Nguyễn Văn Cao
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 (2,0 điểm)
Trong bài thơ Người cắt dây thép gai, hình ảnh hàng rào dây thép gai mang ý nghĩa hiện thực và biểu tượng sâu sắc. Trước hết, đó là hình ảnh có thật của chiến tranh, là hệ thống phòng thủ ngăn cản bước tiến của quân giải phóng. Đồng thời, nó còn tượng trưng cho sự chia cắt đau thương của đất nước suốt bao năm, ngăn cách con người với quê hương, với người thân, với những giá trị bình dị của cuộc sống. Vì thế, khi người chiến sĩ lần lượt cắt đứt các hàng rào dây thép gai cũng là lúc thiên nhiên và cuộc sống hồi sinh: cỏ lại cất tiếng hát, nhựa cây lại chảy, nhịp cầu như được nối liền, dòng sông lại tuôn chảy. Hình ảnh ấy thể hiện khát vọng thống nhất non sông, khát vọng hòa bình và đoàn tụ của dân tộc Việt Nam. Đặc biệt, việc người chiến sĩ cắt đến “hàng rào cuối cùng” và kêu gọi đồng đội xung phong đã làm nổi bật tinh thần dũng cảm, ý chí quyết chiến quyết thắng của quân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Qua đó, nhà thơ bày tỏ niềm tin mãnh liệt vào ngày đất nước thống nhất, Bắc – Nam sum họp một nhà.
Câu 2 (4,0 điểm)
Trong bất cứ thời đại nào, trách nhiệm luôn là một trong những phẩm chất quan trọng làm nên giá trị của con người. Đối với thế hệ trẻ ngày nay, lối sống có trách nhiệm càng trở nên cần thiết bởi đó không chỉ là nền tảng để hoàn thiện bản thân mà còn góp phần xây dựng gia đình và phát triển đất nước.
Trách nhiệm là ý thức và sự tự giác trong việc thực hiện những bổn phận, nghĩa vụ của mình đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước hành động của mình. Người sống có trách nhiệm luôn nghiêm túc với công việc, biết quan tâm đến người khác và sẵn sàng cống hiến vì lợi ích chung.
Đối với thế hệ trẻ hiện nay, lối sống có trách nhiệm mang ý nghĩa vô cùng quan trọng. Trước hết, nó giúp mỗi người hình thành nhân cách tốt đẹp, sống có mục tiêu, có lí tưởng và không ngừng nỗ lực để hoàn thiện bản thân. Một học sinh có trách nhiệm sẽ tự giác học tập, rèn luyện đạo đức, biết quản lí thời gian và không ngừng trau dồi kiến thức để chuẩn bị cho tương lai. Bên cạnh đó, lối sống có trách nhiệm còn góp phần xây dựng gia đình hạnh phúc, xã hội văn minh và đất nước ngày càng phát triển. Chính những người trẻ có ý thức trách nhiệm sẽ là lực lượng tiên phong trong công cuộc hội nhập, đổi mới và đưa đất nước vươn lên.
Thực tế cho thấy, nhiều bạn trẻ ngày nay đã sống rất có trách nhiệm. Họ tích cực học tập, tham gia các hoạt động thiện nguyện, bảo vệ môi trường, lan tỏa những giá trị tốt đẹp đến cộng đồng. Trong đại dịch Covid-19, không ít thanh niên, sinh viên đã xung phong tham gia hỗ trợ chống dịch, góp phần cùng cả nước vượt qua khó khăn. Những hành động ấy đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao cả của tuổi trẻ đối với xã hội.
Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận thanh niên sống thờ ơ, thiếu trách nhiệm với bản thân và cộng đồng. Họ lười học tập, thiếu ý chí vươn lên, sống ích kỉ, vô cảm, thậm chí đổ lỗi cho hoàn cảnh khi thất bại. Lối sống ấy không chỉ làm ảnh hưởng đến tương lai của chính mình mà còn tác động tiêu cực đến xã hội. Vì vậy, mỗi người trẻ cần nhận thức đúng đắn về vai trò của trách nhiệm và không ngừng rèn luyện để trở thành những công dân có ích.
