Bảo Nam
Giới thiệu về bản thân
Ở cuối đoạn trích, Từ Thức “mặc áo cừu nhẹ, đội nón lá ngắn, vào núi Hoành Sơn, rồi sau không biết đi đâu mất”. Sự lựa chọn này có thể lí giải như sau:
1. Cảm giác lạc lõng, cô đơn khi trở lại trần thế
- Sau thời gian ở tiên giới, Từ Thức trở về thì mọi thứ đã thay đổi: “vật đổi sao dời”, người thân, bạn bè không còn, thời gian nhân gian trôi qua quá lâu.
- Chàng không còn chỗ dựa, không tìm thấy sự gắn bó nào ở cõi trần.
2. Không thể quay trở lại tiên giới
- Xe mây đã hóa chim loan bay mất, lá thư của Giáng Hương cho thấy duyên phận đã kết thúc.
- Cả hai con đường – nhân gian và tiên giới – đều đóng lại với chàng.
3.Chọn con đường thoát tục
- Việc vào núi Hoành Sơn mang ý nghĩa từ bỏ cuộc sống trần tục, tìm đến một thế giới khác – có thể là con đường tu tiên, ẩn dật, hoặc đi vào cõi hư vô.
- Đây là bước cuối cùng thể hiện bản chất lãng mạn, siêu thoát, không thuộc về trần thế của Từ Thức.
4. Bi kịch của người mơ mộng
- Cái kết là một bi kịch: người tìm kiếm cái đẹp tuyệt đối nhưng không thể hòa nhập hoàn toàn với cả hai thế giới.
- Sự lựa chọn ấy thể hiện sự bất lực của con người trước quy luật thời gian, số phận và chữ duyên.
tóm lại, Từ Thức rời bỏ nhân gian vì mất hết điểm tựa, không thể quay lại tiên giới, và cũng không thể thích nghi với cuộc sống trần gian. Chàng chọn con đường ẩn dật như một cách giữ lấy sự thanh sạch, tự do của tâm hồn – dù đó là một lựa chọn cô đơn và đầy bi thương.
câu 1:
Bài Làm
Trong Chinh phụ ngâm, hình ảnh người chinh phụ hiện lên với nỗi nhớ thương và cô đơn đến tột cùng khi chồng ra chiến trận nơi biên ải xa xôi. Trải qua bao mùa xuân, nàng vẫn khắc khoải đợi chờ mà “tin hãy vắng không”. Nỗi nhớ chồng khiến nàng tưởng nhạn là sứ giả mang thư, nghe hơi sương lại sắm áo ấm cho người đi xa. Từng hành động nhỏ — gieo quẻ bói, dạo hiên, ngồi rèm — đều chứa đựng niềm thương nhớ và lo lắng khôn nguôi. Cô đơn đến mức, nàng chỉ còn biết trò chuyện với ngọn đèn — “Đèn có biết dường bằng chẳng biết”. Đó là biểu tượng của nỗi buồn và sự cô độc trong đêm dài vô tận. Qua nhân vật người chinh phụ, ta cảm nhận được tiếng nói cảm thương sâu sắc đối với người phụ nữ trong xã hội phong kiến — những người phải chịu cảnh ly biệt, cô đơn vì chiến tranh. Hình tượng ấy cũng thể hiện khát vọng đoàn tụ, hạnh phúc và hòa bình, đồng thời tố cáo những mất mát mà chiến tranh mang lại cho con người.
câu 2:
Bài Làm
Đọc Chinh phụ ngâm, ta bắt gặp hình ảnh người chinh phụ cô đơn, lặng lẽ chờ chồng nơi biên ải xa xôi. Tiếng lòng của người vợ trẻ ấy vang lên giữa không gian vắng lặng, khiến ta thấm thía nỗi đau mà chiến tranh đã gây ra cho bao người. Từ nỗi cô đơn của người chinh phụ, ta càng nhận ra chiến tranh không chỉ là sự tàn khốc của súng đạn, mà còn là nỗi mất mát, chia ly âm thầm trong từng mái nhà, từng trái tim con người.
Chiến tranh mang đến đau thương cho tất cả: kẻ ra đi, người ở lại, và cả những vùng đất bị tàn phá. Nó cướp đi mạng sống của biết bao người lính, đẩy những người mẹ, người vợ vào cảnh cô đơn, đợi chờ vô vọng. Cảnh người chinh phụ "trải mấy xuân tin đi tin lại" là minh chứng cho sự tàn nhẫn của chiến tranh – khi hạnh phúc lứa đôi bị chia cắt, tuổi xuân bị giam trong nỗi nhớ mong mỏi. Không chỉ hủy diệt thân xác, chiến tranh còn để lại những vết thương tinh thần sâu sắc, ám ảnh con người suốt đời. Những ngôi làng bị đốt cháy, những đứa trẻ mồ côi, những dòng sông đỏ máu – tất cả là chứng nhân cho bi kịch nhân loại.
