Liễu Thúy Hường

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Liễu Thúy Hường
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận về vẻ đẹp của bức tranh quê trong đoạn thơ "Trăng hè" (Đoàn Văn Cừ) Đoạn thơ ngắn trong tác phẩm "Trăng hè" của Đoàn Văn Cừ đã vẽ nên một bức tranh quê vào đêm hè vô cùng thanh bình, tĩnh lặng và đậm đà phong vị làng quê Bắc Bộ xưa. Bức tranh ấy được cảm nhận qua một hệ thống âm thanh và hình ảnh vô cùng thân thuộc, bình dị. Đó là tiếng võng đưa "kẽo kẹt", là hình ảnh con chó nằm ngủ "lơ mơ" đầu thềm, hay cái "lơi lả" đầy thi vị của bóng cây bên hàng dậu. Tất cả đều chìm vào trạng thái tĩnh lặng, thư thái tuyệt đối của một đêm vắng: "Đêm vắng, người im, cảnh lặng tờ". Giữa cái nền tĩnh mịch ấy, không gian như bừng sáng và có hồn hơn nhờ sự xuất hiện của ánh trăng vàng ngập tràn: "Tàu cau lấp loáng ánh trăng ngân". Động từ "lấp loáng" được dùng rất đắt, gợi tả ánh sáng đan xen, phản chiếu đầy huyền ảo. Không chỉ có cảnh, bức tranh quê còn trở nên ấm áp, trọn vẹn hơn nhờ sự hiện diện của con người với những lát cắt cuộc sống bình dị: ông lão nằm chơi giữa sân, đứa trẻ đứng vịn thành chõng ngắm con mèo. Bằng ngòi bút đậm chất hội họa kết hợp với thể thơ tám chữ nhịp nhàng, Đoàn Văn Cừ không chỉ tái hiện một làng quê đẹp như một miền cổ tích, mà qua đó còn thể hiện tình yêu tha thiết, sự gắn bó sâu sắc của nhà thơ với quê hương xứ sở. ​Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ hiện nay. ​ ​"Đừng cầu mong một cuộc sống dễ dàng, hãy cầu mong có sức mạnh để chịu đựng một cuộc sống khó khăn". ​Lời khuyên ấy như một tấm gương phản chiếu sứ mệnh của thế hệ trẻ hôm nay: sống là phải dấn thân và không ngừng nỗ lực hết mình. Giữa một thời đại đầy biến động và cạnh tranh khốc liệt, sự nỗ lực hết mình chính là chiếc chìa khóa vàng để người trẻ khẳng định giá trị bản thân và mở ra cánh cửa của thành công. ​Nỗ lực hết mình của tuổi trẻ trước hết được hiểu là việc cố gắng vượt bậc, cống hiến trọn vẹn tâm sức, trí tuệ vào học tập, lao động và theo đuổi đam mê mà không ngại khó khăn, thử thách. Tuổi trẻ có lợi thế về thời gian, sức khỏe và sự nhạy bén, nhưng nếu thiếu đi sự bền bỉ cố gắng, mọi tiềm năng đều trở nên vô nghĩa. Khi bạn nỗ lực hết mình, bạn không chỉ tích lũy được tri thức, kinh nghiệm để tự lập, tự chủ cuộc đời mà còn rèn luyện được một bản lĩnh kiên cường trước những giông bão của cuộc sống. Bản chất của sự nỗ lực không chỉ đo bằng cái đích thành công viên mãn, mà nằm ở hành trình bạn dám vượt qua những giới hạn của chính mình ngày hôm qua. ​Thực tế ngày nay, chúng ta bắt gặp không ít tấm gương người trẻ đang ngày đêm nỗ lực làm giàu cho bản thân và xã