Dương Phương Mai

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Dương Phương Mai
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Trong bài thơ “Ngược miền quá khứ”, nhân vật “tôi” thể hiện một tình cảm sâu nặng, vừa day dứt vừa trân trọng đối với quá khứ dân tộc. Quá khứ hiện lên như một “vầng sáng bồn chồn thương nhớ”, mang sức nặng “ngàn cân” luôn thôi thúc, nhắc nhở con người không được lãng quên cội nguồn. Đó không chỉ là kí ức mà còn là lịch sử thấm đẫm máu xương, hi sinh của bao thế hệ cha ông. Hình ảnh “tóc mẹ trắng”, “bàn chân cha sủi tăm lịch sử” gợi lên những nhọc nhằn, đau thương mà cũng đầy tự hào. Trước quá khứ ấy, “tôi” không thể thờ ơ mà luôn trăn trở, “loay hoay” suy nghĩ về những mất – còn của dân tộc. Tuy nhiên, tình cảm ấy không dừng lại ở hoài niệm mà hướng tới hành động: ý thức về trách nhiệm sống, tiếp nối và xây dựng tương lai. Vì vậy, tình cảm của nhân vật “tôi” là sự kết hợp giữa nỗi nhớ thương, lòng biết ơn sâu sắc và ý thức trách nhiệm trước lịch sử.

Câu 2:

Bản sắc văn hóa dân tộc là những giá trị tinh thần quý báu, là niềm tự hào của mỗi quốc gia, dân tộc. Việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa không chỉ là trách nhiệm của thế hệ đi trước mà còn là trách nhiệm của tuổi trẻ. Trong bối cảnh xã hội hiện đại với sự giao thoa văn hóa mạnh mẽ, vai trò của tuổi trẻ trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

Trước hết, tuổi trẻ chính là lực lượng chủ chốt trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Sự năng động, sáng tạo và khả năng tiếp thu cái mới của thế hệ trẻ là yếu tố quyết định trong việc gìn giữ những giá trị truyền thống. Tuổi trẻ cần nhận thức rõ tầm quan trọng của những di sản văn hóa mà cha ông để lại, từ phong tục, tập quán, đến ngôn ngữ, nghệ thuật, lễ hội. Những giá trị này không chỉ là niềm tự hào dân tộc mà còn là yếu tố giúp mỗi cá nhân gắn kết với cội nguồn, với cộng đồng. Chính vì vậy, việc học hỏi và truyền đạt những giá trị văn hóa dân tộc là nhiệm vụ cần được chú trọng trong môi trường giáo dục và trong từng hành động, lời nói của tuổi trẻ.

Tuy nhiên, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc không có nghĩa là bảo thủ, chỉ giữ lại những gì đã cũ kỹ, lỗi thời. Thế hệ trẻ cần có trách nhiệm sáng tạo trong việc bảo tồn những giá trị truyền thống để chúng trở nên gần gũi và phù hợp với thời đại. Việc ứng dụng công nghệ trong việc lưu giữ văn hóa dân tộc, sáng tạo các sản phẩm văn hóa mới mang đậm dấu ấn dân tộc nhưng không thiếu tính hiện đại là một ví dụ điển hình. Các lĩnh vực như âm nhạc, nghệ thuật, thời trang, ẩm thực có thể kết hợp giữa truyền thống và xu hướng hiện đại, tạo ra những giá trị mới mẻ, hấp dẫn mà vẫn giữ được cốt lõi bản sắc văn hóa.

Bên cạnh đó, tuổi trẻ cũng cần chủ động tham gia các hoạt động bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc. Việc tham gia các lễ hội truyền thống, các phong trào văn hóa, bảo vệ di tích lịch sử, hay khôi phục các làn điệu dân ca, trò chơi dân gian chính là cách thức để thế hệ trẻ trực tiếp góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Những hành động nhỏ này tuy không phải lúc nào cũng được ghi nhận ngay lập tức, nhưng lại có sức lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng, đặc biệt là trong việc giáo dục thế hệ sau về tình yêu và lòng tự hào dân tộc.

Tuy nhiên, trong quá trình phát huy bản sắc văn hóa, cũng cần phải nhìn nhận một thực tế rằng, toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ đã tác động không nhỏ đến các giá trị văn hóa truyền thống. Những sản phẩm văn hóa ngoại lai đôi khi đã tạo ra sức hút mạnh mẽ, khiến giới trẻ dễ dàng quên đi những giá trị văn hóa dân tộc. Vì vậy, việc kết hợp giữa bảo tồn và phát triển là một thách thức lớn, yêu cầu sự sáng tạo, đổi mới không ngừng và một tầm nhìn chiến lược. Chính tuổi trẻ là lực lượng nắm trong tay sức mạnh của công nghệ và khả năng thay đổi, nên chính họ cần làm gương mẫu trong việc bảo vệ và phát huy những giá trị ấy.

Tóm lại, tuổi trẻ có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Để thực hiện điều này, thế hệ trẻ cần nâng cao nhận thức, kết hợp giữa bảo vệ truyền thống và sáng tạo để tạo ra những giá trị văn hóa mới, phù hợp với thời đại. Đây không chỉ là trách nhiệm mà còn là cơ hội để thể hiện tình yêu, lòng tự hào với dân tộc, đồng thời đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội trong thời kỳ hội nhập toàn cầu.

Câu 1:

Thể thơ của văn bản: Tự do (Số chữ trong các dòng ko bằng nhau)

Câu 2:

Đề tài của bài thơ là: suy tư về quá khứ lịch sử dân tộc và trách nhiệm của con người (đặc biệt là thế hệ hôm nay) trước hiện tại và tương lai đất nước.

Câu 3:

Hình ảnh “quá khứ ngàn cân/ cứ đêm đêm nhắc nhở gọi ta về” gợi nhiều ý nghĩa:

- “Ngàn cân” diễn tả sức nặng to lớn của quá khứ, đó là lịch sử hào hùng nhưng cũng đầy đau thương, mất mát.

