Bảo Nam

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Bảo Nam
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

câu 1:

- thể thơ: tự do

- dấu hiệu: số chữ trong các dòng thơ không bằng nhau

câu 2:

hình ảnh miêu tả mùa thu trong khổ thơ (1): lá khởi vàng

câu 3:

tác dụng của câu hỏi tu từ “Có phải em mùa thu Hà Nội” trong khổ thơ thứ (4):

- tạo giọng điệu tha thiết, nhẹ nhàng, vừa như một lời hỏi han, trò chuyện tâm tình với "em", lại vừa như lời tự vấn

- Thể hiện sự ngỡ ngàng, xao xuyến và đắm say của nhân vật trữ tình trước vẻ đẹp đặc trưng, thơ mộng của mùa thu Hà Nội

- Việc lặp lại câu hỏi này ở đầu và gần cuối khổ thơ (4) giúp nhấn mạnh nỗi nhớ da diết, khắc khoải và khẳng định tình cảm gắn bó sâu nặng, không thể phai mờ của tác giả dành cho Hà Nội

câu 4:

- Cảm xúc của nhân vật trữ tình phảng phất nỗi buồn, khắc khoải khi nhắc đến “em” và mùa thu Hà Nội. Điệp ngữ “Có phải em mùa thu Hà Nội” như một tiếng gọi da diết, nửa như để hỏi, nửa như để khẳng định. Đó là sự tìm kiếm trong ký ức, một bóng hình quen thuộc đã hòa quyện với mùa thu dịu dàng của đất trời Hà Nội, làm lòng người xao xuyến khôn nguôi.

+ Niềm vui, niềm hân hoan và hi vọng. “Thôi thì có em đời ta hy vọng” - câu thơ như một lời khẳng định, một niềm tin khi sự hiện diện của “em” làm rạng ngời mọi ngõ ngách tâm hồn, thắp sáng những ngày tháng vốn có thể đã trôi qua trong lặng lẽ “cho đường phố vui”.

câu 5:

Từ tình yêu tha thiết và niềm tự hào về mùa thu Hà Nội của nhân vật trữ tình, ta nhận thức sâu sắc về trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc lan tỏa vẻ đẹp quê hương đất nước thời kỳ hội nhập. Trong xu thế toàn cầu hóa, người trẻ chính là những "đại sứ" mang hình ảnh Việt Nam ra thế giới. Trước hết, chúng ta cần có ý thức học tập, thấu hiểu và trân trọng những giá trị văn hóa, lịch sử truyền thống của dân tộc. Từ sự thấu hiểu đó, mỗi cá nhân cần biết tận dụng lợi thế của công nghệ và mạng xã hội để quảng bá một Việt Nam giàu bản sắc, thân thiện đến bạn bè quốc tế. Đồng thời, thế hệ trẻ cần tích cực trau dồi ngoại ngữ, tự tin giao lưu nhưng luôn giữ vững nguyên tắc "hòa nhập chứ không hòa tan". Việc lan tỏa cái đẹp của xứ sở không chỉ giúp phát triển đất nước mà còn là cách để khẳng định vị thế và lòng tự tôn dân tộc của tuổi trẻ hôm nay.

câu 1:

Theo tác giả, cuộc sống mà không có ước mơ sẽ tệ hại kinh khủng. Bởi khi đó ta đã đánh mất mục tiêu sống của mình. Không có sự đam mê, sáng tạo sẽ khiến bạn chán nản và không tâm huyết với công việc mình đang làm. Bạn không có động lực để vượt qua khó khăn và luôn bằng lòng với những gì mình đang có.

câu 2:

- phần dẫn trong các câu là: “Ước mơ không phải là cái gì sẵn có, cũng không phải là cái gì không thể có. Ước mơ giống như con đường chưa có, nhưng con người phải khai phá và vượt qua.”

