Bảo Nam
Giới thiệu về bản thân
câu 1:
Trong mỗi con người, quê hương luôn là nơi lưu giữ những ký ức đẹp đẽ và thiêng liêng nhất của cuộc đời. Đoạn trích “Tự tình với quê hương” đã khơi dậy trong em những cảm xúc sâu lắng về nơi chôn nhau cắt rốn. Quê hương hiện lên thật gần gũi qua những hình ảnh quen thuộc như lời ru của mẹ, bến đò xưa, dòng sông Lô đỏ nặng phù sa. Đó không chỉ là cảnh vật mà còn là nguồn nuôi dưỡng tâm hồn, gắn bó với tuổi thơ êm đềm của mỗi con người. Đặc biệt, những địa danh như Tam Đảo hay tháp Bình Sơn được nhắc đến với vẻ đẹp hùng vĩ, bền bỉ, gợi niềm tự hào về truyền thống quê hương. Em cảm nhận rõ rằng quê hương không chỉ hiện diện trong không gian mà còn sống động trong ký ức và tình cảm, theo con người suốt hành trình trưởng thành. Từ những trang sách, lời dạy của thầy cô đến những vần thơ quen thuộc, tình yêu quê hương được bồi đắp một cách tự nhiên và sâu sắc. Về nghệ thuật, đoạn thơ sử dụng nhiều hình ảnh giàu sức gợi, kết hợp với các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hóa: “tuổi thơ đẹp tựa một bài ca”, “ngọn Tam Đảo reo”, làm cho bức tranh quê hương trở nên sinh động, giàu cảm xúc. Ngôn ngữ thơ mộc mạc, giàu nhạc điệu cùng giọng điệu thiết tha, trìu mến đã góp phần thể hiện tình yêu quê hương sâu nặng của tác giả. Đoạn thơ giúp em thêm yêu, thêm trân trọng quê hương mình, đồng thời nhắc nhở mỗi người cần có ý thức gìn giữ và phát huy những giá trị tốt đẹp ấy.
câu 2:
Trong thời đại công nghệ số hiện nay, việc quảng bá văn hoá truyền thống không chỉ là một nhu cầu tất yếu mà còn là trách nhiệm của mỗi cá nhân và cộng đồng. Sự phát triển mạnh mẽ của internet, mạng xã hội và các nền tảng số đã mở ra cơ hội lớn để văn hoá dân tộc được lan tỏa rộng rãi, vượt qua mọi ranh giới không gian và thời gian.
Trước hết, công nghệ số giúp việc quảng bá văn hoá trở nên nhanh chóng và hiệu quả hơn bao giờ hết. Những giá trị truyền thống như lễ hội, ẩm thực, trang phục, phong tục tập quán… có thể được giới thiệu thông qua video, hình ảnh, bài viết trên các nền tảng trực tuyến. Nhờ đó, không chỉ người trong nước mà bạn bè quốc tế cũng có cơ hội tiếp cận và hiểu hơn về bản sắc văn hoá dân tộc. Đây là một lợi thế mà các phương thức truyền thống trước đây khó có thể đạt được.
Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội, việc quảng bá văn hoá trong thời đại số cũng đặt ra nhiều thách thức. Một số nội dung bị biến tướng, làm sai lệch giá trị gốc để thu hút lượt xem, gây hiểu lầm về văn hoá truyền thống. Ngoài ra, sự du nhập mạnh mẽ của các nền văn hoá ngoại lai cũng khiến một bộ phận giới trẻ dần xa rời hoặc thờ ơ với văn hoá dân tộc. Điều này đòi hỏi sự tỉnh táo và ý thức trách nhiệm khi tiếp nhận và lan tỏa thông tin trên không gian mạng.
Vì vậy, để quảng bá văn hoá truyền thống một cách hiệu quả, cần có sự chung tay của nhiều phía. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ, định hướng và bảo tồn các giá trị văn hoá. Các tổ chức, cá nhân sáng tạo nội dung cần khai thác chất liệu truyền thống một cách chân thực, sáng tạo nhưng không làm mất đi bản sắc. Đặc biệt, mỗi người trẻ cần nâng cao ý thức tìm hiểu, trân trọng và chủ động lan tỏa những nét đẹp văn hoá quê hương bằng những cách thức phù hợp với thời đại số.