hội. Đó là những bạn học sinh, sinh viên miệt mài bên trang sách, giành giải thưởng lớn trên đấu trường quốc tế; là những người trẻ khởi nghiệp chấp nhận thất bại năm lần bảy lượt để tạo ra những sản phẩm thuần Việt vang danh toàn cầu; hay là những tình nguyện viên trẻ tuổi sẵn sàng gác lại sự hoan lạc cá nhân để cống hiến cho cộng đồng vùng sâu vùng xa. Sự nỗ lực của họ chính là nguồn năng lượng tích cực thắp sáng tương lai của đất nước. ​Tuy nhiên, nhìn vào thực tế, vẫn còn một bộ phận người trẻ mắc phải căn bệnh "lười nỗ lực". Họ chọn lối sống an nhàn, "nằm phẳng" , dễ dàng đầu hàng trước áp lực hoặc sống dựa dẫm, ỷ lại vào gia đình. Lại có những người nhầm lẫn giữa nỗ lực hết mình với việc lao vào guồng quay công việc một cách mù quáng đến mức kiệt quệ cả thể xác lẫn tinh thần. Nỗ lực đúng nghĩa phải đi đôi với sự định hướng đúng đắn, biết cân bằng cuộc sống và không ngừng học hỏi từ những sai lầm. ​Trải qua gian khổ, ngọc mới sáng; qua can trường, tuổi trẻ mới xanh. Mỗi người trẻ chúng ta cần hiểu rằng, thanh xuân là khoảng thời gian đẹp nhất nhưng cũng ngắn ngủi nhất của đời người. Thay vì chọn cách an nhàn trong những năm tháng cần sự phấn đấu, hãy học cách tích lũy, rèn luyện nghiêm túc từ những việc nhỏ nhất hàng ngày. Hãy sống cháy hết mình để khi ngoảnh lại, chúng ta không phải hối tiếc vì một thời tuổi trẻ đã sống hoài, sống phí.

Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận về vẻ đẹp của bức tranh quê trong đoạn thơ "Trăng hè" (Đoàn Văn Cừ). Đoạn thơ ngắn trong tác phẩm "Trăng hè" của Đoàn Văn Cừ đã vẽ nên một bức tranh quê vào đêm hè vô cùng thanh bình, tĩnh lặng và đậm đà phong vị làng quê Bắc Bộ xưa. Bức tranh ấy được cảm nhận qua một hệ thống âm thanh và hình ảnh vô cùng thân thuộc, bình dị. Đó là tiếng võng đưa "kẽo kẹt", là hình ảnh con chó nằm ngủ "lơ mơ" đầu thềm, hay cái "lơi lả" đầy thi vị của bóng cây bên hàng dậu. Tất cả đều chìm vào trạng thái tĩnh lặng, thư thái tuyệt đối của một đêm vắng: "Đêm vắng, người im, cảnh lặng tờ". Giữa cái nền tĩnh mịch ấy, không gian như bừng sáng và có hồn hơn nhờ sự xuất hiện của ánh trăng vàng ngập tràn: "Tàu cau lấp loáng ánh trăng ngân". Động từ "lấp loáng" được dùng rất đắt, gợi tả ánh sáng đan xen, phản chiếu đầy huyền ảo. Không chỉ có cảnh, bức tranh quê còn trở nên ấm áp, trọn vẹn hơn nhờ sự hiện diện của con người với những lát cắt cuộc sống bình dị: ông lão nằm chơi giữa sân, đứa trẻ đứng vịn thành chõng ngắm con mèo. Bằng ngòi bút đậm chất hội họa kết hợp với thể thơ tám chữ nhịp nhàng, Đoàn Văn Cừ không chỉ tái hiện một làng quê đẹp như một miền cổ tích, mà qua đó còn thể hiện tình yêu tha thiết, sự gắn bó sâu sắc của