Hoàng Ngân Tâm
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?
Thể loại: Truyện ngắn.
Câu 2. Xác định đề tài của văn bản “Áo Tết”.
Đề tài: Cuộc sống và tình bạn của những đứa trẻ miền quê trong những ngày cận Tết, qua câu chuyện về chuyện may áo mới và sự chênh lệch giữa giàu – nghèo.
Câu 5. Bài học rút ra về tình bạn và sự sẻ chia (5–7 dòng).
Từ câu chuyện của bé Em và bé Bích, em hiểu rằng tình bạn chân thành không nằm ở vật chất hay sự hơn thua mà ở sự thấu hiểu và biết nghĩ cho nhau. Một người bạn tốt là người biết đặt mình vào hoàn cảnh của bạn, tránh làm bạn tổn thương dù vô tình hay cố ý. Sự sẻ chia, đồng cảm giúp tình bạn trở nên bền chặt và đẹp đẽ hơn. Khi biết sống giản dị, nhân hậu và biết trân trọng người bên cạnh, chúng ta sẽ làm cho cuộc sống của mình và của người khác ấm áp hơn rất nhiều.
Câu 4. Ý nghĩa của chi tiết chiếc áo đầm hồng trong việc thể hiện tính cách nhân vật.
- Đối với bé Em:
Chiếc áo đầm hồng ban đầu gợi lên sự háo hức, kiêu hãnh và một chút khoe khoang trẻ con. Nhưng khi nhận ra hoàn cảnh của bạn, bé Em biết kiềm lại, biết nghĩ cho Bích, thậm chí không mặc áo đẹp để bạn không tủi thân. Chi tiết ấy làm nổi bật tấm lòng nhân hậu, sự tinh tế, tình bạn chân thành và sự trưởng thành trong suy nghĩ của bé Em. - Đối với bé Bích:
Chiếc áo đầm hồng như một đối lập với sự thiếu thốn của Bích. Tuy vậy, Bích không ghen tị mà vẫn yêu quý, trân trọng bạn. Qua đó cho thấy tính cách hiền lành, giàu lòng tự trọng, và tình cảm chân thật của Bích.
Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản “Áo Tết”?
- Sự thay đổi điểm nhìn:
Văn bản chuyển linh hoạt giữa điểm nhìn của người kể chuyện và điểm nhìn nội tâm của bé Em, đôi lúc mở sang điểm nhìn của bé Bích (nhất là khi diễn tả suy nghĩ, cảm xúc của Bích). - Tác dụng:
- Giúp câu chuyện trở nên chân thực, sinh động, giàu cảm xúc.
- Khắc họa rõ sự khác biệt trong tâm lý của hai nhân vật.
- Làm nổi bật tình bạn trong sáng, sự cảm thông và biết nghĩ cho nhau của những đứa trẻ.
Câu 1
Hình ảnh “Hoa chanh nở giữa vườn chanh” trong bài thơ Chân quê của Nguyễn Bính là một sáng tạo nghệ thuật giản dị mà giàu sức gợi, kết tinh vẻ đẹp của phong cách thơ ông. Hoa chanh vốn nhỏ bé, trắng ngần, thanh khiết và hương thơm dịu nhẹ; khi “nở giữa vườn chanh”, nó hài hòa, tự nhiên, đúng chỗ, đúng nơi. Bằng hình ảnh ấy, nhà thơ kín đáo ví vẻ đẹp của người con gái quê trong dáng vẻ mộc mạc, thuần hậu với chính bông hoa chanh – đẹp không cần tô điểm, không bị lai tạp bởi những thứ phù hoa ở chốn tỉnh thành. Ở đây, Nguyễn Bính không chỉ thể hiện nỗi xao xuyến của chàng trai trước vẻ chân chất của người yêu, mà còn bộc lộ sự trân trọng những giá trị quê mùa đang có nguy cơ phai nhạt khi “hương đồng gió nội bay đi ít nhiều”. “Hoa chanh nở giữa vườn chanh” vì thế trở thành lời nhắn gửi tinh tế: con người đẹp nhất khi giữ được bản sắc, cội nguồn của mình. Hình ảnh thơ mộc mạc ấy đã góp phần làm nên linh hồn dân dã, đằm thắm cho cả bài thơ.