Tóm lại, công nghệ số vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với việc quảng bá văn hoá truyền thống. Nếu biết tận dụng đúng cách, chúng ta không chỉ gìn giữ mà còn làm cho văn hoá dân tộc ngày càng tỏa sáng trong dòng chảy hội nhập toàn cầu.
câu 1:
phương thức biểu đạt chính của văn bản "Quần thể di tích Cố đô Huế − Di sản văn hóa thế giới" là thuyết minh
câu 2:
Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới vào năm 1993
câu 3:
- phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản là hình ảnh Đại Nội Huế về đêm
- tác dụng:
+ Minh họa trực quan về vẻ đẹp tráng lệ, lung linh của di tích, giúp văn bản trở nên sinh động và hấp dẫn với người đọc hơn
+ Tăng tính xác thực cho các thông tin được trình bày trong bài viết
+ Giúp người đọc dễ dàng hình dung và kết nối giữa thông tin lịch sử với vẻ đẹp thực tế của di sản
câu 4:
− Thông tin về mốc thời gian, số liệu:
+ Các mốc thời gian: Năm 1306, thế kỷ 15, năm 1636, năm 1687, đầu thế kỷ 18, giai đoạn 1788 − 1801, giai đoạn 1802 − 1945, năm 1993.
+ Các số liệu: 13 đời vua, ba tòa thành, phiên họp lần thứ 17.
- tác dụng:
+ Cung cấp bằng chứng lịch sử chính xác, cụ thể, giúp tăng độ tin cậy và tính khoa học cho một văn bản thông tin
+ Giúp người đọc dễ dàng theo dõi quá trình hình thành, phát triển và biến đổi của Huế qua các thời kỳ lịch sử khác nhau
+ Khẳng định bề dày lịch sử lâu đời và quy mô to lớn, tầm quan trọng của hệ thống kiến trúc Cố đô
câu 5:
Từ nội dung của văn bản "quần thể di tích cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới", em đề xuất một số việc giới trẻ có thể làm để tham gia vào bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc: Cần chủ động tìm hiểu và nâng cao kiến thức về lịch sử dân tộc thông qua việc đọc sách hoặc tham quan thực tế tại các di tích. Chúng ta cũng cần có ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn cảnh quan như: Không viết hay vẽ bậy, không xâm phạm hiện vật và giữ gìn vệ sinh chung khi đến các khu di sản. Cuối cùng, ta nên tận dụng sức mạnh của mạng xã hội để sáng tạo nội dung, hình ảnh nhằm quảng bá vẻ đẹp văn hóa Việt Nam đến bạn bè quốc tế.
câu 1:
Bài Làm
Nhân vật chị cỏ bò trong văn bản "Cổ tích" hiện lên là một con người nghèo khổ nhưng giàu lòng nhân ái và tình thương. Chị sống trong một túp lều thưng vách cót, phủ mái giấy dầu, đứng tựa chân tòa nhà ba tầng nghễu nghện; làm nghề cắt cỏ thuê, vậy mà vẫn sẵn sàng sẻ chia miếng cơm ít ỏi với bà cụ kẹo – một người xa lạ. Hành động "bẻ đôi nắm cơm mời ăn" dù giản dị nhưng đậm chất nghĩa tình, cho thấy tấm lòng nhân hậu, yêu thương của chị dành cho bà cụ. Khi đưa bà về sống cùng, chị coi bà như mẹ, chăm sóc, đùm bọc bằng tất cả sự chân thành, khiến túp lều nghèo trở nên ấm áp.Ngay cả khi mất nghề, cuộc sống càng khó khăn, chị vẫn không hề than trách mà cố gắng xoay xở, giữ trọn nghĩa tình. Đặc biệt, trước cái chết của bà cụ, chị đau đớn, tận tình lo hậu sự, thể hiện sự gắn bó sâu sắc như ruột thịt. Hình ảnh chị cỏ bò tiêu biểu cho vẻ đẹp của những con người lao động nghèo: thiếu thốn về vật chất nhưng giàu có về tâm hồn, luôn biết sống vì người khác. Qua đó, tác giả gửi gắm thông điệp về giá trị thiêng liêng của tình người trong cuộc sống.
câu 2:
Bài Làm
câu 1:
ngôi thứ ba
câu 2:
- những chi tiết miêu tả hoàn cảnh của bà cụ: "Bà sống được nhờ mấy lọ kẹo và chum nước lã. Hồi sức, bà bần thần như người mất trí, lang thang ăn mày đường phố."; " Bà xệp dưới gốc cột đèn góc phố ven đô, bày bán những lọ kẹo bột, kẹo vừng... mà nuôi đủ ba mẹ con."
