Tạ Thái Bình Nguyên
Giới thiệu về bản thân
Câu 1: Trong văn bản , bé Em hiện lên như một đứa trẻ hồn nhiên, chân thật nhưng cũng giàu tình cảm và biết suy nghĩ chín chắn hơn so với lứa tuổi. Ban đầu, Em rất mong có một chiếc áo mới để đi chơi Tết – mong muốn giản dị mà bất kỳ đứa trẻ nào cũng có. Thế nhưng khi chứng kiến cảnh bạn Khoa trong xóm nghèo, áo quần cũ sờn và gia cảnh thiếu thốn, Em dần nhận ra rằng niềm vui vật chất không phải là điều quan trọng nhất. Sự thay đổi ấy cho thấy Em có một tấm lòng nhân hậu, biết quan tâm và thấu hiểu người khác. Điều đáng quý nhất là Em không chỉ “cảm thương”, mà còn hành động cụ thể: nhường chiếc áo mới cho bạn, tự nguyện giúp đỡ dù đó là điều em từng ao ước. Qua nhân vật bé Em, tác giả gợi lên vẻ đẹp của tình người, sự sẻ chia mộc mạc mà ấm áp, đồng thời khẳng định giá trị tinh thần luôn cao hơn những món quà vật chất. Bé Em vì thế trở thành biểu tượng của sự tử tế – thứ làm cho Tết trở nên tròn đầy hơn bất cứ món đồ mới nào.
Câu 2: Trong câu chuyện , bé Em đã nhận ra rằng tình bạn và sự sẻ chia quý hơn chiếc áo mới mà em hằng mong đợi. Nhận thức tưởng chừng đơn giản ấy lại chứa đựng một bài học sâu sắc về mối quan hệ giữa giá trị vật chất và giá trị tinh thần trong cuộc sống. Giữa xã hội hiện đại đầy biến động, chúng ta càng cần hiểu rằng hai giá trị này không đối lập, mà phải được giữ ở trạng thái hài hòa thì con người mới có thể sống trọn vẹn.
Vật chất là nền tảng để con người tồn tại: ta cần ăn uống, học tập, chữa bệnh, cần tiền để duy trì cuộc sống. Một mức sống đủ đầy giúp ta an tâm, có điều kiện phát triển trí tuệ và nuôi dưỡng ước mơ. Nhưng nếu chỉ chạy theo vật chất, con người rất dễ rơi vào vòng xoáy so sánh, ganh đua, hơn thua. Khi ấy, niềm vui tinh thần dần bị lãng quên; các mối quan hệ cũng trở nên lỏng lẻo, thiếu sự đồng cảm. Ngược lại, giá trị tinh thần – như tình yêu thương, sự sẻ chia, lòng nhân ái – là thứ nuôi dưỡng tâm hồn, giúp con người trở nên ấm áp và nhân văn hơn. Nó không thể cân đo bằng tiền, nhưng chính là điều làm cho cuộc sống có ý nghĩa. Bé Em trong câu chuyện đã lựa chọn giá trị tinh thần khi đặt niềm vui của bạn lên trên mong muốn cá nhân. Một lựa chọn nhỏ nhưng đủ để làm sáng bừng cả câu chuyện Tết.
Để xây dựng lối sống hài hòa, chúng ta cần trước hết xác định rõ nhu cầu vật chất ở mức hợp lý: làm việc chăm chỉ, chi tiêu có kế hoạch, biết tiết kiệm và không chạy theo những thứ phô trương. Song song đó, ta cũng phải nuôi dưỡng đời sống tinh thần: dành thời gian cho gia đình, quan tâm đến bạn bè, biết sẻ chia với người gặp khó khăn, giữ thái độ lạc quan và biết ơn. Ngoài ra, mỗi người có thể làm những việc cụ thể như tham gia hoạt động tình nguyện, giúp đỡ người yếu thế, tạo thói quen đọc sách để mở rộng tâm hồn, hoặc đơn giản là cư xử tử tế trong cuộc sống hằng ngày. Những hành động nhỏ nhưng đều góp phần cân bằng hai giá trị quan trọng.