- phần đó được dẫn theo cách trực tiếp

câu 3:

- biện pháp tu từ được sử dụng: điệp ngữ "xuất hiện"; "mất đi"

- tác dụng:

+ Giúp câu văn giàu nhịp điệu, sinh động và hấp dẫn

+ Nhấn mạnh khi đã có ước mơ thì chúng ta phải có những hành động cụ thể để thực hiện được ước mơ đó, nếu không có hành động thì ước mơ sẽ không bao giờ tồn tại nữa; qua đó tác giả khuyên chúng ta cẫn nỗ lực thực hiện ước mơ

câu 4

Theo em, Thông điệp trong đoạn trích có ý nghĩa nhất đối với em là: "Mọi ước mơ dù mơ hồ đều có một giá trị... Quan trọng là bạn cố gắng vì nó như thế nào và nỗ lực đến đâu mà thôi." bởi vì nó có thể giải phóng nỗi sợ hãi. Nhiều người trong chúng ta thường không dám ước mơ vì sợ bị chê cười là viển vông, hão huyền. Thông điệp này khẳng định mọi ý tưởng ban đầu đều có giá trị riêng, tiếp thêm sự tự tin để chúng ta dám nghĩ lớn. Đồng thời, ước mơ cũng giúp định vị giá trị cốt lõi. Đoạn trích chỉ ra rằng giá trị của ước mơ không nằm ở việc nó thực tế ngay từ đầu, mà nằm ở hành trình nỗ lực. Chính sự kiên trì, cố gắng cống hiến mới là thước đo biến cái vô hình thành hữu hình.

Trong cuộc sống hiện đại đầy biến động, bên cạnh những giá trị tốt đẹp vẫn đang được gìn giữ, thì cũng xuất hiện không ít những biểu hiện tiêu cực đáng lo ngại, trong đó có một căn bệnh đang ngày càng lan rộng và trở thành một vấn đề đáng lo ngại, đó là “căn bệnh vô cảm”. Vô cảm là thái độ thờ ơ, lạnh nhạt trước nỗi đau, khó khăn của người khác, thậm chí trước cả những điều sai trái diễn ra xung quanh. Biểu hiện của nó rất dễ thấy: gặp người bị tai nạn nhưng không giúp đỡ, chứng kiến bất công nhưng im lặng, sống chỉ biết đến lợi ích cá nhân mà quên đi cộng đồng. Nguyên nhân của tình trạng này có thể xuất phát từ lối sống gấp gáp, áp lực cuộc sống, sự ảnh hưởng của công nghệ khiến con người ít kết nối trực tiếp, hoặc do sự xuống cấp về đạo đức. Hậu quả của vô cảm vô cùng nghiêm trọng, làm mất đi tình người, khiến xã hội trở nên lạnh lẽo, thiếu sự sẻ chia và lòng tin. Để khắc phục, mỗi người cần rèn luyện lòng nhân ái, biết quan tâm, giúp đỡ người khác từ những việc nhỏ nhất. Đồng thời, gia đình và nhà trường cũng cần giáo dục ý thức sống có trách nhiệm, biết yêu thương và đồng cảm. Chỉ khi mỗi cá nhân biết “sống vì người khác”, xã hội mới trở nên tốt đẹp và nhân văn hơn.

" Thơ làm cho tất cả những gì tốt đẹp nhất trong cuộc sống trở thành bất tử" Shelley. Và đoạn trích của bài thơ " truyện kiều" của nhà thơ Nguyễn Du là một trong những bài thơ đó. Thật vậy, trong đoạn trích, ta thấy nhân vật Đạm Tiên tuy không được xuất hiện trực tiếp nhưng hiện lên là biểu tượng cho bi kịch "hồng nhan bạc mệnh" của người phụ nữ xã hội cũ. Qua lời kể của Vương Quan, Đạm Tiên từng là một ca nhi "nổi danh tài sắc một thì", cuộc sống đầy náo nhiệt với kẻ đưa người đón "hiếm gì yến anh". Thế nhưng, số phận của nàng lại vô cùng ngắn ngủi và bi thảm. Cụm từ "nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương" đã khái quát cuộc đời thanh xuân sớm nở tối tàn, chết khi tuổi đời còn rất trẻ. Nỗi đau xót càng tăng lên khi nàng nằm xuống trong cảnh ngộ cô đơn, "trâm gãy, bình rơi" ngay trước khi gặp được tri kỷ. Ngôi mộ của nàng hiện tại chỉ là "sè sè nấm đất", "hương khói vắng tanh", trơ trọi giữa cỏ hoa và bị người đời lãng quên theo thời gian "ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm". Nguyễn Du đã vô cùng sắc sảo khi xây dựng Đạm Tiên không chỉ như một cá thể bất hạnh, mà còn là cái cớ để Thúy Kiều thốt lên tiếng khóc xé lòng: "Đau đớn thay, phận đàn bà!/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung." Qua cuộc đời Đạm Tiên, tác giả vừa bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc cho những kiếp má đào, vừa ngầm dự báo về tương lai đầy giông bão của chính Thúy Kiều.

