Bảo Nam
Giới thiệu về bản thân

xét tứ giác HADB có: \(\hat{BHA}=\hat{HBD}=\hat{ADB}=90^{o}\) nên tứ giác HADB là hình chữ nhật .
\(\Rightarrow HA=BD=10\) (m).
xét tam giác BHA, ta có: \(\tan\hat{BAH}=\frac{BH}{HA}\)
\(\Rightarrow BH=AH\cdot\tan\hat{BAH}=10\cdot\tan10^{o}\thickapprox1,76\) (m).
xét tam giác CHA, ta có: \(\tan\hat{CAH}=\frac{CH}{AH}\)
\(\Rightarrow CH=\frac{AH}{\tan\hat{CAH}}=\frac{10}{\tan55^{o}}\thickapprox14,28\) (m).
suy ra chiều cao của tháp là: \(1,76+14,28\thickapprox16,04\) (m).
vậy chiều cao của tháp là 16,04 mét.
Gọi \(x\) là số máy in mà nhà xuất bản sử dụng \(\left(\right. 1 \leq x \leq 14 \left.\right)\)
Chi phí lắp đặt là \(120 x\) (nghìn đồng)
Số giờ để sản xuất đủ số ấn phẩm là: \(\frac{4 000}{30 x}\)(giờ)
Chi phí giám sát là: \(90. \frac{4 000}{30 x} = \frac{12 000}{x}\) (nghìn đồng).
Chi phí sản xuất của nhà sản xuất là: \(A = 120 x + \frac{12 000}{x}\) (nghìn đồng).
Áp dụng bất đẳng thức Cauchy, ta có:
\(A = 120 x + \frac{12 000}{x} \geq 2 \sqrt{120 x . \frac{12 000}{x}} = 2 400\).
Dấu bằng xảy ra khi \(120 x = \frac{12 000}{x}\)hay \(x = 10\).
Vậy số máy in nhà xuất bản nên sử dụng để chi phí in là nhỏ nhất là \(10\) máy.
Đổi \(1\) giờ \(25\) phút \(= \frac{17}{12}\) giờ; \(1\) giờ \(30\) phút \(= \frac{3}{2}\) giờ.
Gọi vận tốc riêng của ca nô và vận tốc của dòng nước lần lượt là \(x\) (km/h) và \(y\) (km/h). Điều kiện \(x > 0 , y > 0 , x > y\).
Trong lần 1
+) Vận tốc xuôi dòng là \(x + y\) km/h, quãng đường xuôi dòng là \(20\) km nên thời gian xuôi dòng là \(\frac{20}{x + y}\) (giờ).
+) Vận tốc ngược dòng là \(x - y\) km/h, quãng đường ngược dòng là \(18\) km nên thời gian ngược dòng là \(\frac{18}{x - y}\) (giờ).
Vì tổng thời gian xuôi dòng và ngược dòng hết \(\frac{17}{12}\) giờ nên ta có phương trình
\(\frac{20}{x + y} + \frac{18}{x - y} = \frac{17}{12}\) (1)
Trong lần 2
+) Vận tốc xuôi dòng là \(x + y\) (km/h), quãng đường xuôi dòng là \(15\) km nên thời gian xuôi dòng là \(\frac{15}{x + y}\) (giờ).
+) Vận tốc ngược dòng là \(x - y \left(\right. k m / h \left.\right)\), quãng đường ngược dòng là \(24\) km nên thời gian ngược dòng là \(\frac{24}{x - y}\) (giờ).