Khi vật chất và tinh thần được đặt đúng vị trí, con người không chỉ sống đủ mà còn sống đẹp. Câu chuyện của bé Em nhắc nhở chúng ta rằng đôi khi hạnh phúc đến từ những điều rất giản dị: một tấm lòng biết nghĩ cho người khác. Và chính điều đó làm nên giá trị đích thực của cuộc sống.
Câu 1: Thể loại truyện ngắn
Câu 2: Đề tài của văn bản : Tình bạn
Câu 3:
– Sự thay đổi điểm nhìn trong văn bản:
+ Đoạn trích ban đầu được kể theo ngôi thứ ba, điểm nhìn bên ngoài của người kể chuyện.
+ Sau đó, điểm nhìn chuyển sang nội tâm nhân vật bé Em (Những suy nghĩ, cảm xúc khi muốn khoe áo mới rồi sự ngập ngừng, trăn trở khi nhìn bạn).
+ Tiếp đó, có những đoạn lại theo điểm nhìn nội tâm của bé Bích (Cảm thấy tủi thân nhưng vẫn thể hiện sự quý mến bạn).
- Tác dụng:
+ Làm nổi bật sự khác biệt về hoàn cảnh của nhân vật. Giúp người đọc đồng cảm, thấu hiểu được suy nghĩ, cảm xúc sâu kín của cả bé Em và bé Bích. Tạo nên sự chân thực, sinh động, khiến tình bạn hiện lên vừa hồn nhiên, vừa cảm động.
Câu 4:
– Với nhân vật bé Em:
+ Ban đầu, nó thể hiện hồn nhiên, vui tươi, có chút tự hào, muốn được khoe khoang.
+ Sau đó, nó bộc lộ được sự tinh tế, thấu hiểu, lòng nhân ái và sự trân trọng tình bạn của bé Em.
– Với nhân vật bé Bích: Sự hiền lành, hiểu chuyện và biết trân trọng tình bạn.
Câu 5:
Tình bạn chính là không dựa trên cái giàu và nghèo, những vật chất không thể làm xoá nhoà ranh giới của tình bạn, sự thấu hiểu, đồng cảm và chia sẻ đóng vai trò quan trọng trong mối quan hệ. Không chỉ vậy, sự chia sẻ còn là sự tinh tế trong cách đối xử và quan tâm cảm xúc của người khác.
Câu 1:
Trong bài thơ Chân quê, hình ảnh “hoa chanh nở giữa vườn chanh” là một chi tiết rất nhỏ nhưng lại có ý nghĩa đặc biệt. Hoa chanh vốn bé, trắng, giản dị và thường bị chìm khuất giữa cả khu vườn. Vì vậy khi tác giả nói “hoa chanh nở giữa vườn chanh”, đó không chỉ là một hình ảnh tả thực mà còn giống như một lời khen kín đáo dành cho vẻ đẹp của người con gái quê. Giữa cái không gian quen thuộc, mộc mạc ấy, nàng vẫn nổi bật theo một cách rất tự nhiên – không cần son phấn hay trang hoàng cầu kỳ. Sự nổi bật này không phô trương, mà giống như một thứ duyên âm thầm khiến người ta càng ngắm càng thương. Hình ảnh hoa chanh vì thế trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp chân chất, trong trẻo của người con gái thôn quê; nó làm nổi bật quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Bính: cái đẹp thực sự không nằm ở lộng lẫy, mà ở sự mộc mạc và tự nhiên. Qua chi tiết đó, ta cảm nhận được tình yêu đầy trân trọng của tác giả dành cho vẻ đẹp của quê hương mình.
Trong thời đại mà công nghệ phát triển từng ngày, con người có thể làm được rất nhiều điều tưởng chừng không tưởng. Thế nhưng, dù hiện đại đến đâu, chúng ta vẫn phải đối mặt với một nguy cơ rất cũ mà cũng rất mới: biến đổi khí hậu. Tổng thống Obama đã từng nói rằng đây là thách thức lớn nhất đối với tương lai nhân loại. Và thực tế cho thấy, lời nhận định ấy không hề cường điệu. Khí hậu đang thay đổi ở tốc độ mà chính con người không ngờ tới, và những hệ quả của nó đang hiện ra bằng những hình ảnh rất thật: nắng nóng cực đoan, lũ lụt bất thường, hạn hán kéo dài, băng tan, biển dâng… Không còn là chuyện của vài thập kỉ nữa – nó đang diễn ra ngay lúc này.
