Hoàng Thu Trà
Giới thiệu về bản thân
“Biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất đối với tương lai nhân loại” – nhận định này ngày càng trở nên xác đáng trong bối cảnh thế giới liên tục chứng kiến những hiện tượng thời tiết cực đoan, thiên tai bất thường và suy thoái môi trường ở quy mô toàn cầu. Nếu chiến tranh, dịch bệnh hay nghèo đói từng được coi là những mối đe dọa hàng đầu, thì ngày nay, biến đổi khí hậu lại nổi lên như vấn đề mang tính sống còn, bởi nó tác động trực tiếp, toàn diện và lâu dài đến mọi lĩnh vực của đời sống con người.
Trước hết, biến đổi khí hậu đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng mà không một quốc gia nào có thể đứng ngoài. Nhiệt độ toàn cầu tăng lên dẫn đến băng tan ở hai cực, làm mực nước biển dâng cao, đe dọa nhấn chìm nhiều vùng đồng bằng trù phú. Việt Nam – một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất – đang đối mặt với nguy cơ xâm nhập mặn, lũ lụt, bão mạnh và hạn hán nghiêm trọng. Thời tiết trở nên thất thường, mùa màng mất ổn định khiến an ninh lương thực bị đe dọa. Rõ ràng, biến đổi khí hậu không chỉ làm thay đổi môi trường sống mà còn tác động trực tiếp đến sự tồn tại bền vững của con người.
Không chỉ dừng lại ở hậu quả tự nhiên, biến đổi khí hậu còn kéo theo hàng loạt vấn đề kinh tế – xã hội. Thiên tai dồn dập khiến nhiều quốc gia phải gánh chịu thiệt hại hàng tỷ đô la mỗi năm, làm chậm tốc độ phát triển và gia tăng khoảng cách giàu nghèo. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu có thể gây ra các cuộc khủng hoảng di cư môi trường khi hàng triệu người buộc phải rời bỏ nơi ở vì nước biển dâng hoặc đất đai sa mạc hóa. Những xung đột về tài nguyên như nước sạch, đất sản xuất rất có thể bùng phát mạnh mẽ hơn, đe dọa an ninh toàn cầu. Có thể thấy, biến đổi khí hậu không chỉ là một vấn đề môi trường, mà là thách thức mang tính toàn diện đối với tương lai nhân loại.
Hơn thế nữa, hiểm họa của biến đổi khí hậu nằm ở tính chất âm thầm nhưng dai dẳng và khó đảo ngược. Một khi băng tan hết, rừng bị tàn phá, hay các loài sinh vật tuyệt chủng, con người gần như không thể phục hồi trạng thái ban đầu của hệ sinh thái. Điều này khiến biến đổi khí hậu trở nên nguy hiểm hơn rất nhiều so với các mối đe dọa trước mắt khác. Nó giống như “quả bom nổ chậm” mà nếu không hành động kịp thời, nhân loại sẽ phải trả giá bằng cả tương lai của chính mình.
Tuy nhiên, dù là thách thức lớn nhất, biến đổi khí hậu vẫn có thể được kiểm soát nếu các quốc gia và mỗi cá nhân chung tay hành động. Thay đổi mô hình phát triển theo hướng xanh – bền vững, giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ rừng, sử dụng năng lượng tái tạo là những giải pháp cấp thiết. Ở quy mô cá nhân, mỗi người có thể góp phần thông qua những hành động nhỏ nhưng ý nghĩa như tiết kiệm điện, hạn chế rác thải nhựa, trồng cây, sử dụng phương tiện thân thiện với môi trường. Ý thức của mỗi người chính là nền tảng cho sự thay đổi toàn cầu.