Vì tổng thời gian xuôi dòng và ngược dòng hết \(\frac{3}{2}\) giờ nên ta có phương trình
\(\frac{15}{x + y} + \frac{24}{x - y} = \frac{3}{2}\) (2)
Từ (1) và (2) ta có hệ phương trình
\({\begin{cases}\frac{20}{x + y}+\frac{18}{x - y}=\frac{17}{12}\\ \frac{15}{x + y}+\frac{24}{x - y}=\frac{3}{2}\end{cases}}\)
\(\begin{cases}\frac{60}{x + y}+\frac{54}{x - y}=\frac{17}{4}\\ \frac{60}{x + y}+\frac{96}{x - y}=\frac{7}{4}\end{cases}\)
\(\begin{cases}\frac{60}{x + y}+\frac{54}{x - y}=\frac{17}{4}\\ \frac{42}{x - y}=\frac{7}{4}\end{cases}\)
Quy đồng ta được hệ \(\begin{cases}x+y=30\\ x-y=24\end{cases}\)
Giải hệ trên, ta được: \({\begin{cases}x=27\\ y=3\end{cases}}\) (thỏa mãn điều kiện).
Vậy vận tốc riêng của ca nô và vận tốc dòng nước lần lượt là \(27\) km/h và \(3\) km/h.
a,\(A=\left(\frac{\sqrt{x}+2}{x-5\sqrt{x}+6}-\frac{\sqrt{x}+3}{2-\sqrt{x}}-\frac{\sqrt{x}+2}{\sqrt{x}-3}\right):\left(2-\frac{\sqrt{x}}{\sqrt{x}+1}\right)\)
=\(\left(\frac{\sqrt{x}+2}{x-5\sqrt{x}+6}-\frac{\left(3+\sqrt{x}\right)\cdot\left(3-\sqrt{x}\right)}{x-5\sqrt{x}+6}-\frac{\left(\sqrt{x}+2\right)\left(\sqrt{x-2}\right)}{x-5\sqrt{x}+6}\right):\left(\frac{2\left(\sqrt{x}+1\right)}{\sqrt{x}+1}-\frac{\sqrt{x}}{\sqrt{x}+1}\right)\)
\(=\frac{\left(\sqrt{x}+2\right)-\left(9-x\right)-\left(x-4\right)}{x-5\sqrt{x}+6}:\frac{2\sqrt{x}+2-\sqrt{x}}{\sqrt{x}+1}\)
=\(\frac{\sqrt{x}+2+x-9+4-x}{x-5\sqrt{x}+6}:\frac{\sqrt{x}+2}{\sqrt{x}+1}\)
\(=\frac{\sqrt{x}-3}{\left(\sqrt{x}-2\right)\left(\sqrt{x}-3\right)}\cdot\frac{\sqrt{x}+1}{\sqrt{x}+2}\)
=\(\frac{1}{\left(\sqrt{x}-2\right)}\cdot\frac{\sqrt{x}+1}{\sqrt{x}+2}=\frac{\sqrt{x}+1}{x-4}\)
vậy \(A=\frac{\sqrt{x}+1}{x-4}\)
b, để \(\frac{1}{A}\le-\frac52\) thì:
\(\frac{x-4}{\sqrt{x}+1}\le-\frac52\)
\(\Rightarrow2x-8\le-5\sqrt{x}-5\)
\(\Rightarrow2x+5\sqrt{x}-3\le0\)
\(\Rightarrow-3\le\sqrt{x}\le\frac12\)
\(\Rightarrow0\le\sqrt{x}\le\frac12\)
\(\Rightarrow0\le x\le\frac14\)
vậy để \(\frac{1}{A}\le-\frac52\) thì \(0\le x\le\frac14\)
\(A=\sqrt{2-\sqrt3}\cdot\left(\sqrt6+\sqrt2\right)\)
\(=\sqrt6\cdot\left(\sqrt{2-\sqrt3}\right)+\sqrt2\cdot\left(\sqrt{2-\sqrt3}\right)\)
\(=1,27+0,73=2\)
a, \(x\ge18\) (tuổi)
b, \(x\le700\operatorname{\left(kg\right)}\)
c, \(x\ge1\) (triệu đồng)
d,\(2x-3>-7x+2\)
câu 1:
Văn bản trên thuộc thể loại truyện truyền kì.
câu 2:
Ngôi kể: Ngôi thứ ba
câu 3:
Nhân vật chính: Lý Hữu Chi.