nhà thơ với quê hương xứ sở. ​Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ hiện nay. ​"Đừng cầu mong một cuộc sống dễ dàng, hãy cầu mong có sức mạnh để chịu đựng một cuộc sống khó khăn". ​Lời khuyên ấy như một tấm gương phản chiếu sứ mệnh của thế hệ trẻ hôm nay: sống là phải dấn thân và không ngừng nỗ lực hết mình. Giữa một thời đại đầy biến động và cạnh tranh khốc liệt, sự nỗ lực hết mình chính là chiếc chìa khóa vàng để người trẻ khẳng định giá trị bản thân và mở ra cánh cửa của thành công. ​Nỗ lực hết mình của tuổi trẻ trước hết được hiểu là việc cố gắng vượt bậc, cống hiến trọn vẹn tâm sức, trí tuệ vào học tập, lao động và theo đuổi đam mê mà không ngại khó khăn, thử thách. Tuổi trẻ có lợi thế về thời gian, sức khỏe và sự nhạy bén, nhưng nếu thiếu đi sự bền bỉ cố gắng, mọi tiềm năng đều trở nên vô nghĩa. Khi bạn nỗ lực hết mình, bạn không chỉ tích lũy được tri thức, kinh nghiệm để tự lập, tự chủ cuộc đời mà còn rèn luyện được một bản lĩnh kiên cường trước những giông bão của cuộc sống. Bản chất của sự nỗ lực không chỉ đo bằng cái đích thành công viên mãn, mà nằm ở hành trình bạn dám vượt qua những giới hạn của chính mình ngày hôm qua. ​Thực tế ngày nay, chúng ta bắt gặp không ít tấm gương người trẻ đang ngày đêm nỗ lực làm giàu cho bản thân và xã hội. Đó là những bạn học sinh, sinh viên miệt mài bên trang sách, giành giải thưởng lớn trên đấu trường quốc tế; là những người trẻ khởi nghiệp chấp nhận thất bại năm lần bảy lượt để tạo ra những sản phẩm thuần Việt vang danh toàn cầu; hay là những tình nguyện viên trẻ tuổi sẵn sàng gác lại sự hoan lạc cá nhân để cống hiến cho cộng đồng vùng sâu vùng xa. Sự nỗ lực của họ chính là nguồn năng lượng tích cực thắp sáng tương lai của đất nước. ​Tuy nhiên, nhìn vào thực tế, vẫn còn một bộ phận người trẻ mắc phải căn bệnh "lười nỗ lực". Họ chọn lối sống an nhàn, "nằm phẳng" , dễ dàng đầu hàng trước áp lực hoặc sống dựa dẫm, ỷ lại vào gia đình. Lại có những người nhầm lẫn giữa nỗ lực hết mình với việc lao vào guồng quay công việc một cách mù quáng đến mức kiệt quệ cả thể xác lẫn tinh thần. Nỗ lực đúng nghĩa phải đi đôi với sự định hướng đúng đắn, biết cân bằng cuộc sống và không ngừng học hỏi từ những sai lầm. ​Trải qua gian khổ, ngọc mới sáng; qua can trường, tuổi trẻ mới xanh. Mỗi người trẻ chúng ta cần hiểu rằng, thanh xuân là khoảng thời gian đẹp nhất nhưng cũng ngắn ngủi nhất của đời người. Thay vì chọn cách an nhàn trong những năm tháng cần sự phấn đấu, hãy học cách tích lũy, rèn luyện nghiêm túc từ những việc nhỏ nhất hàng ngày. Hãy sống cháy hết mình để khi ngoảnh lại, chúng ta không phải hối tiếc vì một thời tuổi trẻ đã sống hoài, sống phí.