Vậy nên , khẳng định “Biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất đối với tương lai nhân loại”của Barack Obama là hoàn toàn có cơ sở. Nó đe dọa trực tiếp đến môi trường sống, kinh tế, xã hội và sự phát triển bền vững của mọi quốc gia. Đứng trước thách thức này, nhân loại không được phép thờ ơ hay chậm trễ. Chỉ khi chúng ta cùng hành động, tương lai mới thực sự an toàn và bền vững. Biến đổi khí hậu là lời nhắc nhở mạnh mẽ rằng: muốn bảo vệ tương lai, chúng ta phải bắt đầu từ hôm nay.
Câu 1 : PTBĐ Nghị luận
Câu 2 : Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, nhỏ bé, lạc lõng giữa không gian rộng lớn và dòng chảy của thời gian. Thái độ là sự đồng cảm sâu sắc với tâm trạng cô đơn của nhân vật trữ tình trong Tràng giang, đồng thời tự soi chiếu, liên tưởng bản thân như một cành củi khô hay cánh chim nhỏ bé trên dòng đời mênh mông.
Câu 3: Trong phần (1), tác giả chỉ ra sự khác biệt:
Thơ xưa: cái “tĩnh vắng mênh mông” thường gắn với sự thanh thản, an nhiên, tự tại.
Tràng giang (Huy Cận): cái “tĩnh vắng” ấy lại gợi lên sự cô đơn, quạnh hiu, trống trải đến tuyệt đối, làm dấy lên nỗi nhớ nhà thường trực trong lòng người.
Câu 4: Trong phần (2), tác giả đã phân tích nhiều yếu tố ngôn ngữ của bài thơ để làm rõ “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang:
Các từ láy: điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn… gợi sự triền miên, nối tiếp.
Các cặp câu tương xứng, đuổi nhau: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song”.
Cấu trúc trùng điệp, nối tiếp: “Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu”.
Cụm từ chỉ sự nối dài, liên tục: “hàng nối hàng”, “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”…
=> Tất cả tạo nên một nhịp điệu chảy xuôi vô tận, miên viễn của Tràng giang.
Câu 5: Em ấn tượng nhất với cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người trước không gian và thời gian vô tận trong Tràng giang. Bởi vì qua đó, em nhận ra tấm lòng tha thiết của Huy Cận đối với quê hương, đồng thời cảm nhận được nỗi niềm nhân thế sâu xa: con người dù nhỏ bé, cô đơn vẫn luôn hướng về cội nguồn để tìm điểm tựa tinh thần.
Câu 1 :
Trong xã hội hiện đại đầy biến động, lối sống chủ động đóng vai trò vô cùng quan trọng, giúp con người nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức và đạt được thành công. Chủ động không chỉ đơn thuần là biết trước kế hoạch mà còn là khả năng tự giác, sáng tạo và kiên trì trong mọi việc. Khi có lối sống chủ động, con người không bị động trước hoàn cảnh mà luôn tìm cách thích nghi, phát triển bản thân để phù hợp với xu thế của thời đại. Lối sống này giúp mỗi người làm chủ cuộc đời mình, không phụ thuộc vào may rủi hay người khác. Một người chủ động học tập sẽ không chờ đợi kiến thức đến với mình mà luôn tìm tòi, khám phá để nâng cao trình độ. Trong công việc, sự chủ động giúp ta hoàn thành nhiệm vụ một cách hiệu quả, biết cách giải quyết vấn đề nhanh chóng thay vì chỉ làm theo lối mòn. Không chỉ vậy, sự chủ động còn giúp ta xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp, bởi người chủ động thường biết cách giao tiếp, hợp tác và tạo ra giá trị cho cộng đồng. Trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh chóng và thị trường lao động cạnh tranh gay gắt, những ai có lối sống chủ động sẽ có nhiều cơ hội hơn để thành công. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện tinh thần chủ động ngay từ bây giờ, không ngừng học hỏi, đặt ra mục tiêu rõ ràng và dám hành động để biến ước mơ thành hiện thực.