Chiến tranh còn là biểu tượng của sự mất mát về niềm tin và nhân tính. Khi con người phải cầm vũ khí chống lại nhau, tình thương và lòng nhân bị lãng quên, thế giới chìm trong khói lửa và hận thù. Bởi vậy, khát vọng lớn nhất của con người mọi thời đại chính là được sống trong hòa bình – nơi không còn tiếng súng, nơi con người được yêu thương và được sống trọn vẹn cho những ước mơ.
Ngày nay, chúng ta may mắn được sinh ra trong hòa bình – thành quả của bao thế hệ cha ông đã hy sinh xương máu để giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc. Vì thế, thế hệ trẻ hôm nay có trách nhiệm sâu sắc trong việc trân trọng và giữ gìn cuộc sống hòa bình ấy. Trước hết, chúng ta cần nhận thức rõ giá trị của hòa bình, biết tri ân những người đã ngã xuống. Mỗi học sinh phải cố gắng học tập, rèn luyện đạo đức, sống có lý tưởng và ước mơ cống hiến. Giữ gìn hòa bình không chỉ là bảo vệ biên cương, mà còn là bảo vệ tình người, chống lại bạo lực, thù hận và sự vô cảm trong đời sống hằng ngày. Chúng ta có thể bắt đầu từ những việc nhỏ: sống chan hòa, biết yêu thương, cùng nhau xây dựng xã hội văn minh, nhân ái – đó chính là nền tảng vững chắc cho một thế giới hòa bình.
Chiến tranh đã đi qua, nhưng dư âm đau thương vẫn còn trong từng trang thơ, từng câu chuyện. Bởi vậy, chúng ta – thế hệ trẻ – càng phải biết quý trọng từng giây phút yên bình, sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh của cha ông. Hãy biến lòng biết ơn thành hành động thiết thực: học tập tốt, sống đẹp, chung tay xây dựng đất nước giàu mạnh, nhân ái – để hòa bình không chỉ là quá khứ, mà là tương lai bền vững của dân tộc.
câu 1: thể thơ của văn bản trên: song thất lục bát
câu 2:
Dòng thơ thể hiện sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng của người chinh phụ:
“Trải mấy xuân tin đi tin lại,
Tới xuân này tin hãy vắng không."
câu 3:
Nghĩ về người chồng đang chiến đấu nơi xa, người chinh phụ:
- Thường nhớ thương, lo lắng mong tin chồng (“Thấy nhạn luống tưởng thư phong”).
- Chuẩn bị áo ấm, nghĩ cho chồng nơi biên ải lạnh (“Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng”).
- Gieo quẻ bói, dạo hiên, ngồi rèm chờ tin biểu hiện tâm trạng bất an, cô đơn.
→ Nhận xét : Những hành động ấy thể hiện nỗi nhớ thương da diết, tình yêu thủy chung và nỗi cô đơn sâu sắc của người chinh phụ.
câu 4:
Biện pháp tu từ nổi bật: nhân hóa – “Đèn có biết dường bằng chẳng biết”.
→ Tác dụng: Nhân hóa ngọn đèn giúp làm nổi bật nỗi cô đơn của người chinh phụ — nàng chỉ có ngọn đèn làm bạn, muốn giãi bày tâm sự nhưng đèn “không biết”, càng làm tăng cảm giác trống vắng, buồn tủi.
câu 5:
- Tâm trạng của người chinh phụ:
Buồn thương, cô đơn, nhớ nhung, mong ngóng, khắc khoải chờ tin chồng trong vô vọng.
- suy nghĩ của em về giá trị của cuộc sống hòa bình hiện nay:
Bài thơ giúp ta trân trọng hơn cuộc sống hòa bình hôm nay , nơi không còn cảnh chia ly vì chiến tranh, vợ chồng, gia đình được đoàn tụ và sống trong ấm no, hạnh phúc.