câu 1

Năm dòng thơ cuối trong đoạn trích Hạnh phúc của Giang Nam đã kết tinh sâu sắc cảm xúc của người cha sau chiến tranh. Trong hoàn cảnh “má bận đi công tác”, người cha lần đầu được trực tiếp chăm sóc con, được hưởng niềm vui giản dị của đời sống thường ngày. Hành động “đưa con đến trường” vốn rất đỗi bình thường, nhưng lại trở thành nguồn hạnh phúc lớn lao bởi đó là điều mà chiến tranh đã tước đoạt suốt ba mươi năm. Điệp ngữ “cái hạnh phúc” lặp lại nhiều lần nhấn mạnh cảm xúc dâng trào, vừa vui sướng, vừa xen lẫn chút nghẹn ngào, xót xa. Đặc biệt, hình ảnh so sánh “trong lành như hơi thở của con” đã gợi lên vẻ đẹp tinh khôi, thiêng liêng của tình phụ tử và của cuộc sống hòa bình. Câu thơ “nửa đời người ba mới gặp” như một lời tự sự đầy xúc động, cho thấy giá trị vô cùng quý giá của những điều tưởng như nhỏ bé. Với ngôn ngữ mộc mạc, chân thành và nhịp điệu linh hoạt, đoạn thơ không chỉ thể hiện tình cảm gia đình sâu nặng mà còn khẳng định ý nghĩa lớn lao của hòa bình – khi con người được sống trọn vẹn với những niềm hạnh phúc bình dị nhất.

Câu 1:

Đoạn trích trên được viết theo ngôi kể thứ nhất

Câu 2

- Lời dẫn trực tiếp: Em đừng buồn. Anh mà ở lại thì anh không đi được nữa. Thôi nào con, cho bố đi nào

- Lời người kể chuyện: Cha tôi bảo; Cha chuyền tay trao con gái cho vợ rồi quay gót

câu 3:

Câu văn “Lần này, bước chân ông quả quyết, thật nhanh, không ngoái đầu nhìn lại.” cho thấy:

- Thái độ cương quyết và tinh thần trách nhiệm của cha với Tổ quốc

- Tình cảm yêu thương, gắn bó với gia đình, không dám nhìn lại vì sợ sẽ quyến luyến không thể rời xa vợ và con

câu 4:

- Biện pháp tu từ: Liệt kê.

- Tác dụng:

+ Làm tăng tính biểu đạt, hấp dẫn cho lời văn

+ Nhấn mạnh những nỗi lo lắng, tấm lòng yêu thương của người cha dành cho con cái, gia đình

câu 5:

Có thể đồng tình vì cách giáo dục của người cha thể hiện sự quan tâm, trách nhiệm và định hướng con cái tránh sai lầm. Tuy nhiên, cũng cần kết hợp với sự thấu hiểu, chia sẻ để con phát triển tự nhiên và không bị áp lực quá mức.