- Quá khứ không hề ngủ yên mà luôn trở đi trở lại trong tâm trí, thôi thúc con người nhớ về cội nguồn.
→ Qua đó, tác giả nhấn mạnh: quá khứ là gánh nặng thiêng liêng, là lời nhắc nhở con người phải sống có trách nhiệm, không được lãng quên lịch sử.

Câu 4:
Phép liệt kê trong các dòng thơ:
Tóc mẹ trắng… / Lịch sử khóc cười / nước mắt… / khuất chìm / bàn chân cha… có tác dụng.

- Tái hiện một cách dồn dập, đa chiều những mất mát, hi sinh của con người trong lịch sử.

- Khắc sâu hình ảnh mẹ – cha – lịch sử – biển mặn, tạo nên một bức tranh giàu cảm xúc về nỗi đau và sự hi sinh của dân tộc.

- Làm tăng giá trị biểu cảm, khiến nỗi đau trở nên cụ thể, ám ảnh và lay động lòng người.

Câu 5:
Quá khứ dân tộc là kết tinh của bao hi sinh nên mỗi người, đặc biệt là người trẻ, cần ý thức sâu sắc trách nhiệm của mình. Trước hết, phải biết trân trọng lịch sử, không quên cội nguồn và những mất mát của cha ông. Đồng thời, người trẻ cần nỗ lực học tập, rèn luyện để góp phần xây dựng đất nước ngày càng phát triển. Sống có lí tưởng, có trách nhiệm với cộng đồng cũng là cách thiết thực để tiếp nối truyền thống dân tộc. Bên cạnh đó, cần chủ động hội nhập nhưng vẫn giữ gìn bản sắc văn hóa. Chỉ khi ý thức được vai trò của mình, mỗi cá nhân mới có thể góp phần tạo nên một tương lai tốt đẹp hơn cho đất nước.


Câu 1:

Lê Đạt từng quan niệm: "Mỗi công dẫn có một dạng vân tay/ Mỗi nhà thơ có một dạng vân chữ". Quả đúng là trong địa hạt thi ca, giữa muôn vàn tên tuổi, nhà thơ muốn thành công nhất định phải có lối đi riêng, Vũ Quần Phương đã làm được điều ấy. Bài thơ "Bàn giao" được Vũ Quần Phương viết ra thể hiện tình cảm yêu thương, những ước mong mà người ông muốn gửi lại cho người cháu, đồng thời cũng là sự trao gửi của thế hệ đi trước với thế hệ đi sau. "Đề tài tình cảm gia đình, tình cảm ông cháu và nhan đễ bài thơ. Một cuộc thám hiểm thực sự không phải ở chỗ cần một vùng đất mới mà cần một đôi mắt mới". Vì thế cùng viết về đề tài tình cảm gia đình, tình cảm ông cháu, nhưng "Bàn giao" của Vũ Quần Phương đã đem đến cho người đọc những cảm nhận mới mẻ, thú vị ngay từ nhan đề. Bàn giao vừa bao hàm nghĩa trao lại, gửi lại vừa là giao trách nhiệm, giao nghĩa vụ. Bài thơ là sự bàn giao thế hệ, gửi gắm bao tình cảm, bao mong ước của ông dành cho cháu và thế hệ của cháu. Bài thơ mở ra như lời tâm tỉnh của người ông với đứa cháu nhỏ. Rồi ông sẽ bàn giao cho cháu. Điệp ngữ "bàn giao" kết hợp với thủ pháp liệt kê gợi ra những vật chất ông sẽ bàn giao lại cho đứa cháu của mình: gió heo may, góc phố có mùi ngô nướng bay. Đó là tất cả những gì thân thuộc của thiên nhiên, của mảnh đất nơi ông cháu ta gắn bó. Những thứ ông muốn bàn giao cho cháu còn là những gì thuộc về giá trị tinh thần, tuy không thể cầm nắm được nhưng rất đổi quan trọng, thiêng liêng. Ông muốn bàn giao lại cho cháu mùa xuân - mùa đẹp đẽ nhất trong năm, mùa khởi đầu cho những điều mới mẻ, tốt lành. Ở đó, có hương bười, có cỏ non xanh dưới chân giày. Ông còn muốn gửi trao lại cho cháu cả những mặt người đẫm nắng - đẫm yêu thương trên trái đất này. Đó là những người thân yêu của cả ông và cháu, đó cũng có thể là tất cả những người cháu sẽ gặp, cháu sẽ quen trên trái đất này. Họ là những con người tắm nắng gọi mưa, lam lũ vất vả những mặt người đẫm nắng, nhưng họ cũng là những con người tình nghĩa, giàu yêu thương, giàu lòng nhân ái đẫm yêu thương. Cảm động biết bao trước những điều ông bàn giao cho cháu, đó đều là những gì sẽ giúp cho cuộc đời cháu được hạnh phúc hơn, ý nghĩa hơn. Người ông còn quyết định, sẽ bàn giao thêm cho cháu: một chút buồn, một chút ngậm ngùi, cô đơn và cả câu thơ vững gót làm người. Tuy có những cung bậc cảm xúc con người không mong muốn như nỗi buồn, sự cô đơn nhưng ông muốn cháu hiếu rẳng đó là những gia vị không thể thiếu của cuộc sống, chính nó sẽ là động lực để cháu vững gót làm người. Ý thơ gợi ta liên tưởng tới câu thơ của nhà thơ Lưu Quang Vũ: "Nếu tất cả đường đời đều trơn láng/ Thì chắc gì ta đã nhận ra ta?" Bên cạnh những thứ ông muốn bàn giao cho cháu, còn có những thứ không nên bàn giao, không được phép bàn giao. Sự xuất hiện hàng loạt hình ảnh gợi sự liên tưởng sương muối, đất rừng, loạn lạc, ngọn đèn, mưa bụi gợi cuộc sống lầm than, cơ cực những tháng ngày vất vả, đó là chiến tranh loạn lạc, đau thương. Đó là những điều ông kiên quyết sẽ chẳng bàn giao cho cháu. Thể thơ tự do, những câu thơ dài ngắn không đều, với sự linh hoạt về vẫn nhịp, giọng điệu chân thành, tha thiết rất phù hợp để diễn tả tâm tinh của ông dành cho cháu, khiến bài thơ như lời chuyện trò của người ông. Ngôn ngữ, hình ảnh thơ gần gũi, giản dị mà giàu sức gợi. Có những hình ảnh là biểu tượng của vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp con người... Tất cả đã làm nỗi bật những điều mà ông muốn gửi trao, muốn bàn giao cho cháu. Đặc sắc nhất là việc sử dụng kết hợp nhiều biện pháp tu từ. Trong đó, đặc biệt là nghệ thuật điệp ngữ nhắc đi nhắc lại động từ chỉ hành động bàn giao như sợi chỉ đỏ xâu chuỗi toàn bộ bài thơ. Thể hiện tình cảm dào dạt, tấm lòng yêu thương của người ông dành cho người cháu của mình, cũng là thế hệ đi trước muốn dành lại cho thế hệ sau. Thời gian hủy hoại lâu đài nhưng làm giàu những vần thơ, với những giá trị về nội dung và nghệ thuật đặc sắc, "Bàn giao" xứng đáng là món quà vô giá nhà thơ Vũ Quần Phương bàn giao cho người đọc. Từ đó bồi đắp cho chúng ta thái độ, tình cảm trân trọng, giữ gìn và phát huy những gì mà cha ông để lại.