Câu 2
Biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại – nhận định của Barack Obama không chỉ là cảnh báo của một chính khách mà còn là tiếng chuông thức tỉnh mà toàn cầu buộc phải lắng nghe. Trong bối cảnh trái đất ngày càng nóng lên, thiên tai dồn dập và tài nguyên cạn kiệt, biến đổi khí hậu thực sự trở thành vấn đề sống còn, đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại của con người.Trước hết, biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất bởi nó ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống. Sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu khiến băng tan, mực nước biển dâng, đe dọa nhấn chìm nhiều vùng ven biển. Hàng triệu người có nguy cơ mất nhà cửa, mất kế sinh nhai. Cùng với đó là những hiện tượng thời tiết cực đoan: hạn hán, lũ lụt, bão mạnh hơn và dày hơn, gây thiệt hại nặng nề về tài sản, mùa màng và cả tính mạng. Không một quốc gia nào, dù giàu hay nghèo, có thể đứng ngoài vòng tác động. Điều đáng lo ngại là những hậu quả này không diễn ra trong tương lai xa mà đang hiện hữu từng ngày, từng giờ.Không chỉ đe dọa môi trường sống, biến đổi khí hậu còn là nguyên nhân gây ra khủng hoảng lương thực, xung đột tài nguyên và những biến động xã hội. Nhiệt độ tăng khiến năng suất cây trồng giảm, đất đai bị sa mạc hóa, nguồn nước suy kiệt. Khi con người thiếu thốn các nhu yếu phẩm cơ bản, xung đột và di cư bắt buộc là điều khó tránh khỏi. Như vậy, biến đổi khí hậu không chỉ là vấn đề môi trường, mà còn là vấn đề kinh tế, chính trị và nhân đạo toàn cầu. Tính chất liên thông, lan tỏa và khó kiểm soát khiến nó trở thành thách thức lớn hơn bất kỳ cuộc khủng hoảng nào mà nhân loại từng đối mặt.Tuy nhiên, điều khiến biến đổi khí hậu trở thành thách thức “lớn nhất” không chỉ ở mức độ nguy hại mà còn ở chỗ con người là nguyên nhân chính gây ra nó, và chúng ta đang phải đối mặt với chính những hệ quả của mình. Việc phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, nạn phá rừng, sản xuất và tiêu dùng thiếu bền vững đang phá vỡ cân bằng tự nhiên. Điều này đặt ra trách nhiệm cấp bách: loài người phải thay đổi mạnh mẽ mô hình phát triển để cứu chính mình.Dù vậy, trước thách thức lớn vẫn luôn có cơ hội để đoàn kết và đổi mới. Nhiều quốc gia đang thúc đẩy năng lượng sạch, kinh tế xanh, nông nghiệp bền vững; nhiều người trẻ dấn thân vào các hoạt động bảo vệ môi trường. Nhưng nỗ lực ấy chỉ có ý nghĩa khi mỗi cá nhân tự ý thức rằng tương lai hành tinh phụ thuộc vào lựa chọn hằng ngày của chính mình – từ tiết kiệm điện, giảm rác thải nhựa đến ủng hộ các sản phẩm thân thiện với môi trường.Tóm lại, ý kiến của Barack Obama là hoàn toàn xác đáng: biến đổi khí hậu thực sự là thách thức lớn nhất của nhân loại. Nhưng đối mặt với thách thức ấy cũng chính là cơ hội để con người nhìn lại, thay đổi và sống hài hòa hơn với thiên nhiên. Nếu hành động ngay từ hôm nay, chúng ta vẫn có thể giữ cho trái đất một tương lai xanh và an toàn cho các thế hệ mai sau.
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận văn học (kết hợp với biểu cảm và bình giảng).
Câu 2. Trong phần (3), người viết đã thể hiện cảm xúc, thái độ gì?
Người viết bộc lộ nỗi bâng khuâng, cô đơn, lạc lõng, đồng thời cảm nhận về thân phận nhỏ bé, lênh đênh của con người trước dòng tràng giang rộng lớn – cũng chính là trước dòng đời bao la.
Câu 3. Trong phần (1) của văn bản, tác giả đã chỉ ra nét khác biệt nào của Tràng giang so với thơ xưa khi cùng tái tạo cái “tĩnh vắng mênh mông”?
Tác giả chỉ ra rằng:
- Thơ xưa diễn tả sự vắng lặng bằng tâm thế an nhiên, tự tại, tạo vẻ đẹp cổ điển, thanh vắng.
- Còn trong Tràng giang, sự tĩnh lặng lại thấm đượm nỗi cô đơn, bơ vơ, tạo nên một không gian hoang sơ, tuyệt đối vắng bóng con người, khác hẳn cảm giác thư thái trong thơ cổ.