- những chi tiết miêu tả hoàn cảnh của chị cỏ bò: "Nhà chị cỏ bò, một túp lều thưng vách cót, phủ mái giấy dầu, đứng tựa chân tòa nhà ba tầng nghễu nghện. Từ rày có mẹ, có con.";" Chị cỏ bò – tên người phố đặt cho – cắt cỏ thuê cho mấy anh xe bò"
câu 3:
chủ đề của tác phẩm: Ca ngợi tình người ấm áp giữa những con người nghèo khổ, dù trong hoàn cảnh khó khăn thì vẫn sẵn lòng chia sẻ và cùng nhau vượt qua nghịch cảnh. Tác giả cũng bày tỏ lòng thương cảm sâu sắc đối với cuộc sống nghèo khó của những người trong xã hội
câu 4:
Nhận xét về tác dụng của cách dùng từ ngữ trong đoạn văn:
- Sử dụng biệt pháp tu từ nhân hóa "Rét mướt ác với kẻ nghèo" gợi lên hoàn cảnh của người mẹ và con gái, làm nổi bật sự nghèo khó, đau khổ mà họ phải chịu đựng
- Sự kết hợp của các từ lặp đi lặp lại như "ào ào" và "đồm độp" gợi lên sự khắc nghiệt của thiên nhiên và đằng sau đó là hoàn cảnh đáng thương, thiếu thốn của 2 mẹ, con
câu 5:
Bài Làm
Từ nội dung câu chuyện "Cổ tích" của nhà văn Lê Văn Nguyên, em nhận ra tình người trong cuộc sống là nguồn ấm áp quý giá giúp con người vượt qua những hoàn cảnh khó khăn, bất hạnh. Trong truyện, giữa cảnh nghèo khổ, bà cụ kẹo và chị cỏ bò đã cưu mang, yêu thương nhau như mẹ con, tạo nên một mái ấm tuy đơn sơ nhưng đầy tình cảm. Chính sự sẻ chia ấy đã làm vơi đi cái lạnh của đói nghèo và cô đơn. Tình người không chỉ thể hiện qua vật chất mà còn ở sự quan tâm, đồng cảm chân thành. Nó giúp con người sống nhân ái hơn, biết yêu thương và trân trọng nhau. Vì vậy, mỗi chúng ta cần biết lan tỏa tình người để cuộc sống trở nên tốt đẹp và ý nghĩa hơn.
Bài thơ "Biết ơn cha mẹ" của Hoàng Mai là lời tự sự chan chứa xúc động về công ơn sinh thành dưỡng dục và nỗi ân hận muộn màng của người con. Mở đầu bài thơ là không gian mưa tháng bảy gợi buồn, gợi nhớ, làm dấy lên nỗi "chạnh lòng" khi cha mẹ đã khuất, để lại khoảng trống không gì bù đắp. Những câu thơ tiếp theo tái hiện hình ảnh cha mẹ tảo tần trong cảnh nghèo khó: cha “mải miết vườn rau”, mẹ chắt chiu từng bữa “cơm canh khoai sắn”, tất cả đều vì con. Khi cha đi làm xa, mẹ ở nhà thay cha dạy dỗ, nuôi con nên người - một sự hi sinh lặng thầm mà lớn lao. Thế nhưng khi con trưởng thành thì con lại rời quê "về chốn phồn hoa", mải mê cuộc sống riêng mà quên mất nghĩa tình sâu nặng. Đến khi nhận ra thì cha mẹ đã lượt ra đi, để lại nỗi đau xót và day dứt khôn nguôi: "Con chưa kịp ơn sâu đền đáp”. Khép lại bài thơ là lời cầu nguyện mang màu sắc Phật giáo, thể hiện tấm lòng hiếu thảo và mong muốn cha mẹ được siêu thoát. Bài thơ không chỉ là là tiếng lòng riêng mà còn nhắc nhở mỗi người hãy biết trân trọng, yêu thương và báo hiếu cha mẹ khi còn có thể.
a, vì MA và MB là 2 đường tiếp tuyến của đường tròn (O) suy ra \(MA\bot OA\) và \(MB\bot OB\) hay \(\hat{MAO}=\hat{MBO}=90^{o}\)
a) Do \(M A\), \(M B\) là hai tiếp tuyến của đường tròn \(\left(\right. O \left.\right)\) nên \(M A ⊥ O A ; M B ⊥ O B\)
Suy ra \(\hat{M A O} = \hat{M B O} = 9 0^{\circ}\).