Câu 2:

Tuổi trẻ được xem như khoảnh khắc tươi đẹp và quý báu nhất trong cuộc đời của mỗi người. Đây là giai đoạn đặc biệt, đón nhận chúng ta với một khoảng thời gian quý báu để thực hiện những ước mơ và phấn đấu để biến chúng thành hiện thực. Đồng thời, sức khỏe của chúng ta cũng đạt đến đỉnh cao, cho phép chúng ta hoạt động mạnh mẽ để trải nghiệm cuộc sống một cách tối đa. Đây là khoảnh khắc để ta khám phá, học hỏi và trải nghiệm.

Trải nghiệm là một phần quan trọng của sự trưởng thành và học hỏi. Nó bao gồm việc tích luỹ kiến thức và kinh nghiệm thông qua việc thám hiểm thế giới xung quanh. Chúng ta có thể trải nghiệm cuộc sống qua nhiều hình thức khác nhau như học tập, giao tiếp, du lịch, hoặc tham gia các hoạt động tình nguyện.

Không ai được sinh ra đã trở thành người tài năng và sâu sắc từ ngay lập tức. Dù ta có dành cả cuộc đời để học hỏi, chúng ta vẫn không thể hoàn thiện hoàn toàn. Điều này làm cho trải nghiệm cuộc sống trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Qua những trải nghiệm này, chúng ta học được những bài học quý báu mà không có cuốn sách nào hoặc lý thuyết nào có thể thay thế. Mỗi vùng đất mới chúng ta đến, mỗi người mà chúng ta gặp gỡ đều đóng góp vào sự trưởng thành của chúng ta. Chăm chỉ, dũng cảm, kiên nhẫn, lòng nhân ái, và nhiều phẩm chất khác được phát triển thông qua trải nghiệm cuộc sống. Trải nghiệm cung cấp động lực và cảm hứng để chúng ta theo đuổi những ước mơ lớn lao và trân trọng những gì chúng ta đang có. Hơn nữa, càng trải nghiệm nhiều, chúng ta càng nhận ra sự đa dạng và rộng lớn của thế giới xung quanh, giúp chúng ta có cái nhìn đa chiều và tích cực hơn về cuộc sống. Nếu không có trải nghiệm, chúng ta sẽ bị hạn chế trong tư duy và tự hẹp bản thân, giống như "Ếch ngồi đáy giếng."

Khánh Vy, người vừa nhận được học bổng toàn phần từ Chính phủ Anh sau ba lần bị từ chối, đã chia sẻ về tầm quan trọng của trải nghiệm trong thành công cá nhân của cô. Trong quá khứ, cô thường tập trung vào lý thuyết hơn là chia sẻ những trải nghiệm thực tế. Tuy nhiên, lần này, Khánh Vy quyết định kể về những trải nghiệm thực tế, những thách thức mà cô đã đối mặt, cách mà cô đã giải quyết chúng, và cống hiến của cô cho xã hội.

Ngược lại, vẫn còn nhiều người trong xã hội chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc trải nghiệm. Họ lười biếng, không muốn thay đổi, hoặc tỏ ra bảo thủ. Cuối cùng, họ sẽ tự đẩy mình vào tình thế tồi tệ và trở thành những người thất bại trong cuộc sống.

"Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt, còn hơn là sống buồn bã suốt trăm năm." Hãy mở lòng mình và sẵn sàng để trải nghiệm. Khi chúng ta bước chân ra ngoài để khám phá vẻ đẹp của thế giới, chúng ta sẽ thấy tâm hồn mình tươi sáng và phong cách sống của chúng ta thêm phong cách và đáng sống.

Câu 1:

Thể thơ của văn bản trên: Tự do

Câu 2:

Trong bài thơ, nhân vật người ông sẽ bàn giao cho cháu: gió heo may, góc phố có mùi ngô, tháng giêng hương bưởi, cỏ mùa xuân xanh, mặt người đẫm nắng, đẫm yêu thương, một chút buồn, một chút ngậm ngùi, chút cô đơn, câu thơ vững gót làm người.

Câu 3:

Những thứ mà người ông chẳng bàn giao cho cháu: những tháng ngày vất vả, sương muối đêm, đất rung chuyển, xóm làng loạn lạc, ngọn đèn mờ, mưa bụi rơi

Người ông không muốn bàn giao cho cháu những thứ đó vì: ông rất yêu thương cháu, mong cháu được hưởng những ngày tốt đẹp

Câu 4:

Điệp ngữ được sử dụng trong bài thơ là "bàn giao"

Tác dụng: Tạo cho bài thơ giàu giá trị biểu cảm, tạo âm hưởng nhịp nhàng, lời thơ tha thiết sâu lắng như lời tâm tình của ông với cháu. Nhấn mạnh những điều ông muốn bàn giao và không muốn bàn giao cho cháu. Qua đó, làm nổi bật những mong muốn tốt đẹp, những điều quý giá thiêng liêng mà thế hệ trước muốn trao chuyền cho thế hệ sau; đồng thời cho thấy tình yêu thương của ông dành cho cháu. Thế hiện lòng biết ơn, sự trân trọng của cháu đối với tình cảm của ông.