- Câu 4. Trong phần (2) của văn bản, tác giả đã phân tích những yếu tố ngôn ngữ nào của bài thơ để làm sáng tỏ “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang?
Các yếu tố ngôn ngữ được phân tích gồm:
- Từ láy: “điệp điệp”, “song song”, “lớp lớp”, “dợn dợn”… gợi sự triền miên, miên viễn.
- Kết cấu các cặp câu song song, nối tiếp: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song”.
- Cách ngắt nhịp và chuỗi hình ảnh tiếp nối: “Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu”.
- Những cụm từ chỉ sự tiếp nối: “hàng nối hàng”, “tiếp bãi vàng”…
- Câu 5 Em ấn tượng nhất với cách bài thơ gợi nỗi cô đơn thăm thẳm qua không gian tĩnh lặng và hoang vắng. Vì Huy Cận không chỉ tả cảnh mà còn gửi gắm vào đó một tâm trạng nhân sinh sâu sắc; giữa thiên nhiên rộng lớn, con người hiện lên nhỏ bé, lạc lõng. Chính chiều sâu cảm xúc ấy khiến Tràng giang trở thành bài thơ vừa đẹp cổ điển vừa thấm đượm nỗi buồn hiện đại.
câu 1 : PTBĐ : Nghị luận
câu 2: Chủ thể bài việt là vua Lê LỢI
câu 3 : Mục đích của văn bản là kêu gọi việc tiến cử và tự tiến cử người hiền tài để giúp vua Lê Lợi xây dựng đất nước . Nhứng đường lối tiến cử người hiền tài trong văn bản : Các văn võ đại, thần ,ccoong hầu, ,địa phu từ tam phẩm trở lên đều phải cử người có tài, bất kể ở triều đình hay thôn dã , đã xuất sĩ hay chưa . Người có tài kinh luân mà bị khuất hay hào kiệt náu mình nơi làng quê , binh lính cũng có thể tự tiến cử
câu 4 : Người viết đã đưa ra những tấm gương điển hình từ thời Hán và Đường :Địch Nhân Kiệt cử Trương Cửu Linh ; Tiêu Hà tiến cử Tào Tham ,Nguy Vô Trí tiến cử Trần Bình ; Tiêu Tung tiến cử Hàn Hưu
Các dẫn chứng được chọn lọc kĩ lưỡng , có thính điển hình cao và phù hợp với bối cảnh nghị luânj
Tác giả không chỉ kể tên mà còn nhấn mạnh vai trò của việc tiến cử trong sự thành công của các triều đại , từ đó tăng tính thuyết phục
câu 5:
Có trách nhiệm : Vua Lê Lợi tự nhận trách nhiệm nặng nề trong việc trị quốc vaf luôn mong muốn tìm người tài trợ sức
Khiêm tốn và cầu thị : Ông không câu lệ tiểu tiết , sẵn sàng chấp nhận cả những người tự tiến cử
Sáng suốt : Đưa ra chính sách thưởng phạt rõ ràng trong việc tiến cử người tài ,dựa trên tài năng và đức độ
Quan tâm đến hiền tài : hiểu rõ vai trò quan trọng của nhân tài trong việc xây dựng đất nước và sẵn lòng trọng dụng người tài từ mộ tầng lớp
câu 1 : Lối sống chủ động đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giúp mỗi người thích nghi và phát triển trong một thế giới dầy biến động . Khi chủ dodngj , con người không chỉ biết nắm bắt cơ hội mà còn có khả năng tự giải quyết vấn đề , thay vì ỷ lại vào người khác hay phụ thuộc vào hoàn cảnh . Điều này giúp nâng cao hiệu quả trong công việc , cải thiện sức khỏe tinh thần và xây dựng mối quan hệ bền vững . Một người sống chủ động sẽ dễ dàng thích nghi với thay đổi, học hỏi không ngừng và đạt được những mục tieeun quan trong trong cuộc sống
câu 2:
Nguyễn Trãi (1380 - 1442), vị anh hùng dân tộc, "tấm lòng sáng tựa sao Khuê" (lời vua Lê Thánh Tông) dù trong bất kì hoàn cảnh nào cũng không nguôi tâm nguyện hướng về dân về nước. Ngay cả khi bị nghi kị, phải lui về quê ngoại Côn Sơn, ông vẫn bộc bạch nỗi lòng tha thiết cháy bỏng trong cuộc sống tưởng như chỉ biết vui vầy cùng mây núi cỏ cây. Nỗi lòng ấy bộc lộ rõ nét trong chùm thơ 61 bài Bảo kính cảnh giới. Đặc biệt, bài thơ số 43 chan chứa bao khát vọng hướng đến cuộc đời, nhân dân.Bảo kính cảnh giới (Gương báu răn mình) lấy những bài học từ thiên nhiên vĩ đại để nhà thơ soi chiếu lòng mình. Ta không chỉ gặp tấm lòng yêu thiên nhiên của một nghệ sĩ lớn mà còn thấu hiểu tâm sự của người anh hùng luôn canh cánh bên lòng nỗi niềm "ưu quốc ái dân". Suy ngẫm và cảm xúc của nhà thơ giúp chúng ta hình dung một nhân cách lớn.Bài thơ bắt đầu bằng hoàn cảnh hưởng nhàn bất đắc dĩ:
"Rồi hóng mát thuở ngày trường"
Nhịp thơ thật lạ lùng như kéo dài cảm giác của một ngày "ăn không ngồi rồi": tạo điểm nhấn ở một nhịp đầu tiên, sau đó là năm chữ nối thành một hơi thở như tiếng thở dài. Rõ ràng nhà thơ nói về việc hóng mát mà không hề đem lại cảm nhận nhàn tản thật sự. Hai chữ ngày trường lại hiện ra bao nỗi chán chường của một ngày dài vô vị. Hưởng nhàn mà không hề thư thái! Có thể đó sẽ là khởi nguồn cho bao nỗi bực dọc trút ra của con người bất đắc chí. Thế nhưng, tất cả tâm tư đã dồn nén lại khi nhà thơ đối diện với một thiên nhiên mãnh liệt đầy sức sống:
"Hòe lục đùn đùn tán rợp giương.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương"
Ba câu thơ đem lại một bức tranh thiên nhiên nhiều màu sắc, cùng những hình ảnh đặc trưng của không gian mùa hè. Trước hết, đó là hòe buông sắc lục như một chiếc lọng khổng lồ bao trùm lên cảnh vật, tạo cảm giác về một không gian xanh. Cái nhìn thiên nhiên của Nguyễn Trãi luôn có sức bao quát, vừa gợi sức sống của không gian trong động từ đùn đùn, vừa gợi cảm giác phóng khoáng trong một chữ rợp. Tầm nhìn trải từ gần ra xa, theo quy luật đăng đối ở hai câu tả thực, khéo léo đan cài sắc đỏ của thạch lựu trước hiên nhà cùng sắc hồng của ao sen. Câu trên tả sắc, câu dưới gợi hương. Thiên nhiên ấy cũng chứa chan bao cảm xúc, lúc dịu nhẹ lan tỏa lúc bừng bừng phun trào. Để rồi cuối cùng đọng lại cảm giác man mác tiếc nhớ làn hương thanh thoát của sen hồng lúc cuối hè. Phải là một người có tâm hồn tinh tế mới cùng một lúc diễn tả được nhiều cảm giác trong chỉ vài ba câu thơ cô đọng. Giữa khung cảnh thiên nhiên ấy, nhà thơ dường như cũng nguôi ngoai bao nỗi niềm bực dọc, để lòng mình hòa cùng thiên nhiên đầy sức sống.Không chỉ nhìn bằng mắt mà Nguyễn Trãi còn trải lòng lắng nghe những thanh âm muôn vẻ của thiên nhiên:
"Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương"
Có một sự chuyển đổi cảm xúc trong cách lắng nghe những âm thanh của cuộc sống. Giờ đây, những thanh âm lại được cảm nhận từ xa đến gần, từ lao xao đến dắng dỏi. Thiên nhiên không hề tĩnh lặng u trầm trong thời điểm chiều buông mà trái lại rất sôi động và gần gũi với tấm lòng thiết tha yêu sự sống của nhà thơ. Lao xao là âm thanh gợi rõ cuộc sống thanh bình của những người dân chài, cảnh mua bán tấp nập mà không quá ồn ào để khuấy động không gian hưởng nhàn của nhà thơ. Dường như Nguyễn Trãi dã chủ động hướng lòng mình về với chợ cá, làng ngư phủ để thấy bản thân không xa với đời thường. Âm vang cuộc sống thực ấy tạo thành mối dây liên hệ giữa nhà thơ với nhân dân, mang lại niềm vui xôn xao trong một buổi chiều dễ tạo cho nhà thơ nỗi buồn, cấu trúc đăng đối đã tạo nên sự hòa