Hình tượng “Bà má Hậu Giang” trong bài thơ cùng tên của Tố Hữu là biểu tượng rực rỡ cho vẻ đẹp kiên trung, bất khuất của người phụ nữ Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp. Trước hết, má hiện lên với vẻ ngoài bình dị, tảo tần bên “túp lều tranh”, với “nồi cơm to” chăm lo cho các con du kích. Thế nhưng, ẩn sau dáng vẻ “lẩy bẩy như tàu chuối khô” vì tuổi già lại là một ý chí sắt đá. Trước sự tàn bạo của kẻ thù “mắt xanh mũi lõ”, dù bị giày đạp, gươm kề hông, má vẫn một lòng giữ vững khí tiết: “Má quyết không khai nào!”. Đỉnh điểm của lòng yêu nước và căm thù giặc là khoảnh khắc má dồn hết chút sức tàn như “ngọn sóng trào” để đứng dậy quát thẳng vào mặt kẻ thù, khẳng định niềm tin mãnh liệt vào sự nghiệp cách mạng và thế hệ “con tao trăm vùng” gan dạ. Sự hy sinh của má không phải là sự khuất phục mà là lời tuyên ngôn đanh thép về tinh thần dân tộc. Hình ảnh “dòng máu đỏ lên trời” cùng bóng má in trên sông Hậu Giang đã bất tử hóa người mẹ kháng chiến – những con người lấy thân mình làm lá chắn, thầm lặng mà vĩ đại, góp phần làm nên chiến thắng của non sông. Qua đó, Tố Hữu không chỉ ca ngợi hình tượng người mẹ anh hùng mà còn khơi dậy lòng căm thù giặc và niềm tự hào dân tộc sâu sắc trong lòng người đọc.

câu 1:

ngôi thứ 3

câu 2:

Trong đoạn trích, sự cẩu thả trong văn chương sẽ tạo nên những tác phẩm "vô vị, nhạt nhẽo, gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông, diễn một vài ý rất thông thường quấy loãng trong một thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi".

câu 3:

- bptt được sử dụng trong câu văn trên: liệt kê

- tác dụng:

+ Tạo nên sự dồn dập liên tiếp những hành động trong sáng tạo nghệ thuật của Hộ.

+ Nhấn mạnh sự cẩn thận, đan mê trong sáng tạo nghệ thuật của một nghệ sĩ chân chính và yêu nghề, hết lòng vì nghệ thuật.

câu 4:

Nhân vật Hộ trong đoạn trích trước đấy là một người nghệ sĩ chân chính với khát khao sáng tạo nghệ thuật mãnh liệt. Anh đã từng xem nhẹ vật chất, hết lòng trau chuốt cho tác phẩm của mình. Sau khi khi có vợ con, vì những lo toan của cuộc sống, Hộ đã thay đổi. Anh không thể nhìn cảnh vợ con đói khát, khổ sở. Vì thế, chàng nghệ sĩ giàu nhiệt huyết ngày xưa đã vội vã viết. Chính anh cũng khẳng định những tác phẩm của mình thật vô vị. Hoàn cảnh khiến anh không thể thực hiện lí tưởng của mình. Điều đó làm anh dằn vặt, trăn trở, tự trách bản thân. Anh cũng là một nhân vật đáng thương.

câu 5:

Tôi đồng tình với quan điểm trên, vì đó là một quan niệm đúng đắn, sâu sắc:

+ Thế giới văn chương cũng như cuộc sống luôn vô cùng phong phú, đa dạng. Nếu người nghệ sĩ cứ mãi đi theo một lối mòn thì sẽ tạo ra những tác phẩm nhàm chán, vô vị và tẻ nhạt.

+ Để tạo ra được những tác phẩm ấn tượng, người nghệ sĩ cần phải cẩn thận, kĩ lưỡng, sáng tạo, tìm ra những lối đi riêng, thể hiện phong cách riêng.