Câu 5:

Chúng ta cần có thái độ trân trọng và biết ơn đối với những điều quý giá mà thế hệ cha ông đã bàn giao. Sự trân trọng đó cần được thể hiện qua việc gìn giữ, bảo tồn những giá trị văn hóa, lịch sử và tinh thần mà họ để lại. Đồng thời, chúng ta cần phát huy những giá trị ấy, áp dụng chúng vào cuộc sống hiện tại để tạo ra những đóng góp tích cực cho xã hội. Hơn thế nữa, mỗi người cần ý thức trách nhiệm của mình trong việc xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn, để lại những di sản có ý nghĩa cho thế hệ mai sau. Chỉ khi chúng ta biết kế thừa và phát triển, những công lao và kỳ vọng của cha ông mới thực sự được trân quý và phát huy trọn vẹn.

Câu 1:

Trong bài thơ Quê biển, nhân vật “tôi” thể hiện tình cảm sâu nặng, tha thiết đối với quê hương miền biển. Trước hết, đó là niềm gắn bó thân thương với cảnh làng chài mộc mạc: quê “gối đầu lên ngực biển”, làng “nép mình như một cánh buồm nghiêng” – những hình ảnh giàu tính biểu cảm cho thấy quê hương vừa gần gũi vừa chở che. Tình yêu ấy còn hòa quyện với sự thấu hiểu, cảm thông trước cuộc sống nhọc nhằn của con người nơi đây. Những “phận người xô dạt”, những mái nhà “chênh vênh sau mỗi trận bão về” hay hình ảnh người mẹ “bạc đầu sau những đêm đợi biển” gợi lên bao vất vả, hi sinh. Không chỉ vậy, “tôi” còn tự hào và trân trọng truyền thống bền bỉ của quê hương, nơi cha ông “phơi nhoài bên mép biển”, nơi cuộc sống gắn liền với sóng nước từ bao đời. Đặc biệt, tình cảm ấy còn mang sắc thái thiêng liêng, gắn bó máu thịt: con người dường như hóa thân vào thiên nhiên, “đầu thai chuyển kiếp” để được sống mãi với quê hương. Tất cả đã tạo nên một tình yêu quê biển sâu sắc, vừa thiết tha, vừa tự hào, vừa chan chứa nghĩa tình.

Câu 2:

Trong cuộc sống của chúng ta ai cũng có những lúc gặp khó khăn, trắc trở trong công việc và trong cuộc sống. Có những khi con người ta gặp một chuyện buồn hay sự bất hạnh nào đó trong cuộc sống rất cần được những người xung quanh thấu cảm, chia sẻ với tâm trạng, hoàn cảnh của mình.

Sự thấu cảm chính là một phần không thể thiếu của cuộc sống, nếu thiếu đi nó thì con người sẽ trở thành vô tâm, vô cảm sống ích kỷ, bàng quan với mọi thứ xung quanh. Trái tim con người vì thế mà sẽ dần dần bị chai sạn mài mòn đi những rung cảm đời thường, chân thực yêu thương rất con người, rất nhân văn.

Sự thấu cảm là gì? Sự thấu cảm chính là sự cảm thông có cái nhìn khách quan, thấu đáo trọn vẹn một tính cách, một sự việc, hiện tượng nào đó để có thể hiểu được suy nghĩ của người khác, hiểu được tâm trạng của người khác khi rơi vào hoàn cảnh đó sẽ như thế nào. Sau khi chúng ta cảm nhận được cảm xúc của họ sẽ đưa ra sự nhìn nhận chân thành, thấu tình đạt lý hơn, có cái nhìn tích cực hơn không phê phán chỉ trích người khác mà thông cảm với hoàn cảnh của họ.

Thể hiện cái nhìn bao dung, lạc quan hơn vào những người xung quanh, tránh được cái nhìn phiến diện tiêu cực với mọi việc xung quanh mình.

Trong cuộc sống ai cũng có những lúc gặp chuyện buồn, trong gia đình có người thân chẳng may qua đời, bạn bè, hàng xóm tới phúng viếng hỏi thăm trong lúc tang gia bối rối có thể chủ nhà có những điều sơ xuất không cảm ơn tận tình, hoặc có những thiếu sót thì những người tới hỏi thăm phúng viếng đều cảm thông cho gia chủ bởi họ đang hoàn cảnh vô cùng đau khổ, bối rối, nên đầu óc và trí tuệ sáng suốt bị lu mờ đi ít nhiều chúng ta thường thông cảm mà bỏ qua, không vì thế mà chấp nhặt, hay khó chịu…

Đó chính là sự thấu cảm trong cuộc sống, sự nhân văn giữa con người với con người sống trong xã hội cần phải có với nhau.

Hay một bạn học sinh cả tối qua phải thức đêm để chăm người thân bị ốm nên không kịp ôn bài cũ khi tới trường, chẳng may hôm đó bạn lại được cô giáo gọi lên để kiểm tra bài cũ. Bạn học sinh đó không thuộc, nên cô cho điểm kém nhưng nếu biết rõ nguyên nhân vì sao bạn đó không học thuộc bài mà từ trước tới giờ bạn đều là học sinh gương mẫu chăm chỉ, thì chắc chắn cô giáo và cả lớp sẽ thông cảm, chia sẻ với bạn mà thôi.