Gọi A là điểm dưới cùng của bức tường; B là thiết bị chiếu sáng; C là điểm gần nhất của dải ánh sáng đến A; D là điểm xa nhất của dải ánh sáng đến A.
từ đó ta có: \(AB=2,5m;AC=2m;\hat{DBC}=20^{o};DC=?\)
ta có: \(\tan\hat{CBA}=\frac{AC}{AB}=\frac{2}{2,5}\) hay \(\hat{CBA}\thickapprox38,7^{o}\)
\(\Rightarrow\hat{DBA}=\hat{DBC}+\hat{CBA}\thickapprox20^{o}+38,7^{o}\thickapprox58,7^{o}\)
ta có: \(\tan\hat{DBA}=\frac{AD}{AB}\Rightarrow AD=\tan\hat{DBA}\cdot AB\thickapprox\tan58,7^{o}\cdot2,5\thickapprox4,1\left(m\right)\)
mà \(AD=DC+AC\Rightarrow DC=AD-AC\thickapprox4,1-2\thickapprox2,1\left(m\right)\)
vậy độ dài vùng được chiếu sáng trên mặt đất là khoảng 2,1 mét.
a,- \(\sin35^{o}=cos55^{o}\)
-\(\tan28^{o}=\cot62^{o}\)
b, ta có: \(\cos\hat{B}=\frac{AB}{BC}\Rightarrow AB=\cos\hat{B}\cdot BC=\cos36^{o}\cdot20=16,18034\ldots\) hay\(AB\thickapprox16,18\left(\operatorname{cm}\right)\)
gọi x là vận tốc lúc đi(km/h)
=> Vận tốc lúc về là \(x-10\) (km/h)
gọi thời gian đi là \(t_1\left(t_1=\frac{60}{x}\right)\)
gọi thời gian về là\(t_2\left(t_2=\frac{60}{x-10}\right)\)
theo đề bài ta có: \(t_2-t_1=0,5\left(giờ\right)\)
\(\Rightarrow\frac{60}{x-10}-\frac{60}{x}=0,5\)
\(\Rightarrow60x-60(x-10)=0,5x(x-10)\)
\(\Rightarrow60x-60x+600=0.5x^2-5x\)
\(\Rightarrow600=0,5x^2-5x\)
\(\Rightarrow1200=x^2-10x\)
\(\Rightarrow x^2-10x-1200=0\)
\(\Rightarrow x^2-10x+25-1225=0\)
\(\Rightarrow\left(x-5\right)^2-35^2=0\)
\(\Rightarrow\left(x-5+35\right)\cdot\left(x-5-35\right)=0\)
\(\Rightarrow\left(x+30\right)\cdot\left(x-40\right)=0\Rightarrow\left[\begin{array}{l}x=-30\left(ktmđk\right)\\ x=40\left(tmđk\right)\end{array}\right.\)
vậy vận tốc đi của người đi xe máy là 40 km/h
\(\) => vận tốc về là:\(40-10=30\) (km/h)
a,\(\frac{x+6}{x+5}+\frac32=2\)
đkxđ:\(x\ne5\)
\(\frac{x+6}{x+5}+\frac32=2\)
\(\Rightarrow\frac{x+6}{x+5}=\frac12\)
\(\Rightarrow2\left(x+6\right)=x+5\)
\(\Rightarrow2x+12-x-5=0\)
\(\Rightarrow x+7=0\Rightarrow x=-7\)
vì \(x=-7\) tmđk nên pt trên có nghiệm là \(x=-7\)
b,\(\begin{cases}x+3y=-2\\ 5x+8y=11\end{cases}\)
\(\Rightarrow\begin{cases}x=-2-3y\\ 5\left(-2-3y\right)+8y=11\end{cases}\)
\(\Rightarrow\begin{cases}x=-2-3y\\ -10-15y+8y=11\end{cases}\)
\(\Rightarrow\begin{cases}x=-2-3y\\ -7y=21\end{cases}\)
\(\Rightarrow\begin{cases}x=-2-3\times\left(-3\right)\\ y=-3\end{cases}\)
\(\begin{cases}x=7\\ y=-3\end{cases}\)
vậy hpt có nghiệm :\(\left(7;-3\right)\)
a, \(t^{o}C>5^{o}C\)
b,\(x\ge16\) (tuổi)
c,\(x\ge20000\) (đồng/h)
d,\(y>0\)
Câu 1.