Gọi \(I\) là trung điểm của \(O M\) (học sinh tự vẽ thêm trên hình).
Xét tam giác \(M A O\) vuông tại \(A\), \(A I\) là trung tuyến ứng với cạnh huyền, ta có:
\(A I = M I = I O = \frac{1}{2} O M\) (1)
Xét tam giác \(M B O\) vuông tại \(B\), \(B I\) là trung tuyến ứng với cạnh huyền, ta có:
\(B I = M I = I O = \frac{1}{2} O M\) (2)
Từ (1) và (2) suy ra \(A I = M I = I O = B I\)
Vậy tứ giác \(M A O B\) nội tiếp đường tròn tâm \(I\), đường kính \(O M\)
b,Do \(M A\), \(M B\) là hai tiếp tuyến của đường tròn \(\left(\right. O \left.\right)\) nên \(M A = M B\);
Mà \(O A = O B = R\) nên \(M O\) là trung trực của đoạn thẳng \(A B\).
Suy ra \(M O ⊥ A B\) tại \(D\).
\(H\) là hình chiếu của \(O\) trên đường thẳng \(d\) nên \(H O ⊥ M H\).
Xét tam giác \(\Delta O D C\) và \(\Delta O H M\) có:
\(\hat{M O H}\) chung;
\(\hat{O D C} = \hat{O H M} = 9 0^{\circ}\)
Suy ra \(\Delta O D C \sim \Delta O H M\) (g.g) suy ra \(\frac{O D}{O H} = \frac{O C}{O M}\)
Hay \(O C . O H = O D . O M\)
c, xét \(OC.OH=OD.OM\) (cmb) ta thấy:
\(O , H\) cố định
mà \(O H\) không đổi
⇒ Tích \(O C \cdot O H\) không đổi ⇒ \(O C\) không đổi
⇒ Điểm \(C\) là điểm cố định
Mà \(C\) luôn là giao điểm của dây \(A B\) với \(O H\)
⇒ Khi \(M\) di chuyển trên \(d\), dây \(A B\) luôn đi qua điểm cố định \(C\).
Gọi vận tốc của bạn Hoa lúc đi là \(x\) (km/h; \(x > 0\)).
Thời gian bạn Hoa đi từ nhà đến địa điểm A là \(\frac{24}{x}\) (giờ).
Thời gian bạn Hoa đi một nửa quãng đường lúc về là \(\frac{12}{x}\) (giờ).
Vận tốc của bạn Hoa đi một nửa quãng đường còn lại lúc về là \(x + 4\) (km/h).
Thời gian bạn Hoa đi nửa quãng đường còn lại lúc về nhà là \(\frac{12}{x + 4}\) (giờ).
Do thời gian về ít hơn thời gian đi là \(15\) phút \(\left(\right.\)đổi bằng \(\frac{1}{4}\) h\(\left.\right)\) nên ta có phương trình:
\(\frac{24}{x} - \frac{12}{x} - \frac{12}{x + 4} = \frac{1}{4}\)
\(\frac{12}{x} - \frac{12}{x + 4} = \frac{1}{4}\)
\(x^{2} + 4 x - 192 = 0\)
\(x = 12\) hoặc \(x = - 16\)
Ta thấy \(x = - 16\) không thỏa mãn.
Vậy vận tốc của bạn Hoa lúc đi là \(12\) km/h.
a) Với \(m = - 2\), phương trình (1) trở thành \(x^2+2x-3=0\)
khi nhẩm nghiệm, ta được: \(a+b+c=1+2-3=0\)
suy ra \(x_1=1\) và \(x_2=\frac{c}{a}=-3\)
b) Ta có: \(\Delta = m^{2} - 4 m + 4 = \left(\right. m - 2 \left.\right)^{2} \geq 0 , \forall m\)
Do đó phương trình \(\left(\right. 1 \left.\right)\) luôn có hai nghiệm \(x_{1} ; x_{2}\) với mọi \(m\).