Sự thấu cảm là việc vô cùng quan trọng và cần thiết trong cuộc sống của mỗi chúng ta. Nếu trong xã hội mất đi sự thấu cảm con người sẽ trở thành những người vô tâm, thành những cỗ máy robot chỉ việc làm việc và hoạt động theo sự lập trình sẵn có thiếu đi tính linh hoạt rất cần thiết của một con người thiếu sự thấu tình đạt lý, thiếu đi tính nhân văn trong xã hội. Xã hội Việt Nam chúng ta là một xã hội vô cùng trọng tình cảm, trọng lễ nghĩa nên sự thấu cảm trong xã hội là một điều vô cùng quan trọng.

Sự thấu cảm trước tiên nó thường bắt nguồn từ lòng trắc ẩn, tình thương yêu giữa con người với con người đối với nhau. Nhờ điều đó, mà mỗi con người chúng ta xích lại gần nhau hơn, trở nên gần gũi thân thiết và gắn bó với nhau hơn, thể hiện tinh thần đoàn kết tương thân, tương ái mà người xưa thường dặn dò con cháu mình phải noi theo như "Lá lành đùm lá rách"

Một con người khi biết thấu cảm, chia sẻ với hoàn cảnh của người khác sẽ là con người có cái nhìn toàn diện, toàn cục trọn vẹn giúp người đó đưa ra những phán đoán chính xác và bao dung hơn với những lỗi lầm của người xung quanh mình, không trở thành kẻ hà khắc, độc ác, khó tính…Biết thấu cảm với hoàn cảnh khó khăn, nỗi buồn của những người xung quanh mình để hiểu rõ những người xung quanh mình hơn.

Sự thấu cảm mang lại sức mạnh vô cùng to lớn, làm nên sự kỳ diệu đó chính là sự thay đổi tâm tính của một con người, hướng con người tới sự hoàn thiện bản thân, nhân cách, và suy nghĩ của mình trong cuộc sống để trở thành người chín chắn, tích cực, lạc quan.

Tuy nhiên, sự thấu cảm không đồng cảm với sự bao che, dung túng cho những hành vi xấu xa, trái đạo đức pháp luật, trái với luân thường đạo lý làm người ở đời. Ví như việc chúng ta nhìn thấy bạn mình gian dối trong thi cử vì hôm qua mẹ bạn ốm bạn không học bài được, điều này cần nhắc nhở để bạn sửa đổi, bởi một lần gian dối thì sẽ có lần sau gian dối. Nó sẽ biến một con người trung thực thành kẻ chuyên quay cóp bài, sống thành tích.

Bên cạnh những người biết cảm thông, thấu cảm với những hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống thì có những người lại quá thờ ơ, lạnh nhạt, dửng dưng với cuộc sống, với nỗi khổ của những người xung quanh mình. Họ sống vô cùng ích kỷ, bàng quan trước cuộc sống chỉ biết lo tới lợi ích của bản thân mà thôi, không quan tâm tới những người xung quanh sống chết như thế nào theo kiểu "Sống chết mặc bay"

Sự cảm thông có sức mạnh vô cùng to lớn nó làm cho cuộc sống của những con người trong xã hội trở nên gắn bó, thân thiết xích lại gần nhau hơn, không làm cho con người trở nên vô cảm, ích kỷ, hoạt động như một cỗ máy. Nó làm cho con người sống biết yêu thương che chở, cảm thông với người khác trái tim con người rung lên những nhịp đập vô cùng nhân văn, thể hiện tinh thần nhân đạo ấm áp trong cuộc sống làm người.

Khi mỗi con người có sự thấu cảm thì những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống, sẽ dễ dàng được bỏ qua bởi trái tim con người hướng tới sự Chân- Thiện- Mỹ. Họ sống để yêu thương lẫn nhau, chứ không phải vì đấu đá tranh giành, đố kỵ, còn gì tuyệt vời hơn khi con người sống trong xã hội với tinh thần nhân văn cao cả "người với người sống để yêu nhau"

Khi con người biết đặt mình vào hoàn cảnh sống của người khác để suy nghĩ, để giải quyết tình huống thì sẽ có cái nhìn toàn diện thấu đáo hơn, sẽ tránh được những trường hợp chúng ta cảm thấy hối hận day dứt về sau.

Câu 1:

Thể thơ của văn bản trên là Tự do ( các dòng có dung lượng chữ khác nhau )

Câu 2:

Một hình ảnh thơ mang tính biểu tượng cho cuộc sống của làng biển là: “những cánh buồm quê” → biểu trưng cho cuộc mưu sinh, khát vọng vươn ra biển lớn của người dân làng chài.

Câu 3:

Hình ảnh “mẹ tôi bạc đầu sau những đêm đợi biển” mang ý nghĩa sâu sắc:

- Gợi lên sự tần tảo, hi sinh và nỗi lo âu của người mẹ có chồng con đi biển.

- “Bạc đầu” không chỉ là dấu hiệu của thời gian mà còn là kết quả của những tháng ngày chờ đợi, khắc khoải, lo lắng trước sự khắc nghiệt của biển cả.

- Qua đó, tác giả thể hiện tình cảm xót xa, thương yêu và trân trọng đối với người mẹ nói riêng và những người phụ nữ làng biển nói chung.
→ Hình ảnh góp phần làm nổi bật chủ đề: cuộc sống gian truân nhưng giàu tình nghĩa của con người nơi miền biển.

Câu 4:

Hình ảnh “Làng là mảnh lưới trăm năm” có thể hiểu:-

- Làng chài là một cộng đồng gắn kết bền chặt, như những mắt lưới đan vào nhau không thể tách rời.

- “Trăm năm” gợi truyền thống lâu đời, nối tiếp qua nhiều thế hệ cha ông.

- Cuộc sống của người dân gắn liền với nghề biển, với lao động cần cù, vất vả nhưng bền bỉ.
→ Hình ảnh thể hiện sự kế tục truyền thống, tinh thần đoàn kết và gắn bó máu thịt với quê hương.