Là học sinh, chúng ta cần sống có trách nhiệm từ những việc nhỏ nhất: chăm chỉ học tập, kính trọng ông bà, cha mẹ, thầy cô; biết yêu thương, giúp đỡ mọi người; chấp hành pháp luật và tích cực tham gia các hoạt động vì cộng đồng. Đồng thời, cần có ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và không ngừng phấn đấu để thực hiện những ước mơ chính đáng của bản thân.
Sống có trách nhiệm là thước đo giá trị của mỗi con người. Thế hệ trẻ hôm nay chính là chủ nhân tương lai của đất nước, vì vậy càng cần xây dựng cho mình một lối sống trách nhiệm để trưởng thành, cống hiến và góp phần đưa đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh.
Câu 1 (0,5 điểm).
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là biểu cảm (kết hợp với tự sự và miêu tả).
Câu 2 (0,5 điểm).
Nhân vật trữ tình trong văn bản là người chiến sĩ giải phóng quân trực tiếp tham gia cắt hàng rào dây thép gai để mở đường tiến công, thống nhất đất nước.
Câu 3 (1,0 điểm). Nhận xét về hình thức của văn bản.
- Văn bản được viết theo thể thơ tự do, gồm hai phần (I và II), câu thơ dài ngắn linh hoạt.
- Nhiều hình ảnh giàu tính biểu tượng như: cánh cò, dòng sông, nhịp cầu, hàng rào dây thép gai,...
- Sử dụng điệp ngữ, câu cảm thán, nhịp thơ biến đổi phù hợp với diễn biến cảm xúc.
- Ngôn ngữ giàu chất trữ tình, kết hợp giữa cảm hứng lãng mạn và cảm hứng sử thi.
Câu 4 (1,0 điểm). Phân tích mạch cảm xúc của văn bản.
- Phần I: Bộc lộ nỗi đau xót, khắc khoải trước cảnh đất nước bị chia cắt; niềm thương nhớ quê hương, người thân và khát vọng thống nhất đất nước.
- Phần II: Diễn tả niềm vui, sự hào hứng và khí thế chiến đấu khi từng hàng rào dây thép gai bị cắt bỏ; hình ảnh thiên nhiên, cuộc sống như hồi sinh, đất nước dần nối liền một dải.
- Kết thúc bài thơ là cảm xúc tự hào, tin tưởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến và ngày thống nhất non sông.
Câu 5 (1,0 điểm). Thông điệp ý nghĩa nhất rút ra từ văn bản.
Thông điệp có ý nghĩa nhất đối với em là: Hòa bình, độc lập và thống nhất đất nước là thành quả vô cùng thiêng liêng, được đánh đổi bằng biết bao hi sinh của các thế hệ đi trước; vì vậy mỗi người cần biết trân trọng quá khứ, sống có trách nhiệm và góp phần xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Trước những biến động của lịch sử và đời sống, văn học Việt Nam thời kì đổi mới đã hướng ngòi bút vào việc khám phá vẻ đẹp con người ở chiều sâu văn hóa và nhân tính. Qua hai đoạn trích Mây trắng còn bay của Bảo Ninh và Một người Hà Nội của Nguyễn Khải, người đọc bắt gặp những vẻ đẹp khác nhau của con người Việt Nam, đồng thời nhận ra những nét độc đáo trong cảm hứng và nghệ thuật của mỗi nhà văn.