Câu 2:
Nguyễn Trãi, người lính, nhà chính trị, ngoại giao, cuộc đời đầy biến động với lo âu về sự nghiệp và quốc gia. Giây phút lặng lẽ trong thiên nhiên là khoảnh khắc quý giá hiếm hoi trong cuộc sống bận rộn của ông.Ông là danh nhân văn hóa, anh hùng dân tộc, nhà thơ lớn của Việt Nam, không chỉ để lại dấu ấn sâu sắc trong sự nghiệp chính trị mà còn trong văn học với những tác phẩm giàu giá trị tư tưởng và nghệ thuật. Bảo kính cảnh giới là một trong những bài thơ tiêu biểu thể hiện tâm hồn thanh cao, yêu thiên nhiên và nỗi lòng ưu tư của ông trước thời cuộc. Qua bức tranh thiên nhiên bình dị, thơ mộng, bài thơ không chỉ phản ánh vẻ đẹp của cảnh sắc quê hương mà còn thể hiện nhân sinh quan và khát vọng cao cả của tác giả. Bảo kính cảnh giới' dịch là 'gương tỏa sáng chính mình'. Đây là một phần trong tập thơ nổi tiếng bằng chữ Nôm có tên 'Quốc âm thi tập'. Trong bài thơ số 43 này, tác giả mô tả cảnh ngày hè tươi đẹp, rực rỡ và tình yêu quê hương thương dân.
Ở dòng thơ đầu tiên, Nguyễn Trãi đã hé lộ tâm trạng của mình 'Rồi hóng mát thuở ngày trường'. Tâm trạng thư thái, tự do cho thấy nhà thơ đang thưởng thức cuộc sống êm đềm, hạnh phúc. Dù ông đã dành cả cuộc đời để lo lắng cho quê hương, nhưng bây giờ, ông thư giãn trong khoảnh khắc quý giá, chiêm ngưỡng cảnh thiên nhiên mùa hè rực rỡ:
'Hòe lục đùn đùn tán rợp trương.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ.
Hồng liên trì đã tịn mùi hương.'
Tác giả chú ý đến bầu không khí mùa hè bên gần cây hòe. Cây hòe lớn mạnh, những lá xanh mướt mắt mở ra. Từ 'đùn đùn' thường diễn đạt sự mạnh mẽ, tăng lên, mà tác giả sử dụng để miêu tả những cành cây đang mọc lên, ngày càng lớn lên, che phủ bóng mát. Sắc xanh của cây hòe được tác giả sử dụng gần với màu đỏ của cây lựu, tạo nên một bức tranh đầy màu sắc. Bông hoa lựu không chỉ đẹp mắt mà còn 'phun' thức đỏ. Từ 'phun' khiến cho màu đỏ trên cây càng trở nên sâu sắc hơn, rực rỡ hơn. Những bông hoa lựu rực rỡ, tràn đầy sức sống làm cho mùa hè trở nên quyến rũ hơn, rạng rỡ hơn. Trong một phần khác của bức tranh, mặc dù không rực rỡ như màu xanh và màu đỏ, nhưng màu hồng của 'hương sen hồng' thì vô cùng dịu dàng, nhẹ nhàng. Bông sen trong ao toả hương thơm ngọt ngào khắp nơi. Đó là bức tranh mùa hè của Nguyễn Trãi, đầy màu sắc và hương thơm.
Trong hai dòng thơ tiếp theo, Nguyễn Trãi viết:
'Lao xao chợ cá làng ngư phủ;
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.'
Những dòng thơ này đã mở ra bức tranh mùa hè sống động, phấn khích. Thi sĩ đã dùng từ 'Lao xao' - một từ mô tả âm thanh từ chợ cá vang vọng. Đó là âm thanh vui tươi, sôi động của cuộc sống hàng ngày. Tác giả lắng nghe tiếng cười, niềm vui của con người như nghe thấy âm nhạc hạnh phúc của cuộc sống. Ngoài tiếng nói của con người, nhà thơ cũng cảm nhận được tiếng ve đặc trưng của mùa hè. Trong hoàng hôn, con người thường đong đầy nhiều nỗi buồn vui. Thi sĩ cũng vậy, khi cảnh mùa hè dần kết thúc, ánh lặn dần, ông đã bày tỏ cảm xúc của mình:
'Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phương phương.'