​Câu 1. Xác định ngôi kể của người kể chuyện. ​Trả lời: Văn bản được kể theo ngôi kể thứ ba (người kể chuyện giấu mặt, gọi tên các nhân vật như bà Ngải, Bớt, Nở, Hiên...). ​Câu 2. Chỉ ra một số chi tiết về cách ứng xử của chị Bớt trong văn bản cho thấy chị không giận mẹ dù trước đó từng bị mẹ phân biệt đối xử. ​Các chi tiết chứng minh cách ứng xử bao dung, không oán giận của chị Bớt: ​Thái độ khi đón mẹ: Khi thấy mẹ đem quần áo nồi niêu đến ở chung, "Bớt rất mừng". ​Sự quan tâm, săn sóc: Chị cố gặng gỡ tinh thần cho mẹ bớt gượng phùng, an ủi bà bằng cách vẽ ra viễn cảnh tương lai ấm áp khi bố con Hiên về để bà yên tâm ở lại. ​Cảm xúc nhẹ nhõm: Từ ngày bà đến ở chung, chị cảm thấy "như người được cất đi một gánh nặng trên vai", hoàn toàn trân trọng và biết ơn sự có mặt của mẹ khi bà giúp trông nom các con. ​Hành động xoa dịu quá khứ: Khi nghe bà cụ thở dài ân hận về sự phân biệt đối xử ngày xưa, Bớt đã "vội buông bé Hiên, ôm lấy mẹ" và nói lời trấn an: "- Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?". ​Câu 3. Qua đoạn trích, anh/chị thấy nhân vật Bớt là người như thế nào? ​Nhân vật Bớt hiện lên là một người phụ nữ mang những phẩm chất tốt đẹp truyền thống: ​Vị tha, bao dung và giàu lòng hiếu thảo: Dù chịu nhiều tủi hờn, phân biệt đối xử từ nhỏ ("con yêu con ghét"), chị không hề oán hận mà sẵn sàng dang tay đón nhận, phụng dưỡng mẹ khi bà bị đứa con gái cưng (Nở) lừa gạt, bỏ rơi. ​Đảm đang, chịu thương chịu khó: Một mình chị vừa lo việc công tác xã hội, vừa vun vén gia đình khi chồng đi chiến đấu xa nhà. ​Tinh tế, giàu tình cảm: Biết nghĩ cho thể diện và tâm lý của mẹ, luôn tìm cách nói năng, hành xử để mẹ không cảm thấy ngại hay ái ngại khi phải đến nương nhờ con gái mình từng hắt hủi. ​Câu 4. Hành động ôm lấy vai mẹ và câu nói của chị Bớt: "- Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?" có ý nghĩa gì? ​Xóa bỏ khoảng cách và mặc cảm: Hành động và lời nói ấy ngay lập tức cởi bỏ gánh nặng tội lỗi, sự ân hận và ngượng ngùng đang đè nặng trong lòng người mẹ già. ​Khẳng định tình mẫu tử thiêng liêng: Thể hiện tình yêu thương vô điều kiện của Bớt dành cho mẹ. Đối với chị, quá khứ đau buồn đã qua, tình thâm cốt nhục và sự bình yên hiện tại mới là điều quan trọng nhất. ​Khắc họa chiều sâu nhân cách: Làm nổi bật sự bao dung, độ lượng và trái tim nhân hậu đáng quý của chị Bớt. ​Câu 5. Qua văn bản, hãy nêu một thông điệp mà anh/chị thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống hôm nay và lí giải tại sao. ​Thông điệp lựa chọn: Thông điệp về lòng vị tha và tình cảm gia đình. ​Lí giải: Trong cuộc sống hiện đại, cái tôi của mỗi người ngày càng lớn, con người dễ tổn thương và cũng dễ oán giận lẫn nhau trước những bất công hay sai lầm. Câu chuyện của chị Bớt nhắc nhở chúng ta rằng: gia đình là nơi để yêu thương chứ không phải để cân đo đong đếm. Sự bao dung, vị tha chính là chìa khóa duy nhất để chữa lành những tổn thương, hàn gắn các mối quan hệ rạn nứt và đem lại hạnh phúc thực sự cho cả bản thân lẫn những người xung quanh.