Điểm gặp gỡ trước hết của hai đoạn trích là đều ngợi ca những giá trị tinh thần cao đẹp của con người Việt Nam. Trong Mây trắng còn bay, hình ảnh bà cụ già lặn lội gần ba mươi năm mới có dịp đến miền Nam để thắp nén nhang tưởng nhớ người con trai đã hi sinh cho Tổ quốc khiến người đọc xúc động sâu sắc. Ngay trên chuyến bay, bà cụ vẫn mang theo hoa quả, phẩm oản, ảnh người con và lập một bàn thờ nhỏ giữa không trung. Hành động ấy xuất phát từ tình mẫu tử thiêng liêng, từ lòng biết ơn đối với những người đã ngã xuống vì đất nước. Còn trong Một người Hà Nội, cô Hiền hiện lên là một người phụ nữ Hà Nội bình thường nhưng mang cốt cách thanh lịch, tự trọng và ý thức sâu sắc về nếp sống văn hóa. Cô luôn chủ động trong cuộc sống, biết vun vén gia đình và đặc biệt coi trọng việc giáo dục con cái. Qua đó, cả Bảo Ninh và Nguyễn Khải đều khẳng định sức sống bền vững của những giá trị truyền thống tốt đẹp trong tâm hồn con người Việt Nam.
Tuy nhiên, mỗi tác giả lại có cách khám phá và biểu hiện riêng. Bảo Ninh tập trung khắc họa vẻ đẹp của tình mẫu tử và sự tri ân đối với quá khứ chiến tranh. Hình ảnh bà cụ nhỏ bé, lặng lẽ giữa khoang máy bay hiện đại tạo nên sự đối lập đầy ám ảnh với thái độ cục cằn, vô cảm của “tay vận comple”. Qua đó, nhà văn không chỉ bày tỏ niềm xúc động trước sự hi sinh của thế hệ đi trước mà còn nhắc nhở con người hôm nay phải biết trân trọng quá khứ, sống có nghĩa tình. Chi tiết cuối truyện với làn khói nhang “bốc lên dìu dịu”, “những cây nhang trên trời thẳm tỏa hương thơm ngát” mang đậm chất biểu tượng, tạo nên vẻ đẹp thiêng liêng và giàu chất thơ.
Trong khi đó, Nguyễn Khải lại hướng ngòi bút vào việc khám phá bản lĩnh văn hóa của con người trong đời thường. Cô Hiền không phải người anh hùng hay nhân vật phi thường mà chỉ là một người phụ nữ bình thường, nhưng lại sở hữu lối sống tỉnh táo, bản lĩnh và ý thức sâu sắc về phẩm giá. Từ việc lựa chọn chồng, chủ động trong sinh đẻ đến cách dạy con biết “tự trọng, biết xấu hổ”, cô Hiền hiện lên như một biểu tượng cho cốt cách người Hà Nội thanh lịch, văn minh. Qua nhân vật này, Nguyễn Khải gửi gắm niềm tin vào những giá trị văn hóa truyền thống như một điểm tựa bền vững của dân tộc trong mọi biến thiên của thời đại.
Về nghệ thuật, cả hai tác giả đều thành công trong việc xây dựng nhân vật qua những chi tiết giàu ý nghĩa và ngôn ngữ đối thoại tự nhiên. Tuy nhiên, văn Bảo Ninh giàu chất trữ tình, sử dụng nhiều hình ảnh biểu tượng và tạo dư ba cảm xúc sâu lắng; còn văn Nguyễn Khải thiên về giọng điệu triết lí, sắc sảo, giàu tính chiêm nghiệm và khám phá con người từ góc nhìn văn hóa.
Như vậy, dù khai thác những phương diện khác nhau, Mây trắng còn bay và Một người Hà Nội đều thể hiện sự trân trọng đối với những vẻ đẹp bền vững của con người Việt Nam. Một bên là tình mẫu tử, lòng biết ơn quá khứ; một bên là bản lĩnh văn hóa và nhân cách sống. Hai đoạn trích không chỉ cho thấy những đóng góp riêng của Bảo Ninh và Nguyễn Khải mà còn góp phần khẳng định chiều sâu nhân văn của văn học Việt Nam thời kì đổi mới.