Tại đây, tác giả mong ước có được 'Ngu cầm' - cây đàn của vua Thuấn để sáng tác khúc nhạc Nam phong, giúp nhân dân giảm bớt ưu phiền và có thêm của cải. Tấm lòng của Nguyễn Trãi muốn mọi người dân đều được sống trong bình yên, hạnh phúc, đầy đủ. Điều này cũng phản ánh trong câu cuối cùng 'Dân giàu đủ khắp đòi phương'. Đây là ước vọng phi thường, thể hiện lòng yêu nước, thương dân của người anh hùng Nguyễn Trãi.
Nghệ thuật đặc sắc của bài thơ thứ 43 trong chùm thơ 'Bảo kính cảnh giới' không thể không được nhắc đến. Tác giả sử dụng các câu thơ thất ngôn xen lẫn lục ngôn để tạo nên sự độc đáo ở bài thơ này. Ngoài ra, các từ tượng hình, tượng thanh và các động từ được sử dụng hợp lý để mô tả bức tranh mùa hè sôi động, đầy màu sắc.
Bài thơ Bảo kính cảnh giới của Nguyễn Trãi không chỉ là bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, thanh bình mà còn thể hiện tâm hồn cao cả của nhà thơ – một con người luôn hướng về thiên nhiên, yêu cuộc sống giản dị nhưng vẫn canh cánh nỗi niềm với dân, với nước. Qua những vần thơ giàu hình ảnh và cảm xúc, Nguyễn Trãi gửi gắm khát vọng sống thanh cao, hòa mình với thiên nhiên nhưng không xa rời lý tưởng vì dân vì nước. Tác phẩm không chỉ là tiếng lòng của một bậc đại trí, đại nhân mà còn là bài học sâu sắc về nhân sinh, đáng để hậu thế suy ngẫm và trân trọng.
Câu 1 : Thể thơ Thất ngôn bát cú đương luật
Câu 2 : Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc , thanh cao của tác giả :
- " Một mai,một cuốc,một cần câu" - hình ảnh giản dị của một người ẩn sĩ,sống hòa mình vào thiên nhiên
- " Thu ăn măng trúc , đông ăn giá" - các món ăn dân dã , bình dị và gần gũi với thiên nhiên
- "Xuân tắm hồ ao sen , hạ tắm ao " - cuộc sống giản dị , ung dung tự tại , hào hợp với thiên nhiên xung quanh , không cầu kì , xa hoa.
Câu 3 :
BPTT : Liệt kê - liệt kê các vật dụng lao động gắn liền với con người và gần gũi với thiên nhiên : mai , cuốc, cần câu
- Tác dụng : Làm tăng sức gợi hình gợi cảm.Nhấn mạnh cuộc sống giản dị , đạm bạc và hòa hợp với thiên nhiên của tác giả. Thể hiện lối sống ung dung , thong thả đối lập với cuộc sống tấp lập , bon chen của cuộc đời và không bị ràng buộc bởi danh lợi của tác giả
Câu 4 :
"Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao"
Nguyễn Bỉnh Khiêm cho rằng người "dại" là người lựa chọn cuộc sống bình yên, xa rời danh lợi, tìm đến chốn "vắng vẻ". Ngược lại, người "khôn" lại chạy theo danh vọng, sống trong vòng xoáy bon chen của chốn "lao xao". Ở đây, tác giả sử dụng lối nói ngược để bày tỏ quan điểm: cái "dại" thực chất lại là cái "khôn" vì giúp con người sống an nhiên, thanh thản, không bị cuốn vào những tranh giành, toan tính.
