũng đóng vai trò then chốt. Một cơ thể dẻo dai và một tinh thần thép thường bắt nguồn từ những thói quen tốt như tập thể dục, đọc sách hay dậy sớm. Kỷ luật giúp chúng ta duy trì hành động ngay cả khi cảm hứng biến mất. Đồng thời, hãy tìm cho mình những người đồng hành tích cực – những người có thể truyền lửa và động viên ta trong những giai đoạn khó khăn nhất. Cuối cùng, gia đình và nhà trường cần thay đổi phương pháp giáo dục, không nên quá bao bọc khiến giới trẻ mất đi khả năng tự lập. Hãy tạo môi trường để các bạn được thử thách và chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình. Tóm lại, kiên trì không phải là tố chất bẩm sinh mà là kết quả của một quá trình rèn luyện bền bỉ. Như ngọc càng mài càng sáng, con người qua gian nan mới trưởng thành. Mỗi bạn trẻ hãy bắt đầu từ những việc nhỏ nhất ngay hôm nay để xây dựng cho mình bản lĩnh kiên cường trước mọi bão giông.Câu 1: Người rời Bến Nhà Rồng ngày 5.6.1911 để ra đi tìm đường cứu nước là người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành
Câu 2:Cách trình bày thông tin: Theo trình tự thời gian (mốc 5.6.1911) kết hợp với trình tự sự kiện (bắt đầu từ Bến Nhà Rồng và mục đích giải phóng dân tộc).
Câu 3:- Phương tiện phi ngôn ngữ: Hình ảnh (Ảnh Bến Nhà Rồng, ảnh con tàu Amiral Latouche Tréville, ảnh chân dung Nguyễn Tất Thành...).
- Tác dụng: Giúp thông tin trở nên trực quan, sinh động, tăng tính xác thực cho lịch sử và khơi gợi cảm xúc trân trọng, tự hào cho người đọc.
Nhan đề và các thông tin cơ bản có mối quan hệ tương hỗ, thống nhất. Nhan đề nêu rõ đối tượng (Bến Nhà Rồng), địa danh (Thành phố mang tên Bác) và nội dung chính (dấu ấn lịch sử). Các thông tin trong văn bản triển khai làm rõ sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước tại đây, khẳng định giá trị lịch sử và văn hóa của di tích đối với TP.HCM.
Câu 5:Việc gìn giữ, bảo tồn các di tích lịch sử có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó không chỉ là cách thể hiện sự tri ân, tôn vinh những hy sinh to lớn của thế hệ cha anh đi trước, mà còn là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại. Di tích giúp giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ. Hơn nữa, bảo tồn di tích còn góp phần phát triển du lịch, văn hóa, khẳng định bản sắc dân tộc trong thời đại hội nhập. Vì vậy, bảo vệ di tích chính là bảo vệ cội nguồn và tâm hồn của dân tộc.
Câu 1.
Thể thơ: Tự do.
Câu 2.
Truyền thuyết gợi nhắc: Truyền thuyết "Con Rồng cháu Tiên"
Câu 3:
- Biện pháp tu từ: So sánh ("Biển cần lao" như "áo mẹ bạc sờn").
- Tác dụng: Hình tượng hóa biển cả thành người mẹ tần tảo, gian truân; thể hiện sự vất vả, hi sinh to lớn của biển đảo quê hương; đồng thời gợi cảm xúc biết ơn, trân trọng và xót xa của nhân vật trữ tình.
Câu 4.
Nội dung: Đoạn thơ khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa và sự gắn bó máu thịt giữa biển đảo với đất liền; thể hiện tình yêu nước, niềm tự hào và nỗi trăn trở về chủ quyền biển đảo.
Câu 5.
Bài học: Ý thức được trách nhiệm giữ gìn chủ quyền đất nước, biết ơn sự hi sinh của thế hệ trước; sống có trách nhiệm, luôn hướng về quê hương, biển đảo.
Câu 1. Thể thơ: 8 chữ (thơ tự do/8 chữ).
Câu 2. Hình ảnh so sánh với tuổi thơ con: "như một bài ca" (Tuổi thơ con đẹp tựa một bài ca).
Câu 3. Hiệu quả: Tạo giọng điệu tâm tình, thủ thỉ, gần gũi, ấm áp; thể hiện tình cảm gắn bó sâu sắc, thiêng liêng của người con đối với quê hương và tình mẫu tử.
Câu 4. Biện pháp tu từ: Điệp từ "nhớ" (Nhớ Đồng Đậu, nhớ Tây Thiên) hoặc liệt kê các địa danh. Tác dụng: Nhấn mạnh nỗi nhớ da diết, triền miên và tình yêu sâu nặng của người lính dành cho cảnh đẹp quê hương.