Áp dụng hệ thức Viète, ta có: \(\begin{cases}x_1+x_2=m\\ x_1x_2=m-1\end{cases}\)
Biến đổi \(A = \frac{2 x_{1} x_{2} + 3}{x_{1}^{2} + x_{2}^{2} + 2 \left(\right. x_{1} x_{2} + 1 \left.\right)}\)
\(= \frac{2 x_{1} x_{2} + 3}{\left(\left(\right. x_{1} + x_{2} \left.\right)\right)^{2} + 2}\)
\(= \frac{2 \left(\right. m - 1 \left.\right) + 3}{m^{2} + 2}\)
\(= \frac{2 m + 1}{m^{2} + 2}\)
\(A = \frac{m^{2} + 2 - \left(\right. m - 1 \left.\right)^{2}}{m^{2} + 2} = 1 - \frac{\left(\right. m - 1 \left.\right)^{2}}{m^{2} + 2}\)
Lập luận chỉ ra \(A \leq 1\), dấu "=" xảy ra khi \(m = 1\).
Với \(x > 0 ; x \neq 4 ; x \neq 9\) ta có:
\(P = \left(\right. \frac{4 \sqrt{x}}{\sqrt{x} + 2} + \frac{8 x}{4 - x} \left.\right) : \left(\right. \frac{\sqrt{x} - 1}{x - 2 \sqrt{x}} - \frac{2}{\sqrt{x}} \left.\right)\)
\(= \frac{4 \sqrt{x} . \left(\right. \sqrt{x} - 2 \left.\right) - 8 x}{\left(\right. \sqrt{x} - 2 \left.\right) \left(\right. \sqrt{x} + 2 \left.\right)} : \frac{\sqrt{x} - 1 - 2 \left(\right. \sqrt{x} - 2 \left.\right)}{\sqrt{x} \left(\right. \sqrt{x} - 2 \left.\right)}\)
\(= \frac{- 4 x - 8 \sqrt{x}}{\left(\right. \sqrt{x} - 2 \left.\right) \left(\right. \sqrt{x} + 2 \left.\right)} : \frac{- \sqrt{x} + 3}{\sqrt{x} \left(\right. \sqrt{x} - 2 \left.\right)}\)
\(= \frac{- 4 \sqrt{x} \left(\right. \sqrt{x} + 2 \left.\right)}{\left(\right. \sqrt{x} - 2 \left.\right) \left(\right. \sqrt{x} + 2 \left.\right)} . \frac{\sqrt{x} \left(\right. \sqrt{x} - 2 \left.\right)}{- \sqrt{x} + 3}\)
\(= \frac{- 4 x}{- \sqrt{x} + 3} = \frac{4 x}{\sqrt{x} - 3}\)
câu 1:
bài thơ được viết theo thể thơ 8 chữ
câu 2:
đề tài của bài thơ: Khung cảnh bến đò ngày mưa
câu 3:
So sánh: Ngoài đường lội họa hoằn người đến chợ/ Thúng đội đầu như đội cả trời mưa. Hình ảnh so sánh gợi lên trong tâm tưởng của bạn đọc khung cảnh ảm đạm, tiêu điều trong một ngày mưa ở bến đò.
câu 4:
– Bức tranh bến đò ngày mưa được tác giả miêu tả qua những hình ảnh: Tre rũ rợi, chuối bơ phờ, dòng sông trôi rào rạt, con thuyền đậu trơ vơ, quán hàng đứng xo ro, quán hàng đứng xo ro, một bác lái ghé vào hút điếu, bà hàng sù sụ sặc hơi, ho, họa hoằn có người đến chợ, họa hoằn có con thuyền ghé chở, thúng đội đầu như đội cả trời mưa
– Những hình ảnh đó gợi cho em cảm nhận về một khung cảnh ảm đạm, hoang vắng, tiêu điều
câu 5:
Bức tranh bến đò ngày mưa là một bức tranh vắng lặng, ảm đạm, đơn điệu và tẻ nhạt, ẩn chứa nỗi buồn man mác. Dù bức tranh cảnh vật có bóng dáng của con người nhưng hình ảnh con người đều ít ỏi, dường như chỉ là "một", "họa hoằn" mới xuất hiện; còn khi xuất hiện thì hầu hết con người đều trong trạng thái mệt mỏi, buồn lặng, càng tô đậm thêm sự đơn điệu, ảm đạm của cảnh vật. Như vậy, qua bức tranh này, bài thơ gợi lên nỗi buồn man mác, sự lạnh lẽo, cô đơn trước cuộc sống vắng lặng, tiêu điều nơi đây.