Tính cách: Hung bạo, tham lam, tàn ác, cậy quyền cậy sức, coi thường đạo lí, không biết hối cải.
câu 4:
Chi tiết hoang đường: Lý Hữu Chi nhìn thấy cảnh dưới âm phủ trong chùm hạt châu hoặc Thúc Khoản được dẫn xuống Minh Ti chứng kiến xét xử linh hồn.
Tác dụng: Tăng tính truyền kì, nhấn mạnh sự trừng phạt kẻ ác, giáo dục đạo đức.+
câu 5
Ý nghĩa văn bản và bài học: Truyện khẳng định luật nhân quả làm ác sẽ gặp báo ác, dù ở đời có tránh khỏi nhưng xuống âm phủ vẫn phải chịu tội. Tác phẩm phê phán những kẻ tham tàn, cậy quyền làm điều thất đức, đồng thời ca ngợi người biết tỉnh ngộ, hướng thiện (như Thúc Khoản). Bản thân em rút ra bài học: phải sống lương thiện, tôn trọng người khác, tránh tham lam và sử dụng quyền lực để hại người.
Bài làm
Đoạn trích từ "Chinh phụ ngâm" nguyên tác Đặng Trần Côn, bản dịch thơ Nôm của Đoàn Thị Điểm là một trong những khúc ca bi thương và sâu sắc nhất của văn học trung đại Việt Nam. Bằng nghệ thuật miêu tả nội tâm tinh tế và ngôn ngữ giàu sức biểu cảm, đoạn thơ đã chạm đến tận cùng nỗi đau khổ, cô đơn của người chinh phụ khi phải sống trong cảnh chia lìa, chờ đợi chồng nơi chiến trận xa xôi.
Nội dung chính của đoạn trích tập trung vào việc bóc tách, phơi bày những cung bậc cảm xúc của người vợ trẻ. Đó là nỗi sầu vò võ, dai dẳng và tuyệt vọng, được thể hiện qua các phương diện sau:
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.
Mở đầu đoạn trích, không gian và thời gian được cố định trong sự quạnh hiu: "Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước / Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen". Những hành động luẩn quẩn, không mục đích "dạo hiên vắng", "ngồi rèm thưa" lột tả sự bồn chồn, khắc khoải của nhân vật. Không gian "hiên vắng", "rèm thưa" càng làm nổi bật sự trống trải trong tâm hồn người chinh phụ. Mọi sự vật xung quanh đều vô tri, vô giác trước nỗi lòng của nàng: "Ngoài rèm thước chẳng mách tin", "Đèn có biết dường bằng chẳng biết". Sự giao cảm với ngoại cảnh thất bại hoàn toàn, khiến nỗi cô đơn càng trở nên thấm thía.
"Gà eo óc gáy sương năm trống
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên
Khắc giờ đằng đẳng như niên
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa"
Nỗi sầu khiến cảm nhận về thời gian và không gian của nhân vật thay đổi một cách phi thường. Thời gian trôi qua chậm chạp, lê thê: "Gà eo óc gáy sương năm trống / Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên". Cảnh vật chìm trong màn đêm tĩnh mịch, chỉ có tiếng gà gáy thưa thớt, tiếng lá hòe xao động càng làm tăng thêm sự vắng lặng. Đỉnh điểm là sự so sánh đầy ám ảnh: "Khắc giờ đằng đẳng như niên / Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa". Một khắc đồng hồ dài đằng đẵng như cả một năm trời; nỗi sầu thì vô biên, mênh mông như biển cả. Đây là sự phóng đại nghệ thuật đắt giá, thể hiện nỗi đau đã vượt quá sức chịu đựng của con người.