Câu 1

​Từ phần đọc hiểu về hiện tượng "tiếc thương sinh thái", ta càng nhận thức sâu sắc rằng bảo vệ môi trường không còn là một khẩu hiệu xa vời mà đã trở thành nhiệm vụ sống còn, quyết định tương lai của nhân loại. Trước hết, môi trường là mái nhà chung duy nhất, cung cấp cho con người nguồn sống cơ bản từ không khí, nguồn nước đến thức ăn. Bảo vệ môi trường đồng nghĩa với việc bảo vệ sức khỏe và chất lượng cuộc sống của chính chúng ta, hạn chế các dịch bệnh hiểm nghèo và xoa dịu những khủng hoảng tâm lý do biến đổi khí hậu gây ra. Không chỉ vậy, một hệ sinh thái ổn định sẽ giúp điều hòa khí hậu, ngăn chặn các thảm họa thiên nhiên khốc liệt như bão lũ, hạn hán hay cháy rừng. Đứng ở góc độ phát triển, việc giữ gìn màu xanh của Trái Đất là nền tảng cốt lõi cho một nền kinh tế bền vững, đảm bảo rằng thế hệ mai sau vẫn có đủ tài nguyên để sinh tồn. Khi những cánh rừng Amazon bốc cháy hay băng bắt đầu tan ở Bắc Cực, đó không còn là câu chuyện của tự nhiên mà là nỗi đau chung của loài người. Vì vậy, bảo vệ môi trường là trách nhiệm chung không của riêng ai. Hãy bắt đầu từ những hành động nhỏ nhất như hạn chế rác thải nhựa, trồng thêm một cây xanh, bởi lẽ cứu Trái Đất cũng chính là cứu lấy tâm hồn và sự sống của chính mình.

Câu 2

​Trong dòng chảy của văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ luôn là một nốt nhạc trầm đầy thanh cao, thể hiện sự phản kháng thầm lặng trước thực tại xã hội nhiễu nhương. Đến với bài thơ "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm và "Thu vịnh" của Nguyễn Khuyến, người đọc sẽ bắt gặp những bức chân dung ẩn sĩ vô cùng đặc sắc. Dù cùng chọn lối sống lánh đời, rời xa chốn danh lợi, song mỗi nhà thơ lại mang một tâm thế và mang một vẻ đẹp tâm hồn rất riêng.

Trước hết, hình tượng người ẩn sĩ trong bài thơ "Nhàn" hiện lên với phong thái ung dung, tự tại, chủ động lựa chọn cuộc sống hòa hợp với tự nhiên. Nguyễn Bỉnh Khiêm lùi về quê nhà, vui với những công cụ lao động giản dị: "Một mai, một cuốc, một cần câu". Điểm cốt lõi trong tư tưởng ẩn dật của ông chính là triết lý nhìn thấu cội nguồn của danh lợi. Ông tự nhận mình là "dại" để tìm nơi vắng vẻ, nhường chốn "lao xao" cho những người tự cho là "khôn". Đó là cái dại của một bậc đại trí, cố tình tách mình ra khỏi vòng xoáy quyền lực, bon chen. Cuộc sống ẩn sĩ của Bạch Vân cư sĩ tràn ngập niềm vui thanh đạm: thu ăn măng trúc, đông ăn giá, xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao. Lối sống ấy không hề khắc khổ mà mang đầy phong vị thi sĩ. Người ẩn sĩ ở đây đã đạt đến cảnh giới cao nhất của sự tự do, coi phú quý chỉ như một "giấc chiêm bao" thoáng qua, từ đó khẳng định nhân cách thanh cao, ngạo nghễ trước thói đời.

​Ngược lại, đến với "Thu vịnh" của Yên Đổ Nguyễn Khuyến, hình tượng người ẩn sĩ lại nhuốm một màu sắc trầm buồn, đầy u uẩn và trăn trở. Không còn cái ung dung, tự tại tuyệt đối như Nguyễn Bỉnh Khiêm, ẩn sĩ Nguyễn Khuyến mang theo cả một khối tâm sự thời thế vào chốn làng quê. Bức tranh mùa thu mở ra với không gian thanh trong nhưng tĩnh lặng đến se lòng: "Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao", "Nước biếc trông như tầng khói phủ". Trong không gian ấy, người ẩn sĩ xuất hiện với tư thế tĩnh lặng, dường như đang hòa tan vào cảnh vật để suy tư: "Nhân hứng cũng vừa toan cất bút / Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào". Cái "thẹn" của Nguyễn Khuyến chính là nét vẽ chân thực nhất về một ẩn sĩ thời bĩ cực. Ông thẹn vì thấy mình chưa có được khí phách hiên ngang, chưa có được sự thanh thản tuyệt đối như Đào Tiềm (Đào Uyên Minh) – bậc tổ sư của giới ẩn dật. Nỗi thẹn ấy thực chất là biểu hiện của một tấm lòng yêu nước thầm kín, dù đã "lánh đời" nhưng lòng chưa bao giờ "lánh nước", luôn đau đáu nỗi đau của một kẻ sĩ bất lực trước cảnh nước mất nhà tan.