Biến đổi khí hậu nguy hiểm bởi vì nó không chừa bất kì ai. Một trận bão mạnh hơn bình thường có thể cuốn phăng nhà cửa của hàng ngàn người; một đợt hạn hán kéo dài đủ khiến cả vùng đất màu mỡ trở nên nứt nẻ; một cơn sóng thần do biển nóng lên có thể khiến cả thành phố biến mất. Sự cực đoan của thời tiết gây ra những hậu quả dây chuyền: thiếu lương thực, thiếu nước sạch, bệnh tật, nghèo đói… Đó không còn là vấn đề môi trường nữa mà là vấn đề sống còn của con người. Và điều đáng lo hơn cả: nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ chính chúng ta với thói quen tiêu thụ quá mức và sự thờ ơ kéo dài.
Tuy vậy, biến đổi khí hậu không phải là câu chuyện chỉ để sợ hãi. Nó là lời nhắc cho mỗi người về trách nhiệm của mình đối với Trái Đất. Những việc nhỏ như hạn chế rác thải nhựa, tiết kiệm điện nước, trồng cây, sử dụng phương tiện thân thiện môi trường… tưởng như không đáng kể, nhưng khi hàng triệu người cùng làm thì kết quả sẽ khác. Bên cạnh đó, các quốc gia cũng cần hợp tác mạnh mẽ hơn, không phải chỉ bằng những khẩu hiệu đẹp mà bằng những cam kết thực tế: giảm phát thải, chuyển đổi năng lượng sạch, phát triển bền vững.
Nếu chúng ta tiếp tục thờ ơ, tương lai có thể trở nên rất tối. Nhưng nếu con người kịp thời hành động, biến đổi khí hậu không phải là “bản án” mà là cơ hội để nhân loại nhìn lại cách mình sống. Như ngài Barack Obama đã nói : "đây là thách thức lớn nhất – và chính vì lớn nhất, nó đòi hỏi sự nỗ lực của toàn thế giới". Tương lai thuộc về những ai dám hành động ngay từ bây giờ. Và hi vọng rằng, khi nhìn lại, chúng ta có thể tự tin nói rằng mình đã làm tất cả những gì có thể để bảo vệ hành tinh này.
Câu 1: PTBĐ chính: Nghị Luận
Câu 2: Người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, lạc lõng giữa không gian rộng lớn và dỏng chảy của thời gian. Sự động cảm sâu sắc đối với nhân vật Tràng giang, liên tưởng bản thân như 1 cành củi khô hay cánh chim nhỏ bé trên dòng đời.
Câu 3:
- Cái tĩnh vắng mênh mông thường gắn liền với sự an nhiên tự tại, thanh thản trong khoảng thời gian của dòng chảy trong văn thơ xưa. Nhưng trong câu thơ của tác giả Huy Cận, điều đó lại gợi lên sự hưu quạnh, cô đớn, trống trải, dấy lên nỗi nhớ nhà trong lòng người.
Câu 4:
Các từ láy: điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn... gợi sự triền miên, nối tiếp.
Cấc cặp câu tương xứng: " Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song".
Tạo nên một nhịp điệu chảy xuôi vô tận của Tràng Giang
Câu 5:
Em ấn tượng nhất với sự cô đơn, hiu quạnh đến đau lòng của con người trước không gian và thời gian trong bài thơ. Qua đó, tấm lòng của tác giả đối với quê hương, con người dù có ở nơi đâu vẫn luôn hướng về cội nguồn, nơi là điểm tựa vững chắc về tinh thần cho mỗi chúng ta.