+ Khẳng định mỗi tác phẩm văn chương là cả sự sáng tạo kì công của người nghệ sĩ.

câu 1:

Trong mỗi con người, quê hương luôn là nơi lưu giữ những ký ức đẹp đẽ và thiêng liêng nhất của cuộc đời. Đoạn trích “Tự tình với quê hương” đã khơi dậy trong em những cảm xúc sâu lắng về nơi chôn nhau cắt rốn. Quê hương hiện lên thật gần gũi qua những hình ảnh quen thuộc như lời ru của mẹ, bến đò xưa, dòng sông Lô đỏ nặng phù sa. Đó không chỉ là cảnh vật mà còn là nguồn nuôi dưỡng tâm hồn, gắn bó với tuổi thơ êm đềm của mỗi con người. Đặc biệt, những địa danh như Tam Đảo hay tháp Bình Sơn được nhắc đến với vẻ đẹp hùng vĩ, bền bỉ, gợi niềm tự hào về truyền thống quê hương. Em cảm nhận rõ rằng quê hương không chỉ hiện diện trong không gian mà còn sống động trong ký ức và tình cảm, theo con người suốt hành trình trưởng thành. Từ những trang sách, lời dạy của thầy cô đến những vần thơ quen thuộc, tình yêu quê hương được bồi đắp một cách tự nhiên và sâu sắc. Về nghệ thuật, đoạn thơ sử dụng nhiều hình ảnh giàu sức gợi, kết hợp với các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hóa: “tuổi thơ đẹp tựa một bài ca”, “ngọn Tam Đảo reo”, làm cho bức tranh quê hương trở nên sinh động, giàu cảm xúc. Ngôn ngữ thơ mộc mạc, giàu nhạc điệu cùng giọng điệu thiết tha, trìu mến đã góp phần thể hiện tình yêu quê hương sâu nặng của tác giả. Đoạn thơ giúp em thêm yêu, thêm trân trọng quê hương mình, đồng thời nhắc nhở mỗi người cần có ý thức gìn giữ và phát huy những giá trị tốt đẹp ấy.

câu 2:

Trong thời đại công nghệ số hiện nay, việc quảng bá văn hoá truyền thống không chỉ là một nhu cầu tất yếu mà còn là trách nhiệm của mỗi cá nhân và cộng đồng. Sự phát triển mạnh mẽ của internet, mạng xã hội và các nền tảng số đã mở ra cơ hội lớn để văn hoá dân tộc được lan tỏa rộng rãi, vượt qua mọi ranh giới không gian và thời gian.

Trước hết, công nghệ số giúp việc quảng bá văn hoá trở nên nhanh chóng và hiệu quả hơn bao giờ hết. Những giá trị truyền thống như lễ hội, ẩm thực, trang phục, phong tục tập quán… có thể được giới thiệu thông qua video, hình ảnh, bài viết trên các nền tảng trực tuyến. Nhờ đó, không chỉ người trong nước mà bạn bè quốc tế cũng có cơ hội tiếp cận và hiểu hơn về bản sắc văn hoá dân tộc. Đây là một lợi thế mà các phương thức truyền thống trước đây khó có thể đạt được.

Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội, việc quảng bá văn hoá trong thời đại số cũng đặt ra nhiều thách thức. Một số nội dung bị biến tướng, làm sai lệch giá trị gốc để thu hút lượt xem, gây hiểu lầm về văn hoá truyền thống. Ngoài ra, sự du nhập mạnh mẽ của các nền văn hoá ngoại lai cũng khiến một bộ phận giới trẻ dần xa rời hoặc thờ ơ với văn hoá dân tộc. Điều này đòi hỏi sự tỉnh táo và ý thức trách nhiệm khi tiếp nhận và lan tỏa thông tin trên không gian mạng.

Vì vậy, để quảng bá văn hoá truyền thống một cách hiệu quả, cần có sự chung tay của nhiều phía. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ, định hướng và bảo tồn các giá trị văn hoá. Các tổ chức, cá nhân sáng tạo nội dung cần khai thác chất liệu truyền thống một cách chân thực, sáng tạo nhưng không làm mất đi bản sắc. Đặc biệt, mỗi người trẻ cần nâng cao ý thức tìm hiểu, trân trọng và chủ động lan tỏa những nét đẹp văn hoá quê hương bằng những cách thức phù hợp với thời đại số.

Tóm lại, công nghệ số vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với việc quảng bá văn hoá truyền thống. Nếu biết tận dụng đúng cách, chúng ta không chỉ gìn giữ mà còn làm cho văn hoá dân tộc ngày càng tỏa sáng trong dòng chảy hội nhập toàn cầu.