điệu giữa con người với thiên nhiên trong sự cân xứng làng ngư phủ - bóng tịch dương mang đậm sắc thái trang trọng cổ điển. Nghệ thuật tương phản tạo nên một cảm hứng hết sức mới mẻ trong thơ Nguyễn Trãi khi ấn tượng ám ảnh nhà thơ không phải ánh tịch dương ảm đạm mà lại là âm thanh dắng dỏi cầm ve. Sự liên tưởng bất ngờ và độc đáo này đã chứng tỏ rõ phẩm chất nghệ sĩ của Nguyễn Trãi. Tiếng ve đặc trưng của mùa hè đến cùng Nguyễn Trãi lại như một bản đàn mạnh mẽ, rạo rực hối hả nhịp sống căng tràn của thiên nhiên. Bức tranh thiên nhiên sống động ấy đã hàm chứa một nội dung thông điệp thẩm mĩ đánh động tâm tư của nhà thơ. Bản thân ông có muốn lánh đời thoát tục, ngắm ánh tịch dương, giam mình trong lầu kín cũng không thể không nghe, không thấy bao vẻ đẹp thiên nhiên tươi tắn rộn rã chung quanh. Thiên nhiên ấy xôn xao hay chính tấm lòng của nhà thơ cũng đang náo nức muốn hòa cùng niềm vui sự sống? Cuộc sống của ông không phải của ẩn sĩ lánh đời mà chính là phản chiếu của tâm hồn yêu đời thiết tha, vẫn đón nhận thưởng thức được niềm vui cuộc sống thanh bình để quên đi nỗi riêng tư sầu muộn.
câu 1: Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật
câu 2 : Hình ảnh nói về nét sinh sống đạm bạc của tác giả:
" Một mai , một quốc , một cần câu"
"Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen , hạ tắm ao
Rượu đến cội cây , ta sẽ uống"
câu 3 : Biện pháp tu từ liệt kê trong hai câu thơ trên có tác dụng nhấn mạnh cuộc sống thanh đạm ,giản dị và thú vui tao nhã của nhân vật trữ tình
Việc liệt kê " một mai,một quốc, một cần câu" cho thấy những công cụ lao động đơn giản , gắn liền với cuộc sống nhà nông . Điều này thể hiện sự gần gũi với thiên nhiên và cuộc sống lao động chân chất
Sự lặp lại của từ 'một' trước mỗi công cụ càng làm nổi bật sự đơn giản , ít ỏi trong cuộc sống vật chất .Nhân vật trữ tình không màng đến những tiện nghi xa hoa , mà tìm thấy niềm vui trong những điều bình dị
Câu thơ ' Thơ thẩn dầu ai vui thú nào ' cho thấy sự ung dung tự tại của nhân vật trữ tình . Thú vui của họ không phải là danh lợi mà là sự thanh thản trong tâm hồn , hòa mình vào thiên nhiên
câu 4 :
Dại : vận vào ta bởi vì ta đang tìm đến nới vắng vẻ để sống , ta chọn khác với đám đông , khác với thói thường . Nhưng khi hiểu ra thì hóa ra lại không dại . Vì giữa lúc nhứng kẻ lộng hánh đang hoành hành , ta tìm về thiên nhiên để có được sự thanh bình => dại hóa khôn
Khôn : cứ tiếp tục cuộc sống đua chen , tranh giành sẽ đánh mất nhân phẩm . Nếu ta cứ sống ở chốn lao xao ấy sẽ đánh mất mình , tạo nên xã hội đại loạn => khôn hóa dại
câu 5 : Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà nho uyên thâm nổi tiếng trong thời kì phân tranh Trịnh-Nguyễn.Sống trong thời loạn lạc , ông không ủng hộ thế lực phong kiến mà tìm đường lui về quê ở ẩn theo đúng lối sống của đạo nho . Bài thơ Nhàn viết bằng chữ Nôm, rút trong Bạch Văn Quốc ngữ thi tập của ông . Bài thơ thể hiện được quan niệm của nhà thơ về cuộc đời , đồng thời thấy được cuộc sống an nhàn của nhà thơ nơi thôn dã . Đó là một cuộc sống vô cùng giản dị và bình yên , đạm bạc nhưng lại rất thanh cao . Nguyễn ỉnh Khiêm đã thể hiện lên một tâm hồn , một nhân cách sống rất bình dị , đời thường , một cốt cách cao đpẹ thiêng liêng