​Đặt hai hình tượng lên bàn cân so sánh, ta thấy giữa họ có những điểm tương đồng sâu sắc. Cả Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến đều là những bậc đại tri thức, chọn cách từ quan về sống ẩn dật để giữ gìn thiên lương, không màng danh lợi và không chịu khuất phục, đồng lõa với cái xấu, cái ác. Cả hai ông đều tìm về với thiên nhiên, lấy tình yêu thiên nhiên làm bầu bạn để xoa dịu tâm hồn. ​Tuy nhiên, sự khác biệt giữa hai hình tượng lại nằm ở tâm thế và hoàn cảnh lịch sử. Nguyễn Bỉnh Khiêm sống ở thế kỷ XVI, khi xã hội phong kiến bắt đầu khủng hoảng, ông chọn lối sống ẩn dật một cách chủ động, triết lý mang tính chất răn đời, ung dung, tự tại và có phần lạc quan, kiêu hãnh. Trong khi đó, Nguyễn Khuyến sống ở cuối thế kỷ XIX, khi đất nước rơi vào tay thực dân Pháp. Sự lui về của ông mang nặng nỗi đau mất nước, mang tâm trạng u uất, bất lực và đầy hoài niệm. Tiếng thơ của ẩn sĩ Nguyễn Khuyến vì thế mà trĩu nặng suy tư và đầy mặc cảm thân phận

Tóm lại, hình tượng người ẩn sĩ qua hai bài thơ là những tượng đài nghệ thuật tuyệt đẹp về nhân cách của nhà nho chân chính. Nguyễn Bỉnh Khiêm đem đến bài học về một triết lý sống thanh cao, nhàn tản; còn Nguyễn Khuyến lại để lại một niềm xúc động nghẹn ngào về một tấm lòng yêu nước thiết tha. Cả hai tác phẩm đều làm phong phú thêm cho mảng đề tài ẩn dật, khẳng định giá trị bền vững của cái đẹp thiên lương trong tâm hồn người Việt Nam qua mọi thời đại.

​Câu 1. Theo bài viết trên, hiện tượng tiếc thương sinh thái là gì? ​Theo bài viết, tiếc thương sinh thái  được định nghĩa là: ​Nỗi đau khổ trước những mất mát về sinh thái mà con người hoặc là đã trải qua, hoặc là tin rằng đang ở phía trước. ​Những mất mát này do biến đổi khí hậu gây ra và khiến tâm trí con người phản ứng tương tự như khi mất người thân. ​Câu 2. Bài viết trên trình bày thông tin theo trình tự nào? ​Bài viết được trình bày theo trình tự thời gian kết hợp với trình tự diễn tiến từ phạm vi hẹp/trực tiếp đến phạm vi rộng/gián tiếp. Cụ thể: ​Mốc thời gian: Dẫn dắt từ năm 2022 \rightarrow quay lại nguồn gốc khái niệm năm 2018 \rightarrow sự kiện cháy rừng năm 2019 \rightarrow cuộc thăm dò diện rộng vào tháng 12/2021. ​Mức độ ảnh hưởng: Đi từ những người ở "tiền tuyến" chịu tác động trực tiếp  đến những người ở "hậu phương" chịu tác động gián tiếp  ​Câu 3. Tác giả đã sử dụng những bằng chứng nào để cung cấp thông tin cho người đọc? ​Tác giả đã kết hợp hài hòa giữa bằng chứng thực tế (định tính) và số liệu thống kê (định lượng): ​Bằng chứng thực tế, tiếng nói nhân chứng: ​Nghiên cứu của hai nhà khoa học Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis về người Inuit ở Bắc Canada và người làm nghề trồng trọt ở