Câu 1:
Nguyễn Trãi đã sử dụng nghệ thuật lập luận chặt chẽ, sắc bén để thuyết phục người đọc về tầm quan trọng của việc chiêu mộ hiền tài. Mở đầu bài chiếu, ông nêu lên luận điểm: "Được thịnh trị tất ở việc cử hiền, được hiền tài tất do sự tiến cử". Luận điểm này được khẳng định bằng những dẫn chứng xác đáng từ lịch sử: "các quan đời Hán Đường... đều được người để đảm đang nhiệm vụ". Tiếp đó, tác giả đưa ra thực tế đương thời: "Nay trẫm vâng chịu trách nhiệm nặng nề... chính vì cầu người hiền giúp việc mà chưa được người". Từ đó, ông đưa ra mệnh lệnh: "hạ lệnh cho các văn võ đại thần... mỗi người đều cử một người". Để mệnh lệnh thêm sức thuyết phục, Nguyễn Trãi đưa ra chính sách đãi ngộ rõ ràng: "tiến hiền thì được thưởng... thăng chức hai bực... được trọng thưởng". Không chỉ vậy, ông còn mở rộng phạm vi chiêu hiền bằng cách cho phép "các bực quân tử... đều cho tự tiến". Cách lập luận này vừa có lý, vừa có tình, khiến người đọc không thể không đồng tình.
Câu 2:
Hiện tượng "chảy máu chất xám" tại Việt Nam hiện nay
"Hiền tài là nguyên khí quốc gia", câu nói ấy đã khẳng định vai trò tối quan trọng của những người tài đối với sự phát triển của đất nước. Thế nhưng, hiện nay, Việt Nam đang phải đối mặt với một vấn đề nhức nhối: "chảy máu chất xám". Đây là hiện tượng người tài rời bỏ quê hương để làm việc và cống hiến ở nước ngoài.
Vậy nguyên nhân của hiện tượng này là gì? Trước hết, đó là do môi trường làm việc ở Việt Nam chưa thực sự hấp dẫn. Nhiều người tài cảm thấy không được trọng dụng, không có cơ hội phát huy năng lực. Bên cạnh đó, mức lương và chế độ đãi ngộ ở nước ngoài thường cao hơn, tạo sức hút lớn đối với người lao động. Ngoài ra, một số người muốn tìm kiếm môi trường sống và làm việc hiện đại, văn minh hơn.
"Chảy máu chất xám" gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho đất nước. Sự ra đi của những người tài khiến Việt Nam mất đi nguồn lực quý giá cho sự phát triển. Các ngành khoa học, công nghệ, giáo dục... bị ảnh hưởng nặng nề. Nền kinh tế chậm phát triển, sức cạnh tranh của quốc gia suy giảm.
Để giải quyết vấn đề này, cần có những giải pháp đồng bộ. Nhà nước cần tạo môi trường làm việc thuận lợi, có chính sách đãi ngộ thỏa đáng để thu hút và giữ chân người tài. Các doanh nghiệp cần chú trọng đầu tư vào phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Mỗi người dân cần nâng cao ý thức trách nhiệm, đóng góp vào sự phát triển của đất nước.
"Chảy máu chất xám" là một thách thức lớn đối với Việt Nam. Tuy nhiên, nếu chúng ta cùng chung tay hành động, chắc chắn sẽ tìm ra giải pháp để khắc phục tình trạng này, đưa đất nước ngày càng phát triển.
Câu 1:
phương thức biểu đạt chính: Nghị luận
Câu 2: Chủ đề của bài viết là vua Lê Lợi
Câu 3:Mục đích chính là : Chiêu mộ hiền tài để giúp vua cai trị đất nước.
Những đường lối tiến cử người hiền tài:
-Các quan văn võ từ tam phẩm trở lên tiến cử người tài.
-Người tài có thể tự tiến cử.
Câu 4
-Việc đầu tiên vua cần làm: Chọn người hiền tài về giúp cho đất nước.
-Dẫn chứng:Các quan đời Hán, Đường tiến cử người hiền tài.Mao Toại, Ninh Thích tự tiến cử.
-Nhận xét: Cách nêu dẫn chứng của người viết rất phong phú, có dẫn chứng người tiến cử người tài và người tài tự tiến cử. Các dẫn chứng đều là người nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc, có sức thuyết phục cao.
Câu 5:
ta có thể thấy rõ những phẩm chất cao đẹp của chủ thể bài viết - vua Lê Lợi. Trước hết, đó là một vị vua có lòng yêu nước, thương dân sâu sắc. Ông nhận thức rõ tầm quan trọng của việc chiêu mộ hiền tài để giúp đất nước phát triển, thịnh vượng. Tiếp theo, Lê Lợi là một người biết coi trọng và quý mến người tài. Ông không chỉ ban lệnh cho các quan tiến cử người tài mà còn mở rộng cánh cửa cho những người tài năng tự tiến cử, không phân biệt xuất thân. Cuối cùng, qua cách dùng từ ngữ khiêm tốn, lo lắng việc chưa tìm được người tài, ta thấy được sự khiêm nhường, biết lắng nghe người khác của vị vua này. Những phẩm chất ấy đã góp phần làm nên một vị minh quân, một nhà lãnh đạo tài ba trong lịch sử dân tộc
câu 1 Sống ở thế chủ động là hành động độc lập với hoàn cảnh xung quanh, làm chủ được tình thế, dám nghĩ, dám hành động trên tất cả mọi lĩnh vực, chủ động tìm tòi, chủ động đề nghị, chủ động dấn thân… Tuổi trẻ nhất định phải luôn sống ở thế chủ động bởi cuộc sống không dễ dàng hay thiên vị đối với bất kì ai, luôn luôn đặt chúng ta vào những tình huống, thử thách phải chủ động tìm cách giải quyết. Sống chủ động giúp tuổi trẻ tự tin, bản lĩnh, linh hoạt ứng xử trong mọi tình huống để vượt qua khó khăn, hoàn thành mục tiêu, khát vọng, ước mơ. Tuổi trẻ chủ động sẽ không ngừng tạo được cơ hội mới khẳng định bản thân, đạt được thành công; Xã hội có nhiều cá nhân sống chủ động sẽ tạo ra một bầu không khí dám nghĩ, dám làm, nâng cao chất lượng công việc. Thật đáng buồn khi một số bạn trẻ đang sống dựa dẫm vào người khác, thiếu tự tin, đặt mình ở thế thụ động. Sống ở thế chủ động cần thiết trong môi trường xã hội hôm nay, là một thái độ tích cực của tuổi trẻ trong thời đại toàn cầu hóa, đặc biệt không thể thiếu đối với công dân toàn cầu. Tuổi trẻ cần tự tin, dám nghĩ, dám làm, chủ động sáng tạo tìm kiếm những cơ hội và xây dựng kế hoạch để chinh phục ước mơ.
câu 2
Trong những ngày từ quan về ở ẩn tại Côn Sơn, Nguyễn Trãi đã viết nhiều bài thơ đặc sắc, trong số đó có bài số 43 trong chùm thơ Bảo kính cảnh giới. Bài thơ là bức tranh phong cảnh mùa hè độc đáo nhưng thấp thoáng là niềm tâm sự của tác giả.
Câu thơ đầu tiên, ta đọc lên thoáng qua sao có vẻ an nhàn, êm đềm, thanh thoát đến thế.
"Rồi hóng mát thuở ngày trường"
Câu thơ hiện lên hình ảnh của nhà thơ Nguyễn Trãi, ông đang ngồi dưới bóng cây nhàn nhã như hóng mát thật sự. Việc quân, việc nước chắc đã xong xuôi ông mới trở về với cuộc sống đơn sơ, giản dị, mộc mạc mà chan hòa, gần gũi với thiên nhiên. Một số sách dịch là "Rỗi hóng mát thuở ngày trường". Nhưng "rỗi" hay "rồi" cũng đều gây sự chú ý cho người đọc. Rảnh rỗi, sự việc còn đều xong xuôi, đã qua rồi "Ngày trường" lại làm tăng sự chú ý. Cả câu thơ không còn đơn giản là hình ảnh của Nguyễn Trãi ngồi hóng mát mà nó lại toát lên nỗi niềm, tâm sự của tác giả: "Nhàn rỗi ta hóng mát cả một ngày dài". Một xã hội đã bị suy yếu, nguyện vọng, ý chí của tác giả đã bị vùi lấp, không còn gì nữa, ông đành phải rời bỏ, từ quan để về ở ẩn, phải dành "hóng mát" cả ngày trường để vơi đi một tâm sự, một gánh nặng đang đè lên vai mình. Cả câu thơ thấp thoáng một tâm sự thầm kín, không còn là sự nhẹ nhàng thanh thản nữa.