Câu 5 :
Bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khắc họa vẻ đẹp nhân cách cao quý của một bậc hiền triết, sống thanh cao và giản dị. Trước hết, ông là người có lối sống gần gũi với thiên nhiên, xem cuộc sống điền viên thanh bạch là chân giá trị của hạnh phúc.Lối sống ấy không chỉ là sự ẩn dật đơn thuần mà còn là sự lựa chọn có ý thức của một người hiểu rõ thời thế. Nguyễn Bỉnh Khiêm không màng danh lợi, tránh xa vòng danh vọng bon chen, giữ gìn phẩm giá trong sạch giữa thời cuộc đầy biến động. Quan niệm sống "nhàn" của ông không phải là trốn tránh trách nhiệm mà thể hiện trí tuệ minh triết của một bậc hiền triết, biết đủ, biết an phận, giữ vững khí tiết.Đó mới chính là cuộc sống của một nhà trí tuệ lớn.
Câu 1 :
Nguyễn Trãi, với tài năng chính trị và văn chương kiệt xuất, đã thể hiện nghệ thuật lập luận sắc bén trong Chiếu cầu hiền tài, góp phần thuyết phục vua Lê Thái Tổ cũng như nhân sĩ đương thời về tầm quan trọng của hiền tài đối với quốc gia. Trước hết, bố cục bài chiếu chặt chẽ, lập luận logic. Nguyễn Trãi mở đầu bằng việc khẳng định vai trò của hiền tài, sau đó dùng các dẫn chứng lịch sử để củng cố luận điểm, rồi mới đi đến lời kêu gọi cụ thể. Điều này giúp bài chiếu có tính thuyết phục cao, tạo sức ảnh hưởng lớn. Ngoài ra, ông sử dụng hàng loạt dẫn chứng thuyết phục từ lịch sử Trung Quốc và Việt Nam. Những vị vua như Hán Cao Tổ, Đường Thái Tông đều thành công nhờ biết trọng dụng nhân tài. Đây là những minh chứng không thể chối cãi, khiến người đọc nhận ra chiêu hiền đãi sĩ là con đường tất yếu để xây dựng đất nước. Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi còn khéo léo kết hợp lý lẽ với tình cảm. Ông không chỉ lập luận sắc bén mà còn thể hiện sự chân thành khi nhấn mạnh đất nước mới giành độc lập, nhân dân còn khổ cực, cần sự chung tay góp sức của kẻ sĩ. Cách viết này khơi gợi lòng yêu nước và trách nhiệm của người hiền tài. Cuối cùng, nghệ thuật lập luận của Nguyễn Trãi còn thể hiện ở giọng văn trang trọng, mạnh mẽ nhưng cũng đầy tha thiết. Ông vừa thể hiện sự cứng rắn của một người lo quốc sự, vừa thể hiện tấm lòng chân thành, khiêm tốn của triều đình khi mong muốn nhân tài ra giúp nước. Nhờ nghệ thuật lập luận chặt chẽ, kết hợp lý lẽ sắc bén với cảm xúc chân thành, bài Chiếu cầu hiền tài không chỉ có giá trị trong việc kêu gọi nhân tài thời bấy giờ mà còn trở thành một áng văn chính luận mẫu mực của nền văn học Việt Nam.