Úc. ​Câu nói trực tiếp đầy bất lực của một người Inuit: "Inuit là dân tộc băng biển. Băng biển không còn, làm sao chúng tôi còn là dân tộc băng biển được nữa?". ​Thực tế đau xót của các tộc người bản địa ở Brazil (Tenharim, Guató, Guarani) khi rừng Amazon bốc cháy năm 2019. ​Số liệu khoa học, thống kê: ​Cuộc thăm dò tháng 12/2021 của Caroline Hickman và cộng sự trên 1.000 trẻ em và thanh thiếu niên tại mỗi quốc gia trong tổng số 10 nước. ​Các con số cụ thể: 59% người được hỏi thấy "rất hoặc cực kỳ lo" về biến đổi khí hậu; 45% thừa nhận cảm xúc này ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống thường ngày. ​Câu 4. Nhận xét về cách tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu của tác giả trong văn bản. ​Cách tiếp cận vấn đề của tác giả rất mới mẻ, nhân văn và mang tính thời sự cao: ​Từ góc nhìn tâm lý học và tinh thần: Thay vì chỉ tập trung vào các số liệu khô khan về vật chất, kinh tế hay nhiệt độ Trái Đất tăng lên, tác giả đã tiếp cận biến đổi khí hậu thông qua tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần, tâm lý của con người (nỗi đau, sự khủng hoảng hiện sinh). ​Tính toàn cầu và đa chiều: Tác giả không chỉ nhìn từ một phía mà bao quát từ vùng cực đến vùng nhiệt đới , từ các cộng đồng bản địa sống phụ thuộc thiên nhiên cho đến thế hệ trẻ tại các quốc gia phát triển và đang phát triển. ​Câu 5. Thông điệp sâu sắc nhất mà anh/chị nhận được từ bài viết trên là gì?  ​Thông điệp về sự thấu hiểu và hành động vì thế hệ trẻ: Nỗi sợ hãi và "tiếc thương sinh thái" đang đè nặng lên tâm lý của thế hệ tương lai. Điều này gióng lên hồi chuông cảnh báo rằng thế giới cần phải hành động ngay lập tức, mạnh mẽ hơn để cứu lấy hành tinh, xoa dịu cuộc khủng hoảng tinh thần toàn cầu này chứ không thể bàng quan được nữa.

Câu 1:Văn bản trên sử dụng ngôi kể thứ ba  ​Câu 2:      ​Điểm nhìn trần thuật nằm ở nhân vật "cô" (Chi-hon).       ​Câu 3:      ​Biện pháp nghệ thuật: Phép đối (hoặc tương phản/đối lập) và Điệp cấu trúc (Lúc mẹ... cô đang...). ​  ​Nhấn mạnh sự đối lập nghiệt ngã giữa hai hoàn cảnh: Một bên là người mẹ già yếu đang hoảng loạn, cô độc giữa đám đông tại ga tàu; một bên là người con gái đang rực rỡ với thành công sự nghiệp tại nơi xa hoa. ​Làm nổi bật nỗi đau đớn, sự day dứt và mặc cảm tội lỗi của nhân vật "cô". Qua đó, tác giả ngầm phê phán sự vô tâm vô tình của những đứa con quá mải mê với cuộc sống riêng mà quên đi sự an nguy của cha mẹ. ​Câu 4: Những phẩm chất nào của người mẹ đã được thể hiện qua lời kể của người con gái? ​Qua hồi ức của Chi-hon, người mẹ hiện lên với những phẩm chất: ​Tình yêu thương con vô bờ bến: Dù vất vả, mẹ vẫn muốn dành cho con những thứ đẹp đẽ nhất . ​Sự hy sinh thầm lặng: Mẹ luôn ưu tiên sở thích và tương lai của các con hơn chính bản thân mình. ​Sự nhẫn nhịn và bao dung: Mẹ có vẻ buồn khi bị con khước từ tình cảm nhưng không hề trách móc. ​Sự lam lũ, tần tảo: Hình ảnh "chiếc khăn cũ kỹ lem nhem" đối lập với chiếc váy mới cho con cho thấy mẹ đã quên mình để chăm lo cho gia đình. ​Câu 5: Chi-hon hối tiếc vì đã vô tâm trước những sở thích của mẹ (không mặc thử chiếc váy mẹ thích), hối tiếc vì sự thờ ơ của anh chị em khi để bố mẹ tự đi tàu điện ngầm, và đau đớn nhất là sự vắng mặt của mình đúng lúc mẹ gặp nạn. ​ Trong cuộc sống, những hành động vô tâm đôi khi là vết dao cắt sâu vào lòng người thân mà ta không hề hay biết. Sự hờ hững, những câu trả lời gắt gỏng hay việc quá mải mê với thế giới riêng có thể khiến cha mẹ cảm thấy bị bỏ rơi ngay trong chính ngôi nhà của mình. Những tổn thương tâm lý ấy thường âm thầm nhưng lại dai dẳng, để đến khi người thân không còn bên cạnh, chúng ta mới nhận ra thì đã quá muộn màng. Vì vậy, hãy học cách trân trọng và sẻ chia từ những điều nhỏ nhất, bởi sự quan tâm chân thành chính là liều thuốc quý giá nhất để gắn kết gia đình.

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính:Tự sự     ​Câu 2. Mục đích cậu bé Ngạn chạy sang nhà bà để trốn những trận đòn roi của ba mỗi khi phạm lỗi. Bà chính là "cứu cánh", là nơi trú ẩn an toàn vì ba rất sợ bà và bà luôn sẵn sàng che chở cho cậu. ​Câu 3.       Dấu ba chấm có tác dụng: ​Tạo khoảng lặng, biểu đạt sự ngập ngừng, lưỡng lự của nhân vật tôi khi nhớ lại kỷ niệm. ​Nhấn mạnh vào đối tượng chơi cùng (mẹ và bà), đồng thời gợi ra một chút ngây ngô, đáng yêu của đứa trẻ khi "không có bạn gái" nên chỉ biết quẩn quanh bên những người phụ nữ thân thuộc nhất trong nhà. ​Câu 4.       Nhân vật người bà hiện lên với những nét tính cách và phẩm chất đáng quý: ​Thương yêu cháu hết mực: Sẵn sàng che chở, "nói dối" để bảo vệ cháu trước đòn roi của con trai. ​Điềm đạm, hiền hậu: Dáng vẻ thong thả nhai trầu, tay quạt mo cau, giọng kể chuyện dịu dàng, âu yếm. ​Là điểm tựa tinh thần: Bà mang lại cảm giác bình yên, hân hoan và sự an tâm tuyệt đối cho đứa cháu nhỏ. ​Câu 5. Suy nghĩ về tầm quan trọng của gia đình: Từ văn bản, ta thấy gia đình có vai trò vô cùng quan trọng: ​Gia đình là bến đỗ an bình: Là nơi bảo vệ, che chở chúng ta trước những "giông bão" hay lỗi lầm đầu đời (như cách bà che chở cho Ngạn). ​Gia đình là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn: Những câu chuyện kể, sự âu yếm của bà và tình thương của mẹ đã bồi đắp cho Ngạn một trái tim giàu cảm xúc và biết yêu thương. ​Gia đình là nơi duy nhất yêu thương vô điều kiện: Dù chúng ta có nghịch ngợm hay phạm lỗi, người thân vẫn luôn mở rộng vòng tay đón nhận và vỗ về.