Về với thiên nhiên, ông lại có cơ hội gần gũi với thiên nhiên hơn. Ông vui thú, say mê với vẻ đẹp của thiên nhiên.
"Hòe lục đùn đùn tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương".
Cảnh mùa hè qua tâm hồn, tình cảm của ông bừng bừng sức sống. Cây hòa lớn lên nhanh, tán cây tỏa rộng che rợp mặt đất như một tấm trướng rộng căng ra giữa trời với cành lá xanh tươi. Những cây thạch lựu còn phun thức đỏ, ao sen tỏa hương, màu hồng của những cánh hoa điểm tô sắc thắm. Qua lăng kính của Nguyễn Trãi, sức sống vẫn bừng bừng, tràn đầy, cuộc đời là một vườn hoa, một khu vườn thiên nhiên muôn màu muôn vẻ. Cảnh vật như cổ tích có lẽ bởi nó được nhìn bằng con mắt của một thi sĩ đa cảm, giàu lòng ham sống với đời...
Qua cảnh mùa hè, tình cảm của Nguyễn Trãi cũng thể hiện một cách sâu sắc:
"Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương".
"Chợ" là hình ảnh của sự thái bình trong tâm thức của người Việt. Chợ đông vui thì nước thái bình, thịnh trị, dân giàu đủ ấm no: chợ tan rã thì dễ gợi hình ảnh đất nước có biến, có loạn, có giặc giã, có chiến tranh, đao binh... lại thêm tiếng ve kêu lúc chiều tà gợi lên cuộc sống nơi thôn dã. Chính những màu sắc nơi thôn dã này làm cho tình cảm ông thêm đậm đà sâu sắc và gợi lại ý tưởng mà ông đang đeo đuổi.
"Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương".
"Dân giàu đủ", cuộc sống của người dân ngày càng ấm no, hạnh phúc là điều mà Nguyễn Trãi từng canh cánh và mong ước. Ở đây, ông đề cập đến Ngu cầm vì thời vua Nghiêu, vua Thuấn nổi tiếng là thái bình thịnh trị. Vua Thuấn có một khúc đàn "Nam Phong" khảy lên để ca ngợi nhân gian giàu đủ, sản xuất ra nhiều thóc lúa ngô khoai. Cho nên, tác giả muốn có một tiếng đàn của vua Thuấn lồng vào đời sống nhân dân để ca ngợi cuộc sống của nhân dân ấm no, vui tươi, tràn đầy âm thanh hạnh phúc. Những mơ ước ấy chứng tỏ Nguyễn Trãi là nhà thơ vĩ đại có một tấm lòng nhân đạo cao cả. Ông luôn nghĩ đến cuộc sống của nhân dân, chăm lo đến cuộc sống của họ.
Đó là ước mơ vĩ đại. Có thể nói, dù triều đình có thể xua đuổi Nguyễn Trãi nhưng ông vẫn sống lạc quan yêu đời, mong sao cho ước vọng lí tưởng của mình được thực hiện để nhân dân có một cuộc sống ấm no.
Bài thơ này đã làm rõ nỗi niềm tâm sự của Nguyễn Trãi trong thời gian ở Côn Sơn với tấm lòng yêu nước thương dân vẫn ngày đêm "cuồn cuộn nước triều Đông". Ông yêu thiên nhiên cây cỏ say đắm. Và có lẽ chính thiên nhiên đã cứu Nguyễn Trãi thoát khỏi những phút giây bi quan của cuộc đời mình. Dù sống với cuộc sống thiên nhiên nhưng Ức Trai vẫn canh cánh "một tấc lòng ưu ái cũ". Nguyễn Trãi vẫn không quên lí tưởng nhân dân, lí tưởng nhân nghĩa, lí tưởng: mong cho thôn cùng xóm vắng không có một tiếng oán than, đau sầu.
