Lữ Thị Quỳnh Anh
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. Đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ
Trong đoạn trích, hình ảnh “cơm” – từ cà mèn cơm, chén cơm đến miếng cơm cháy – không chỉ là thức ăn quen thuộc mà còn là biểu tượng sâu sắc của tình mẫu tử. Bữa cơm mẹ nấu chứa trong đó sự chăm chút, tảo tần và thương yêu vô bờ. Từ những ngày giáp Tết, người mẹ già dậy sớm nấu cơm, chuẩn bị từng món cho con lên đường, dặn dò “Không ai thương bằng cơm thương”, như gửi gắm tất cả tình thương của mình trong từng hạt gạo. Đối với người con, phần cơm còn lại trong cà mèn trở thành kỉ vật thiêng liêng, bởi đó là dấu tích cuối cùng của sự yêu thương mẹ dành cho anh. Khi mẹ mất, chén cơm trắng trên bàn thờ khiến anh nhói lòng hối tiếc, bởi anh không còn cơ hội được ăn thêm một bữa cơm mẹ nấu. Hình ảnh “cơm” vì thế trở thành điểm kết tinh của ký ức, của hơi ấm gia đình và của tình mẹ hi sinh, bền bỉ, mộc mạc mà thiêng liêng. Qua những miếng cơm giản dị ấy, ta thấm thía rằng tình mẫu tử lớn lao đôi khi được biểu hiện trong những điều nhỏ bé, đời thường nhất.
Câu 2. Bài văn nghị luận khoảng 600 chữ
Giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là một vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hiện nay. Văn hoá là căn cước tinh thần, là linh hồn của một dân tộc; vì thế, việc bảo vệ bản sắc văn hoá cũng chính là bảo vệ cội nguồn và sự tồn tại lâu dài của quốc gia. Bản sắc văn hoá không phải điều gì xa vời mà thể hiện trong tiếng nói, trang phục, phong tục tập quán, lối sống, nghệ thuật dân gian, trong cách ứng xử và những giá trị đạo đức truyền thống.
Trong thời đại toàn cầu hoá, các nền văn hoá giao thoa mạnh mẽ. Sự tiếp xúc đó mang lại cơ hội phát triển, song cũng đặt ra nguy cơ bản sắc dân tộc bị phai mờ khi con người quá dễ bị cuốn theo những trào lưu hiện đại, xa lạ. Nhiều bạn trẻ ngày nay sính ngoại, coi thường giá trị truyền thống; nhiều phong tục tốt đẹp bị xem nhẹ; tiếng Việt đôi khi bị pha tạp, dùng sai; nghệ thuật dân gian đứng trước nguy cơ thất truyền. Những thực trạng ấy gióng lên hồi chuông cảnh báo về sự cần thiết phải giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá Việt Nam.
Giữ gìn bản sắc không phải là khư khư giữ cái cũ, càng không phải là tự tách mình khỏi thế giới. Giữ bản sắc là biết trân trọng và bảo vệ những giá trị cốt lõi – như lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, hiếu nghĩa, ý chí kiên cường, cũng như những di sản vật thể và phi vật thể của dân tộc. Đồng thời, nó đòi hỏi ta biết tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, làm phong phú thêm văn hoá dân tộc mà không đánh mất gốc rễ. Một quốc gia có bản sắc là quốc gia biết dung hòa giữa truyền thống và hiện đại.
Mỗi cá nhân có thể bắt đầu từ những hành động nhỏ bé nhưng thiết thực: nói và viết tiếng Việt trong sáng, trân trọng áo dài, lễ hội truyền thống; giữ gìn phép lịch sự, lối sống nhân hậu; tìm hiểu lịch sử, văn hoá dân gian; ủng hộ các sản phẩm văn hoá Việt. Đặc biệt, thế hệ trẻ – những người sống trong môi trường hội nhập mạnh mẽ nhất – càng cần ý thức giữ gìn bản sắc như giữ chính danh tính của mình.
Giữ bản sắc văn hoá dân tộc chính là giữ bản lĩnh Việt Nam trong thời đại mới. Khi mỗi người đều biết trân trọng và gìn giữ những giá trị truyền thống, dân tộc ta không chỉ đứng vững giữa dòng chảy hội nhập mà còn có thể khẳng định bản sắc riêng độc đáo, góp phần làm phong phú thêm bức tranh văn hoá nhân loại. Bởi vậy, giữ gìn bản sắc văn hoá không chỉ là trách nhiệm, mà còn là niềm tự hào của mỗi người Việt Nam hôm nay và mai sau.
Câu 1.
Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2.
Hai hình ảnh thể hiện sự khắc nghiệt của thiên nhiên miền Trung:
“Trên nắng và dưới cát”.
“Chỉ gió bão là tốt tươi như cỏ”.
(HS có thể nêu hình ảnh khác như “lúa con gái mà gầy còm úa đỏ”.)
Câu 3.
Các dòng thơ cho thấy:
Miền Trung là vùng đất nhỏ hẹp (“eo đất thắt đáy lưng ong”) nhưng giàu nghĩa tình.
Con người miền Trung giàu tình cảm, chân chất, thuỷ chung; dù gian khó vẫn “đọng mật” – nghĩa là tình người nơi đây ngọt ngào, sâu nặng.
Câu 4.
Việc dùng thành ngữ “Mảnh đất nghèo mồng tơi không kịp rớt” có tác dụng:
Gợi tả sinh động cái nghèo đến mức thiếu thốn, khắc nghiệt của miền Trung.
Tạo sắc thái dân gian, bình dị, gần gũi; tăng sức biểu cảm cho câu thơ.
Câu 5.
Tình cảm của tác giả:
Thương yêu, trân trọng con người miền Trung chịu nhiều gian khó.
Gắn bó, đồng cảm sâu sắc với vùng đất khắc nghiệt nhưng giàu nhân nghĩa.
Lời thơ chan chứa nỗi nhớ, nỗi mong về quê mẹ, quê hương.