Câu 5. Suy nghĩ: Quê hương là cội nguồn, là điểm tựa tinh thần vững chắc, nuôi dưỡng tâm hồn và định hình nhân cách. Quê hương giúp con người trưởng thành, biết yêu thương, có trách nhiệm và luôn hướng về nguồn cội dù đi xa.
Câu 1. Thể thơ: 8 chữ (thơ tự do/8 chữ).
Câu 2. Hình ảnh so sánh với tuổi thơ con: "như một bài ca" (Tuổi thơ con đẹp tựa một bài ca).
Câu 3. Hiệu quả: Tạo giọng điệu tâm tình, thủ thỉ, gần gũi, ấm áp; thể hiện tình cảm gắn bó sâu sắc, thiêng liêng của người con đối với quê hương và tình mẫu tử.
Câu 4. Biện pháp tu từ: Điệp từ "nhớ" (Nhớ Đồng Đậu, nhớ Tây Thiên) hoặc liệt kê các địa danh. Tác dụng: Nhấn mạnh nỗi nhớ da diết, triền miên và tình yêu sâu nặng của người lính dành cho cảnh đẹp quê hương.
Câu 5. Suy nghĩ: Quê hương là cội nguồn, là điểm tựa tinh thần vững chắc, nuôi dưỡng tâm hồn và định hình nhân cách. Quê hương giúp con người trưởng thành, biết yêu thương, có trách nhiệm và luôn hướng về nguồn cội dù đi xa.
Câu 1. Thể thơ: 8 chữ (thơ tự do/8 chữ).
Câu 2. Hình ảnh so sánh với tuổi thơ con: "như một bài ca" (Tuổi thơ con đẹp tựa một bài ca).
Câu 3. Hiệu quả: Tạo giọng điệu tâm tình, thủ thỉ, gần gũi, ấm áp; thể hiện tình cảm gắn bó sâu sắc, thiêng liêng của người con đối với quê hương và tình mẫu tử.
Câu 4. Biện pháp tu từ: Điệp từ "nhớ" (Nhớ Đồng Đậu, nhớ Tây Thiên) hoặc liệt kê các địa danh. Tác dụng: Nhấn mạnh nỗi nhớ da diết, triền miên và tình yêu sâu nặng của người lính dành cho cảnh đẹp quê hương.
Câu 5. Suy nghĩ: Quê hương là cội nguồn, là điểm tựa tinh thần vững chắc, nuôi dưỡng tâm hồn và định hình nhân cách. Quê hương giúp con người trưởng thành, biết yêu thương, có trách nhiệm và luôn hướng về nguồn cội dù đi xa.
Hai khổ thơ đầu bài “Nhớ ơn cha mẹ” của Hoàng Mai đã gợi lên một không gian trầm buồn cùng nỗi nhớ thương khôn nguôi của người con khi cha mẹ đã khuất bóng. Mở đầu bằng hình ảnh “ngày tháng bảy mưa rơi lướt thướt”, tác giả khéo léo lựa chọn thời điểm tháng Vu Lan – mùa báo hiếu – để đánh thức cảm xúc. Cơn mưa kéo dài, u buồn như đồng điệu với tâm trạng “sướt mướt”, “chạnh lòng” của người con khi đêm khuya đối diện với chính mình. Câu hỏi “Mẹ cha giờ khuất nơi đâu” vang lên đầy xót xa và vô định, như một tiếng gọi vọng về quá khứ không lời đáp, gợi cảm giác mất mát không thể khỏa lấp. Sang khổ thơ thứ hai, cảm xúc như trào dâng mạnh mẽ hơn khi người con “bàng hoàng tỉnh giấc” giữa đêm trở gió, để rồi nỗi nhớ cha mẹ như dồn lại thành “công ơn chất ngất”. Cảm giác “lòng đau” và sự day dứt hiện rõ trong dòng thơ “Con chưa đền đáp ơn sâu cửu trùng”, thể hiện nỗi ân hận muộn màng vì chưa trọn chữ hiếu. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể lục bát truyền thống với ngôn ngữ giản dị mà giàu cảm xúc, các từ láy như “lướt thướt”, “sướt mướt”, “bàng hoàng” giúp diễn tả sinh động trạng thái tâm lý của nhân vật trữ tình. Giọng điệu trầm lắng, tha thiết cùng hình ảnh giàu tính biểu cảm đã làm nổi bật tấm lòng hiếu nghĩa sâu nặng. Hai khổ thơ không chỉ là lời nhớ thương cha mẹ mà còn là lời nhắc nhở thấm thía về đạo làm con trong đời.