Một điều đặc sắc nữa của bài thơ là tác giả đã căng mở tất cả các giác quan để cảm nhận một cách tinh tế và tái hiện một cách xuất thần vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên cuộc sống. Với xúc giác Nguyễn Trãi đã mang đến cho người đọc ấn tượng đầu tiên về bức tranh thiên nhiên ấy là sự mát mẻ, dễ chịu, tạo cho người đọc ấn tượng về phong thái nhàn hạ, thoải mái của thi nhân khi tận hưởng từng cơn gió thuở ngày hè. Bên cạnh đó thị giác lại mang đến những ấn tượng sâu sắc về dáng hình của thiên nhiên với những màu sắc rực rỡ, đó là màu xanh lục của cây hòe rợp bóng, rồi nổi bật trên cái nền xanh thẫm ấy là màu đỏ rực rỡ của những đóa thạch lựu, và màu hồng dịu dàng của loài sen đã nở rộ trong đầm. Và cuối cùng cả ba gam màu ấy lại được tắm mình trong cái màu vàng nhàn nhạt của ánh hoàng hôn sắp tắt để đem đến một bức tranh mùa hè tươi tắn, sức sống căng đầy mạnh mẽ, thể hiện sự yêu đời, yêu sống, nhìn cảnh vật bằng tình yêu thiên nhiên tha thiết của tác giả Nguyễn Trãi. Thêm vào đó, sự cảm nhận tinh tế của khứu giác về mùi của loài hoa sen, một loài hoa vốn nhàn nhạt hương sắc, mà chỉ những con người thực sự có tấm lòng tha thiết với sen mới có thể cảm nhận được cái mùi hương thanh mát, đang lan tỏa một cách nồng nàn, trong không gian khoáng đạt. Mùi hương ấy cũng gián tiếp thể hiện cái vẻ đẹp của hoa sen vào mùa nở rộ, khiến người đọc dễ dàng liên tưởng đến hình ảnh một đầm sen hồng, không quá rực rỡ, nhưng cũng đủ khiến bức tranh thiên nhiên bừng lên những vẻ đẹp rộn rã, yêu đời từ hương sắc của loài hoa thanh cao này. Và cuối cùng bức tranh thiên nhiên cảnh ngày hè càng trở nên sôi động, náo nhiệt thông qua sự cảm nhận một cách tinh tế của nhà văn về âm thanh của con người của sự vật. Đó là tiếng “lao xao” thể hiện sự nhộn nhịp trong đời sống sinh hoạt của con ngày và buổi chợ chiều, là tiếng ve “dắng dỏi” vang vọng khắp không gian, như nhắc nhở người ta về một ngày hè rạo rực. Việc sử dụng biện pháp đảo cấu trúc đưa các từ láy mô tả âm thanh lên vị trí đầu câu lại càng nhấn mạnh sự náo nhiệt của cuộc sống rộn ràng trong buổi chiều tà, gợi cảm giác vui tươi, hứng khởi của cuộc sống, làm lu mờ cái cảm giác vắng vẻ, hiu quạnh mà những buổi chiều trong thi ca thường mang lại. Như vậy việc huy động tất cả những giác quan của tác giả đã tái hiện một cách xuất sắc bức tranh thiên nhiên cuộc sống, cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi không chỉ đẹp mà còn có chiều sâu, thể hiện được tam quan của tác giả về cuộc đời, luôn nhìn sự sống bằng đôi mắt hứng khởi, tha thiết, thể hiện tấm lòng yêu thiên nhiên, cuộc đời tha thiết của tác giả.
Từ những cảm nhận tinh tế về bức tranh thiên nhiên cuộc sống, Nguyễn Trãi đã bộc lộ tấm lòng yêu dân ái quốc của mình qua hai câu thơ kết bài.
“Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương"
Từ những quan sát về cuộc sống náo nhiệt của nhân dân nơi chợ cá làng Ngư phủ, tác giả đã mường tượng ra hình ảnh cuộc sống vô cùng tươi đẹp, sung túc đầy đủ của nhân dân. Điều đó gợi ra trong tâm hồn của tác giả những niềm vui, niềm hạnh phúc khi chứng kiến cảnh quốc thái dân an, thế nên muốn có Ngu cầm của vua Nghiêu vua Thuấn để đàn ra khúc Nam Phong, ca ngợi cảnh thái bình thịnh trị của đất nước. Thể hiện niềm mong ước của Nguyễn Trãi về sự giàu có, phồn vinh của nhân dân giống như hai triều đại trong lịch sử. Đồng thời hai câu thơ còn thể hiện sự mãn nguyện, hài lòng của tác giả khi mong ước cả cuộc đời, với tư tưởng nhân nghĩa, hướng về về nhân dân nay đã trở thành hiện thực. Tất cả đã làm nổi bật lên vẻ đẹp tâm hồn cao quý của Nguyễn Trãi, dù là khi còn làm quan, còn được trọng dụng hay khi đã thất thế sa cơ thì tấm lòng của ông vẫn không một lần thay đổi. Tác giả luôn hướng trái tim mình về với nhân dân, với cuộc sống lao động bình thường dân dã, thể hiện niềm yêu tha thiết với vẻ đẹp của thiên nhiên, của cuộc đời. Nguyễn Trãi ấy, đã dành cả kiếp nhân sinh để lo nghĩ cho nhân dân, cho đất nước bằng những tư tưởng cao đẹp, bằng tấm lòng nhân hậu, nhân nghĩa, một lòng phụng sự cho Tổ quốc, cho dân tộc, thật đáng quý vô cùng.
Cảnh ngày hè là một bài thơ hay, thể hiện rõ nét vẻ đẹp tâm hồn của tác giả Nguyễn Trãi, ở đó người ta không chỉ thấy hiện lên vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên rực rỡ, náo nhiệt căng tràn sức sống. Mà còn nhìn nhận được tấm lòng thiết tha của tác giả dành cho vận mệnh đất nước, vận mệnh dân tộc, cả một đời người chỉ mong ước sự phồn hoa, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, thể hiện nổi bật tư tưởng chính nghĩa và tư tưởng vì nhân dân mà tác giả vẫn luôn hằng tâm niệm.
CÂU 1: Thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường luật
Câu 2: những hình ảnh nói về sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả : "một cuốc", "một cần câu","Thu ăn măng trúc","Đông ăn giá", "Xuân tắm hồ sen","hạ tắm ao",
câu 3: Tác giả sử dụng biện pháp liệt kê trong hai câu thơ làm tăng tính gợi hình gợi cảm, muốn nói lên dù có về sau này , chỉ cần một cuộc một cần câu sống yên bình, đạm bạc, thanh tịnh , tự do tự tại mặc cho ai có những vui thú nào ta vẫn thơ thần giữa cuộc đời này.
câu 4:
Sự đối lập giữa "dại - khôn" của tác giả rất đặc biệt:
+ Tác giả không xem "dại" là điều tiêu cực mà ngược lại đó là lối sống hoa mình với thiên nhiên, từ bỏ chốn danh lợi bon chen tìm đến sự yên bình , thanh tịnh.
+"khôn" là chỉ những người mang theo mình những ước muốn vinh hoa và danh vọng , thích nơi đông đúc vui thú, chạy theo lợi ích vật chất .
=> Tác giả đã đề cao lối sống an nhiên thanh bình giản dị , rời xa vòng danh lợi.
Câu 5:
Đoạn văn mẫu:
Nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm một nhà triết lý, nhà thơ với nhân cách thanh cao và trí tuệ kiệt xuất., Ông có lối sống giản dị,thanh bình tự do tự tại mà thanh cao, niềm yêu và hòa mình với thiên nhiên, tránh xa vòng danh lợi chốn bon chen. Ông xem sự tĩnh lặng là chân lý, Ông đề cao cuộc sống thanh nhàn thay vì phải chạy theo những danh vọng, vinh hoa phù phiếm. Hơn thế, một nhân cách thể hiện sự minh triết khi lựa chọn lối sống an nhiên, tự tại. Quan niệm "dại - khôn" của ông không chỉ phản ánh tư tưởng Nho - Đạo mà còn để lại bài học sâu sắc về cách sống thanh cao, không màng danh lợi.