"Hương gượng đốt hồn đà mê mải
Gương gượng soi lệ lại châu chan
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng"
Khi nỗi sầu đã lên đến đỉnh điểm, người chinh phụ tìm cách giải sầu nhưng đều thất bại. Điệp ngữ "gượng" được sử dụng đầy ám ảnh: "Hương gượng đốt hồn đà mê mải / Gương gượng soi lệ lại châu chan / Sắt cầm gượng gảy ngón đàn". Mỗi hành động "gượng" làm một việc quen thuộc thường ngày lại chỉ khiến nỗi buồn thêm chất chồng, nước mắt lại tuôn rơi. Cây đàn – biểu tượng cho tình yêu lứa đôi – giờ đây cũng đứt dây: "Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng". Hình ảnh này báo hiệu sự đứt gãy, chia lìa trong tình cảm vợ chồng, sự bế tắc hoàn toàn trong cuộc sống hiện tại của người chinh phụ.
Đoạn trích đạt đến trình độ nghệ thuật điêu luyện, góp phần làm nên giá trị bất hủ của tác phẩm:
Tác phẩm sử dụng thể thơ song thất lục bát truyền thống của dân tộc. Sự kết hợp nhịp nhàng giữa các câu bảy chữ (song thất) và các cặp lục bát tạo nên giọng điệu vừa trang trọng, cổ điển, vừa mềm mại, da diết. Nhịp thơ thường được chia lẻ (2/2/3 hoặc 4/3) ở các câu bảy chữ, mô phỏng tiếng thở dài, sự nấc nghẹn của nhân vật trữ tình, nhấn mạnh tâm trạng bi thương.
Bản dịch của Đoàn Thị Điểm sử dụng ngôn ngữ thơ Nôm thuần Việt, bình dị mà tinh tế. Các từ Hán Việt được sử dụng chọn lọc ("châu chan", "bi thiết") tạo sắc thái trang nhã, cổ điển. Đặc biệt, việc sử dụng các từ láy ("eo óc", "phất phơ", "đằng đẳng", "dằng dặc") đã cực tả trạng thái tâm lý, âm thanh và hình ảnh, khơi gợi sự ám ảnh về thời gian và không gian.
Cảnh vật trong đoạn trích không đơn thuần là phông nền mà là tấm gương phản chiếu tâm trạng. Cảnh "hoè rủ bóng", tiếng "gà eo óc" đều mang nặng tâm tư sầu muộn của con người. Biện pháp nhân hóa ("thước chẳng mách tin", "đèn có biết chăng") thể hiện sự khao khát được chia sẻ, được thấu hiểu đến tuyệt vọng của người chinh phụ.
Các hình ảnh ước lệ, tượng trưng quen thuộc trong văn học cổ như "dây uyên", "phím loan", "sắt cầm" được vận dụng một cách nhuần nhuyễn, tô đậm chủ đề tình yêu lứa đôi tan vỡ, éo le. Đoạn trích "Chinh phụ ngâm" là một kiệt tác của văn học trung đại, là tiếng nói chung cho nỗi đau của người phụ nữ trong chiến tranh phong kiến. Qua nghệ thuật miêu tả nội tâm bậc thầy và bút pháp trữ tình tinh tế của Đoàn Thị Điểm, nỗi sầu của người chinh phụ hiện lên chân thực, da diết, vượt qua giới hạn của thời đại để chạm đến trái tim của độc giả muôn đời. Đoạn thơ không chỉ là lời than trách chiến tranh mà còn là bản cáo trạng về sự bất hạnh của con người, đặc biệt là người phụ nữ, trong xã hội cũ.
Thông Điệp:
Con người cần trân trọng những giá trị đời thực và gắn bó với cội nguồn; chạy theo ảo mộng xa vời dễ dẫn đến mất mát và cô đơn.
Lý Giải:
Từ Thức mải mê tìm chốn tiên cảnh nhưng cuối cùng mất cả tiên giới lẫn trần thế. Điều đó cho thấy hạnh phúc thực sự nằm ở những điều gần gũi, bình dị trong cuộc sống, chứ không phải nơi huyền ảo xa xôi.