Câu 5:

Lao động bền bỉ, nhẫn nại có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc tạo nên giá trị sống của con người hôm nay. Trong cuộc sống hiện đại, không phải thành công nào cũng đến nhanh chóng, mà cần có thời gian và sự kiên trì tích lũy. Những con người biết nỗ lực từng ngày sẽ dần khẳng định được năng lực và bản lĩnh của bản thân. Sự nhẫn nại còn giúp con người vượt qua khó khăn, thất bại mà không dễ dàng bỏ cuộc. Giống như người dân làng biển trong bài thơ, họ bám biển, bám nghề bằng tất cả ý chí và tình yêu quê hương. Chính sự bền bỉ ấy đã tạo nên giá trị cuộc sống và nuôi dưỡng ước mơ. Vì vậy, mỗi người trẻ hôm nay cần rèn luyện đức tính kiên trì để xây dựng tương lai vững chắc.

Câu 1:

Trong bài thơ "Trăng hè" của nhà thơ Đoàn Văn Cừ, hai khổ thơ đã diễn tả được bức tranh quê hương bình dị, mộc mạc, đong đầy cảm xúc. Câu thơ "Tiếng võng trong nhà kẽo kẹt đưa" sử dụng từ tượng thanh "kẽo kẹt" đã diễn tả được âm thanh tiếng võng dân dã trong căn nhà ấm áp. Hình ảnh "Đầu thềm con chó ngủ lơ mơ/ Bóng cây lơi lả bên hàng dậu/ Đêm vắng, người im, cảnh lặng lờ" sử dụng từ láy lơ mơ, lơi lả, lặng lờ đã tăng sức gợi hình, gợi cảm và tăng tính chân thực, sinh động. Người đọc cảm nhận được hình ảnh của con chó ngủ mơ màng ở hè, bóng cây thướt tha ở bên hàng dậu và khung cảnh lặng im, vạn vật yên lặng. Khổ thơ đã diễn tả được hình ảnh thiên nhiên, tĩnh lặng. Người đọc cảm nhận được khung cảnh thanh bình, tĩnh mịch, ấm áp. Khổ thơ tiếp theo đã miêu tả hoạt động của con người. "Ông lão nằm chơi ở giữa sân" và "Thằng cu đứng vịn bên thanh chõng/ Ngắm bóng con mèo quyện dưới chân" đã diễn tả được hoạt động của con người. Từ láy "lấp loáng" đã tăng sức gợi hình, gợi cảm cho hình ảnh của những tàu cau dưới ánh trăng. Hình ảnh thơ vừa lãng mạn vừa đong đầy cảm xúc. Bài thơ đã diễn tả được bức tranh quê hương tĩnh mịch, thanh bình và lặng yên nhưng mang vẻ độc đáo, đẹp theo cách riêng.

Câu 2:

Có một câu nói rất hay: "Thế giới này không dành cho những kẻ giỏi nhất, mà dành cho những người không ngừng cố gắng để trở nên giỏi hơn." Trong một xã hội luôn vận động, nơi cơ hội và thử thách song hành, chỉ có sự nỗ lực không ngừng mới giúp con người chạm tới ước mơ và tạo nên giá trị đích thực của bản thân.

Nỗ lực là quá trình con người không ngừng cố gắng, kiên trì hành động để đạt được mục tiêu, lý tưởng mà mình theo đuổi. Đó không đơn thuần là những hành động nhất thời, mà là sự bền bỉ, liên tục vượt lên chính mình - cả khi thuận lợi lẫn lúc gian nan. Nỗ lực không đảm bảo cho ta thành công ngay lập tức, nhưng nó là điều kiện tiên quyết để chạm đến ước mơ.

Sự nỗ lực hết mình mang lại nhiều giá trị quan trọng: Xây dựng bản thân thông qua nỗ lực, giới trẻ rèn luyện kĩ năng quản lý thời gian, làm việc nhóm và giải quyết vấn đề, phát triển bản thân theo hướng toàn diện. Đạt được mục tiêu: sự cố gắng không ngừng giúp giới trẻ vượt qua khó khăn, đạt được những mục tiêu đã đặt ra. Góp phần cho xã hội: khi có đủ năng lực và kiến thức, giới trẻ có thể đóng góp vào sự phát triển của đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng.

Để giới trẻ có thể nỗ lực hết mình một cách hiệu quả, cần có sự hỗ trọ từ nhiều phía: gia đình cần tạo môi trường yêu thương, khích lệ con cái theo đuổi đam mê và hướng dẫn họ xây dựng kế hoạch cuộc sống hợp lý; nhà trường cần đổi mới phương pháp giảng dạy, chú trọng phát triển kỹ năng thực hành và tư duy sáng tạo cho học sinh, sinh viên; xã hội cần tạo ra nhiều sân chơi, cơ hội việc làm và chính sách hỗ trợ khởi nghiệp cho giới trẻ, đồng thời tuyên truyền lan tỏa các sự nỗ lực để tạo động lực.

Cuộc sống không bao giờ bằng phẳng. Có những người sinh đã gặp nhiều điều kiện thuận lợi, nhưng cũng có những người phải bắt đầu từ con số 0. Chính sự nỗ lực sẽ san bằng những khác biệt ấy. Hãy thử nhìn lại tấm gương của thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký – người dù bị liệt cả hai tay vẫn không từ bỏ việc học, dùng đôi chân để viết nên tri thức và truyền cảm hứng cho bao thế hệ học trò. Hay như Thomas Edison – người từng nói rằng: “Thiên tài chỉ có 1% là cảm hứng, còn 99% là mồ hôi và nước mắt” – cũng đã thất bại hàng nghìn lần trước khi phát minh ra bóng đèn điện, mang ánh sáng cho nhân loại.

Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, nhiều người trẻ lại dễ dàng buông xuôi khi gặp thất bại. Một lần trượt đại học, một lần không đạt kỳ vọng – là đã vội kết luận rằng “mình không có năng lực”. Đó là sai lầm lớn. Thất bại không đáng sợ, điều đáng sợ là không dám đứng dậy. Sự nỗ lực thật sự chỉ được khẳng định khi ta kiên trì đến cùng, không từ bỏ chỉ vì một vài lần vấp ngã.

Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, nỗ lực luôn là yếu tố quyết định để con người vượt qua giới hạn và vươn tới thành công. Dù bạn là ai, xuất phát điểm như thế nào, hãy luôn tin tưởng rằng: chỉ cần không bỏ cuộc, bạn đã hơn rất nhiều người. Hãy xem mỗi khó khăn là cơ hội để tôi luyện bản lĩnh – vì sau tất cả, thành quả ngọt ngào nhất chính là được nhìn lại hành trình mình đã đi qua với niềm tự hào rằng: “Tôi đã không ngừng cố gắng.”


Câu 1:

Ngôi kể của người kể chuyện là ngôi thứ ba

Câu 2:

Một số chi tiết về cách ứng xử của chị Bớt Dương trong văn bản cho thấy chị không giận mẹ dù trước đó từng bị mẹ phân biệt đối xử:

- Khi mẹ xuống ở chung, Bớt rất mừng và chỉ "cố gặng mẹ cho hết lẽ", chứ không phải hằn học hay đay nghiến

- Bớt đón nhận mẹ bằng thái độ nhẹ nhàng, chăm lo cho mẹ và để mẹ trông cháu

- Khi mẹ ân hận, Bớt vội buông bé Hiên, ôm lấy vai mẹ, nói đầy yêu thương: "Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?"

Câu 3:

Qua đoạn trích, em thấy nhân vật Bớt là một người bao dung, hiuees thảo dù từng bị mẹ phân biệt đối xử, chị vẫn mở lòng đón mẹ về sống cùng, không oán trách. Chăm chỉ, tần tảo một mình chị vừa lo công tác, vừa nuôi con, làm ruộng. Yêu thương gia đình chị quan tâm, lo lắng cho mẹ và các con, luôn cố gắng vun vén gia đình.

Câu 4:

Hành động ôm lấy mẹ và câu nói của chị Bớt: "- Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?" có ý nghĩa: an ủi mẹ, giúp mẹ bớt mặc cảm, không dằn vặt về những lỗi lầm trong quá khứ. Thể hiện sự bao dung của chị Bớt, chị không hề trách mẹ mà ngược lại còn muốn mẹ sống thanh thản. Khẳng định tình cảm mẹ con: Dù trước kia có chuyện gì xảy ra, chị Bớt vẫn yêu thương và kính trọng mẹ.

Câu 5:

Qua văn bản, thông điệp có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống hôm nay: "Hãy bao dung và yêu thương gia đình, bởi gia đình là nơi cuối cùng ta có thể trở về." Gia đình có thể xảy ra mâu thuẫn, nhưng nếu biết tha thứ và yêu thương, mọi vết thương đều có thể hàn gắn. Như chị Bớt, dù từng chịu thiệt thòi, chị vẫn mở lòng với mẹ, giữ gìn tình cảm gia đình. Trong cuộc sống hiện đại, nhiều người vì những mâu thuẫn nhỏ mà xa cách người thân, nên thông điệp này càng trở nên có ý nghĩa.

Câu 1:

Biến đổi khí hậu và các vấn đề sinh thái đang trở thành mối đe dọa toàn cầu, không chỉ tàn phá môi trường sống mà còn gây hại sâu sắc đến sức khỏe tinh thần của con người. Môi trường tự nhiên bị tôn thương nghiêm trọng bởi các hành động của con người như khai thác tài nguyên bừa bãi, ô nhiễm và công nghiệp hóa thiếu bền vững. Điều này dẫn đến sự biến mất của các loài sinh vật, rừng, cảnh quan quan trọng đối với đời sống tinh thần con người. Nỗi "tiếc thương sinh thái" đã và đang là hiện tượng ngày càng phổ biến, khi con người cảm thấy đau đớn trước những mất mát về sinh thái, như người Inuit không còn nhận ra bản sắc của dân tộc mình khi băng biển tan, hay người bản địa Amazon lo lắng về sự mất đi rừng quê hương. Những cảm xúc tiêu cực như lo âu, thất vọng đang lan rộng, không chỉ giới hạn ở những cộng đồng sống gần thiên nhiên mà còn ảnh hưởng đến giới trẻ toàn cầu. Trước tình hình này, bảo vệ sinh thái không chỉ là trách nhiệm của một số cá nhân mà là của toàn xã hội. Chúng ta cần hành động ngay để bảo vệ môi trường sống, bảo vệ tương lai của chính mình.

Câu 2:

Trong nền văn học Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ là một biểu tượng sâu sắc của triết lí sống an nhàn, tĩnh lặng và hòa hợp với thiên nhiên. Hai bài thơ "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm và "Thu Vịnh" của Nguyễn Khuyến đều khắc họa hình ảnh người ẩn sĩ, nhưng mỗi bài thơ lại có những sắc thái khác nhau trong cách nhìn nhận về cuộc sống và triết lý sống của người ẩn sĩ.

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), là nhà tư tưởng, nhà thơ lớn thế kỉ XVI, sống trong giai đoạn triều Lê rối ren, triều đình mục ruỗng. Bài thơ "Nhàn" là tác phẩm thể hiện triết lý sống và thái độ ứng xử của ông khi chọn con đường ẩn dật tại quê nhà. Nguyễn Khuyến (1835-1909), là nhà thơ lớn thế kỉ XIX, chứng kiến giai đoạn triều Nguyễn suy tàn và sự xâm lược thực dân Pháp. Bài "Thu Vịnh" là một trong những tác phẩm tiêu biểu, thể hiện tâm trạng của một trí thức yêu nước khi lui về sống ẩn tại Vĩnh Phúc.

Cả hai tác phẩm đều khắc họa hình tượng người ẩn sĩ cao khiết, lựa chọn con đường "độc thiên kỳ thân" để giữ gìn phẩm cách trong thời buổi nhiễu nhương. Thế kỉ XVI và thế kỉ XIX đều là những giai đoạn đất nước lâm vào biến loạn: triều đình mục ruỗng, xã hội bạc nhược, quyền lực bị lạm dụng. Cả hai nhà thơ đều chọn rời xa chốn quan trường, hòa mình vào thiên nhiên để lánh xa những ràng buộc và cám dỗ thế tục. Thiên nhiên không chỉ là nơi nương náu mà còn là tấm gương phản chiếu tâm hồn thanh cao, giúp họ tìm lại sự bình yên và ý nghĩa đích thực của cuộc sống.