Hai khổ thơ đầu bài “Nhớ ơn cha mẹ” của Hoàng Mai đã gợi lên một không gian trầm buồn cùng nỗi nhớ thương khôn nguôi của người con khi cha mẹ đã khuất bóng. Mở đầu bằng hình ảnh “ngày tháng bảy mưa rơi lướt thướt”, tác giả khéo léo lựa chọn thời điểm tháng Vu Lan – mùa báo hiếu – để đánh thức cảm xúc. Cơn mưa kéo dài, u buồn như đồng điệu với tâm trạng “sướt mướt”, “chạnh lòng” của người con khi đêm khuya đối diện với chính mình. Câu hỏi “Mẹ cha giờ khuất nơi đâu” vang lên đầy xót xa và vô định, như một tiếng gọi vọng về quá khứ không lời đáp, gợi cảm giác mất mát không thể khỏa lấp. Sang khổ thơ thứ hai, cảm xúc như trào dâng mạnh mẽ hơn khi người con “bàng hoàng tỉnh giấc” giữa đêm trở gió, để rồi nỗi nhớ cha mẹ như dồn lại thành “công ơn chất ngất”. Cảm giác “lòng đau” và sự day dứt hiện rõ trong dòng thơ “Con chưa đền đáp ơn sâu cửu trùng”, thể hiện nỗi ân hận muộn màng vì chưa trọn chữ hiếu. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể lục bát truyền thống với ngôn ngữ giản dị mà giàu cảm xúc, các từ láy như “lướt thướt”, “sướt mướt”, “bàng hoàng” giúp diễn tả sinh động trạng thái tâm lý của nhân vật trữ tình. Giọng điệu trầm lắng, tha thiết cùng hình ảnh giàu tính biểu cảm đã làm nổi bật tấm lòng hiếu nghĩa sâu nặng. Hai khổ thơ không chỉ là lời nhớ thương cha mẹ mà còn là lời nhắc nhở thấm thía về đạo làm con trong đời.
Đi lấy mật là một đoạn trích từ tác phẩm Đất rừng phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi kể về cuộc đời phiêu bạt của cậu bé tên An, bối cảnh của tiểu thuyết là vùng đất miền Tây Nam Bộ, nơi có những con người mến khách, yêu nước. Qua đoạn trích đi lấy mật, tác gia đã cho người đọc cảm nhận được về cậu bé An là một con người hồn nhiên, trong sáng và rất ham học hỏi.
An là nhân vật chính, cũng đóng vai là người kể chuyện. Cậu đã được nhà văn khắc họa qua nhiều phương diện khác nhau. Trong hành trình đi lấy mật cùng với tía nuôi và Cò, An đã có được một nhiều nghiệm thú vị. Trước hết, An cũng giống như bao đứa trẻ khác, nghịch ngợm nên đã có những hành động như: “Chen vào giữa, quảy tòn ten một cái gùi bé”; “Đảo mắt khắp nơi để tìm bầy ong mật”; “Reo lên khi nhìn thấy bầy chim đẹp”; “Ngước nhìn tổ ong như cái thúng… ”. Qua những hành động này, có thể thấy An là một đứa trẻ khá hiếu động và nghịch ngợm.
Hồn nhiên là vậy nhưng An vẫn biết suy nghĩ, ham tìm hiểu. Cậu luôn nhớ về lời má nuôi dạy, về cách lấy mật, lời thằng Cò nói về cách xem ong, về sân chim. Khi nghe má nuôi dạy cách lấy mật, nếu không hiểu gì, An lại hỏi ngay: “Sao biết nó về cây này mà gác kèo”, “Kèo là gì, hở má?”, “Coi bộ cũng không khó lắm hở má?”, “Ủa, tại sao vậy má?”... Bên cạnh đó, không chỉ tinh nghịch và ưa khám phá, cậu còn có con mắt quan sát thật tinh tế và sâu sắc. Dưới con mắt của An, cảnh rừng U Minh hiện lên sống động và hoang sơ, trù phú: “Buổi sáng, đất rừng yên tĩnh”, còn “ánh sáng trong vắt, hơi gợn một chút óng ánh trên những đầu hoa tràm rung rung, khiến ta nhìn cái gì cũng giống như là nó bao qua một lớp thủy tinh”. Điều này cho thấy, An là một cậu bé có tinh tế, biết phát hiện ra những cái đẹp của thiên nhiên.
Qua đoạn trích đi lấy mật, tất cả những chi tiết từ câu chuyện của mẹ đã cho ta thấy An là một cậu bé ngoan ngoãn, ham học hỏi, thích quan sát và yêu thiên nhiên.