Trong dòng văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945, Thạch Lam và Nam Cao đều dành sự quan tâm sâu sắc đến số phận những con người nhỏ bé, đặc biệt là người phụ nữ nghèo khổ trong xã hội cũ. Qua hai đoạn trích trong truyện ngắn Hai lần chết và Dì Hảo, hai nhà văn đã thể hiện niềm cảm thương sâu sắc trước những bi kịch của người phụ nữ, đồng thời bộc lộ những nét riêng độc đáo trong cách nhìn hiện thực và nghệ thuật biểu hiện.
Trước hết, cả hai đoạn trích đều khắc họa số phận bất hạnh của những người phụ nữ hiền lành, giàu đức hi sinh nhưng phải chịu nhiều đau khổ. Dung trong Hai lần chết bị gia đình ruồng rẫy, bị mẹ đem gả như một món hàng để đổi lấy tiền. Về nhà chồng, nàng phải làm việc quần quật, thường xuyên bị mẹ chồng chửi mắng, chồng nhu nhược, em chồng cay nghiệt. Không tìm được sự cảm thông từ cả gia đình chồng lẫn gia đình ruột thịt, Dung rơi vào tuyệt vọng và từng nghĩ đến cái chết như một cách giải thoát. Còn dì Hảo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao cũng là người phụ nữ bất hạnh. Dì yêu thương chồng hết mực, tần tảo làm lụng nuôi chồng nhưng lại phải sống với một người chồng lười biếng, nghiện rượu, vũ phu. Khi mất con và bị tê liệt, dì trở thành gánh nặng đối với chồng, cuối cùng bị bỏ rơi trong đau đớn. Qua đó, cả hai tác giả đều lên án xã hội bất công đã đẩy người phụ nữ vào cảnh khốn cùng, đồng thời thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc đối với những con người bất hạnh.
Tuy nhiên, mỗi nhà văn lại có cách khám phá và thể hiện riêng. Ở Thạch Lam, bi kịch của Dung chủ yếu bắt nguồn từ sự vô cảm, tàn nhẫn của những người thân trong gia đình. Dung bị đối xử như một món hàng, không nhận được tình yêu thương hay sự sẻ chia. Tâm trạng đau đớn, tuyệt vọng của nhân vật được miêu tả tinh tế qua những giọt nước mắt, qua khát vọng được chết để thoát khỏi cuộc sống địa ngục. Giọng văn nhẹ nhàng, giàu chất trữ tình càng làm nổi bật nỗi xót xa, thương cảm.
Trong khi đó, Nam Cao đi sâu vào bi kịch của con người trong cảnh nghèo đói cùng cực. Ông không chỉ phơi bày sự ích kỉ, tàn nhẫn của người chồng mà còn nhìn thấy nguyên nhân sâu xa từ hoàn cảnh xã hội. Vì miếng cơm manh áo, con người bị đẩy đến chỗ tha hóa, trở nên vô tình với chính những người thân yêu nhất. Bởi vậy, Nam Cao vừa phê phán vừa thể hiện thái độ cảm thông đối với những số phận bị hoàn cảnh xô đẩy. Giọng văn giàu tính triết lí, xen lẫn những lời cảm thán đau đớn như “Chao ôi!” khiến nỗi đau của dì Hảo trở nên ám ảnh hơn.
Về nghệ thuật, cả hai đoạn trích đều thành công trong việc xây dựng nhân vật thông qua ngôn ngữ đối thoại, độc thoại nội tâm và miêu tả tâm lí tinh tế. Tuy nhiên, văn Thạch Lam thiên về chất thơ, nhẹ nhàng mà thấm thía; còn Nam Cao sắc lạnh, giàu chiều sâu hiện thực và triết lí nhân sinh.
Như vậy, dù có những nét khác biệt trong cách tiếp cận và bút pháp nghệ thuật, cả Thạch Lam và Nam Cao đều gặp nhau ở tấm lòng nhân đạo cao đẹp, ở sự cảm thương chân thành đối với những người phụ nữ bất hạnh. Hai đoạn trích không chỉ phản ánh hiện thực đau thương của xã hội cũ mà còn khẳng định giá trị nhân văn sâu sắc của văn học hiện thực Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.