Tuy cùng chọn lối sống ẩn dật, hai hình tượng ẩn sĩ mang những sắc thái tâm trạng hoàn toàn khác biệt:

Trong "Nhàn" người ẩn sĩ hiện lên với thái độ tận hưởng cuộc sống thanh nhàn, bình dị giữa thiên nhiên. Ông coi nhẹ mọi giá trị vật chất, danh lợi tầm thường, tìm thấy hạnh phúc trong những hoạt động giản dị như đọc sách, làm thơ, nuôi cá, trông rau. Triết lý "nhàn" được thể hiện rõ qua quan niệm "dại-khôn", "được-mất": ông tự nhận mình "dại" vì chọn con đường ẩn dật, nhưng cái dại ấy lại là sự khôn ngoan thực sự, giúp ông giữ gìn sự trong sạch của tâm hồn. Nổi bật là sự đắc ý, tự tin với con đường mình chọn, với triết lí sống "thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc".

Trong "Thu Vịnh" người ẩn sĩ tưởng chừng say đắm vẻ đẹp cảnh thu, nhưng ẩn sâu bên trong là nỗi ưu tư thế sự và niềm đau mất nước. Cảnh mùa thu đẹp đẽ chỉ là phông nền cho tâm trạng u uất, cô đơn của ông. Nguyễn Khuyến không hoàn toàn thoát ly thế sự: ông hổ thẹn với tấm gương Đào Tiềm, người đã từ chức sớm để giữ gìn phẩm cách, và nỗi uất hận vì đã từng cam chịu làm quan dưới chế độ phong kiến bạc nhược, thậm chí đầu hàng trước thực dân xâm lược. Vẻ đẹp tao nhã vẫn còn, nhưng nhuốm màu bi thương và day dứt.

Cả hai thời kì đều là giai đoạn đất nước suy tàn, nhưng giai đoạn Nguyễn Khuyến còn khắc nghiệt hơn khi đất nước đứng trước nguy cơ mất độc lập hoàn toàn. Điều này ảnh hưởng đến tâm thế và thái độ sống của người ẩn sĩ. Nguyễn Bỉnh Khiêm có thái độ đắc ý, khinh bỉ thế sự, tự tin vào con đường "nhàn" của mình. Nguyễn Khuyến lại mang tâm trạng buồn tủi, trăn trở với vận mệnh đất nước. Nguyễn Bỉnh Khiêm nổi tiếng với thơ văn triết lý, sâu sắc, trực tiếp bộc lộ quan điểm. Nguyễn Khuyến là bậc thầy trong thơ tả cảnh ngụ tình, ngôn ngữ tinh tế, giàu sức gợi và biểu cảm.

Cả hai tác phẩm đều có ý nghĩa sâu sắc và đóng góp quan trọng vào văn học dân tộc: "Nhàn" khẳng định triết lý sống cao đẹp, coi nhẹ danh lợi, đề cao giá trị tinh thần và trí tuệ. Bài thơ là lời khuyên nhủ, tấm gương cho những ai tìm kiếm sự bình yên và ý nghĩa cuộc sống. "Thu Vịnh" thể hiện sâu sắc tình yêu nước, lòng tự tôn dân tộc và nỗi đau của một người trí thức trước vận mệnh đất nước. Vẻ đẹp tao nhã, thanh cao của tâm hồn ông trong cảnh ngộ bi đát càng làm tăng thêm giá trị nhân văn và sức lay động của tác phẩm.

Hai áng thơ "Nhàn" và "Thu Vịnh" là những bức chân dung đa chiều, góp phần làm nên sự phong phú và chiều sâu của hình tượng người ẩn sĩ trong văn học Việt Nam, phản ánh những lý tưởng sống và tâm trạng khác nhau của con người Việt Nam qua từng thời kỳ.

Câu 1:

Hiện tượng tiếc thương sinh thái là nỗi đau khổ trước những mất mác về sinh thái do biến đổi khí hậu gây ra. Những mất mát này có thể là sự biến mất của các loài sinh vật hoặc sự thay đổi của những cảnh quan quan trọng đối với đời sống tinh thần của con người. Nỗi đau này giống như cảm giác mất mát khi mất người thân.

Câu 2:

Bài viết trên trình bày thông tin theo trình tự từ khái niệm và xuất xứ của hiện tượng tiếc thương sinh thái, sau đó là những trường hợp cụ thể về tác động của biến đổi khí hậu đối với các cộng đồng khác nhau. Cuối cùng, bài viết đưa ra kết quả nghiên cứu về cảm xúc của trẻ em và thanh thiếu niên đối với biến đổi khí hậu, nhằm nhấn mạnh tác động rộng rãi của vấn đề này.

Câu 3:

Tác giả đã sử dụng những bằng chứng khoa học các con số thống kê và những ví dụ thực tiễn để cung cấp những thông tin xác thực cho người đọc về hiện tượng tâm lý "tiếc thương sinh thái" một hậu quả của biến đổi khí hậu

Câu 4:

Cách tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu của tác giả rất sâu sắc và nhân văn. Tác giả không chỉ đơn thuần đưa ra thông tin về biến đổi khí hậu mà còn đi sâu vào tác động tâm lý của nó đối với con người, đặc biệt là cảm xúc tiếc thương sinh thái. Điều này giúp người đọc cảm nhận được sự gần gũi và nghiêm trọng của vấn đề, đồng thời nhấn mạnh rằng tác động không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn đến tinh thần và tâm lý của con người.

Câu 5:

Thông điệp sâu sắc nhất mà tôi nhận được từ bài viết trên là biến đổi khí hậu không chỉ là một vấn đề về môi trường mà còn là một vấn đề về sức khỏe tâm thần và tinh thần của con người. Nỗi tiếc thương sinh thái là một phản ứng tự nhiên đối với những mất mát về môi trường sống và cảnh quan, nhắc nhở chúng ta về sự liên kết mật thiết giữa con người và thiên nhiên.