BÀI LÀM
Trong bài thơ “Bà má Hậu Giang” của Tố Hữu, hình tượng bà má hiện lên như một biểu tượng cao đẹp của người mẹ Nam Bộ kiên cường, bất khuất trong kháng chiến chống Pháp. Bà má xuất hiện trong khung cảnh giản dị, nghèo khó – “ túp lều tranh”, “bếp lửa, cành củi khô” – cho thấy cuộc sống lam lũ, tảo tần. Nhưng ẩn sau vẻ ngoài ấy là một tấm lòng kiên trung, gan góc. Khi tên giặc hung hãn xông vào, tra khảo, đe dọa, thậm chí dày vò thân thể, bà vẫn quyết không khai, sẵn sàng hi sinh mạng sống để bảo vệ du kích, bảo vệ Tổ quốc. Lời nói và hành động của bà thể hiện tinh thần yêu nước sâu sắc, niềm tin mãnh liệt vào con em mình – những người chiến sĩ cách mạng. Hình ảnh “má hét lớn: Tụi bay đồ chó! Cướp nước tao, cắt cổ dân tao!” vừa thể hiện lòng căm thù giặc, vừa tỏa sáng vẻ đẹp anh hùng và bất khuất của người phụ nữ Việt Nam. Qua hình tượng bà má, Tố Hữu đã khắc họa sinh động vẻ đẹp của nhân dân Nam Bộ – giàu tình thương, trung nghĩa và kiên cường trong kháng chiến.
Câu 2.
BÀI LÀM
Trong thời chiến, những con người như bà má Hậu Giang đã hiến dâng tất cả – kể cả mạng sống – để giành lại độc lập cho dân tộc. Ngày nay, đất nước hòa bình, trách nhiệm dựng xây và phát triển Tổ quốc lại được đặt lên vai thế hệ trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước.
Trách nhiệm của thế hệ trẻ trước hết là giữ vững và phát huy truyền thống yêu nước, kiên cường mà cha ông đã để lại. Mỗi người trẻ cần hiểu rằng độc lập, tự do hôm nay là kết quả của bao máu xương, vì thế phải sống có lý tưởng, có mục tiêu và ý thức cống hiến. Bên cạnh đó, thế hệ trẻ cần trang bị tri thức, kỹ năng, đạo đức và tinh thần sáng tạo để góp phần phát triển đất nước giàu mạnh, văn minh. Trong thời đại toàn cầu hóa, trách nhiệm ấy còn gắn liền với hội nhập quốc tế, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và khẳng định vị thế Việt Nam trên trường thế giới.
Cụ thể, mỗi người trẻ có thể bắt đầu từ những hành động nhỏ nhưng ý nghĩa: chăm chỉ học tập, rèn luyện bản thân; sống trung thực, nhân ái; tuân thủ pháp luật; tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tình nguyện; và đặc biệt là ứng dụng tri thức, công nghệ để phục vụ cộng đồng, đất nước.
Tinh thần yêu nước của bà má Hậu Giang là ngọn lửa thiêng liêng nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay rằng: yêu nước không chỉ là chiến đấu khi có giặc, mà còn là sống có trách nhiệm, góp phần dựng xây quê hương trong thời bình. Chỉ khi biết hành động và cống hiến, tuổi trẻ mới xứng đáng với sự hy sinh của các thế hệ đi trước và đưa đất nước vươn lên mạnh mẽ trong tương lai.
câu 1:
Văn bản “Bà má Hậu Giang” được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2.
Trong bài thơ, một tên lính Pháp (thằng Tây) xông vào nhà đe dọa, tra khảo bà má già để bắt khai nơi ở của du kích. Bà má bị hắn đe dọa, chửi mắng, dày vò, đánh đập, nhưng vẫn kiên quyết không khai, thể hiện tinh thần trung kiên, bất khuất trước quân thù.
câu 3:
-Hành động độc ác của tên giặc:
+Đạp rơi liếp mành, xông vào nhà.
+Tuốt gươm, đe dọa giết.
+Chửi bới, tra khảo, đạp lên đầu bà má.
+Kề lưỡi gươm lạnh vào hông bà.
→Nhận xét: Tên giặc là kẻ tàn bạo, vô nhân tính, hiện thân cho bọn xâm lược hung hãn, dã man, gieo rắc đau thương cho dân lành.
câu 4:
-biệt pháp tu từ: So sánh.
“Con tao, gan dạ anh hùng
Như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm!"
-Tác dụng:
+Làm nổi bật sức mạnh, tinh thần kiên cường, bền bỉ, dẻo dai của người dân Nam Bộ.
+Thể hiện niềm tự hào và niềm tin mãnh liệt của bà má vào thế hệ chiến sĩ kháng chiến.
+Gợi vẻ đẹp hùng tráng, thơm thảo của quê hương Hậu Giang.
câu 5:
Hình tượng bà má Hậu Giang gợi cho em suy nghĩ sâu sắc về tinh thần yêu nước, lòng trung kiên và sự hy sinh thầm lặng của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. Dù tuổi cao, dù phải đối mặt với tra tấn, cái chết, bà má vẫn một lòng son sắt với cách mạng. Qua đó, em càng thêm kính phục, tự hào và thấy mình cần sống xứng đáng với thế hệ cha ông, góp phần giữ gìn và xây dựng đất nước hôm nay.