Câu 2 :
Từ lâu nay, nhân tài luôn được xem là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển một đất nước . Một quốc gia thịnh vượng không thể thiếu đội ngũ tri thức giỏi , sáng tạo và tận tâm . Tuy nhiên Việt Nam đng đối mặt với một thực trạng đáng suy ngẫm . Đó là ngày càng nhiều các trí thức , chuyên gia , nhà khoa học trẻ lựa chon ra nước ngoài học tập , làm việc và phát triển thay vì ở lại với quê hương đất nước để cống hiến vf phát triển nó. Hiện tượng này có thể gọi là " Chảy máu chất xám " - một vấn đề nhức nhối được đặt ra , là bài toán khó cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này. Thứ nhất, cơ hội việc làm và thu nhập tại Việt Nam chưa thực sự hấp dẫn so với các nước phát triển. Mức lương thấp, thiếu cơ hội thăng tiến, môi trường làm việc chưa chuyên nghiệp khiến nhiều người tài cảm thấy bị bó buộc và tìm kiếm những chân trời mới. Thứ hai, hệ thống giáo dục và đào tạo ở Việt Nam, dù đã có nhiều cải thiện, vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động. Sự thiếu hụt về trang thiết bị hiện đại, chương trình đào tạo chưa cập nhật, thiếu sự liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp dẫn đến việc sinh viên tốt nghiệp ra trường khó tìm được việc làm phù hợp. Thứ ba, chính sách thu hút và giữ chân nhân tài của Việt Nam còn nhiều bất cập. Chính sách chưa đủ hấp dẫn, thủ tục hành chính rườm rà, thiếu sự hỗ trợ về nhà ở, y tế, giáo dục cho người lao động khiến nhiều người tài cảm thấy chán nản và lựa chọn ra đi.
“Chảy máu chất xám” gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Việt Nam mất đi nguồn nhân lực chất lượng cao, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Sự thiếu hụt nhân tài trong các lĩnh vực then chốt như công nghệ thông tin, y tế, giáo dục… sẽ làm chậm quá trình hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước. Để khắc phục tình trạng này, cần có những giải pháp đồng bộ và quyết liệt. Đầu tiên, là cần cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển, từ đó tạo ra nhiều việc làm có thu nhập cao và cơ hội thăng tiến cho người lao động. Thứ hai, cần cải cách hệ thống giáo dục và đào tạo, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Cần tăng cường hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp, tạo điều kiện cho sinh viên thực tập và làm việc tại các doanh nghiệp lớn. Thứ ba, cần có chính sách thu hút và giữ chân nhân tài hiệu quả hơn, tạo điều kiện thuận lợi về nhà ở, y tế, giáo dục cho người lao động. Cần đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp và thân thiện.
Chảy máu chất xám không chỉ là một vấn đề của riêng Việt Nam mà còn là thách thức chung của nhiều quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên, nếu không có giải pháp kịp thời và hiệu quả, đất nước sẽ đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, làm chậm quá trình phát triển kinh tế, khoa học và công nghệ.Chỉ khi mọi yếu tố cùng kết hợp, Việt Nam mới có thể từng bước hạn chế chảy máu chất xám, thu hút nhân tài trở về và xây dựng một nền kinh tế tri thức vững mạnh, tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững trong tương lai.
Câu 1 : Nghị luận
Câu 2 : Vua Lê Thái Tổ
Câu 3:
- Mục đích chính của văn bản là:
+ Tìm kiếm nhân tài để phục vụ cho công cuộc củng cố chính quyền, phát triển đất nước.
+ Khẳng định vai trò của hiền tài, nhấn mạnh rằng người tài là "nguyên khí quốc gia", quyết định sự thịnh suy của đất nước.
+ Thể hiện tầm nhìn chiến lược của vua Quang Trung trong việc sử dụng nhân tài để xây dựng một chính quyền vững mạnh.
+ Bày tỏ thiện chí và sự trân trọng của nhà vua đối với những người có tài, tạo động lực để họ cống hiến.
-Đường lối tiến cử
+ Trọng dụng nhân tài bất kể xuất thân , không phân biệt quê quán , giai cấp.
+ Tạo môi trường thuận lợi để người tài phát triển năng lực
+ Đối xử công bằng ,ban thưởng xứng đáng cho người tài, lắng nghe ý kiến của họ.
Câu 4:
- dẫn chứng
+ Các quan đời Hán Đường như Tiêu Hà , Nguy Vô TRi , Địch Nhân Kiệt ,..
+ Những vị vua thành công đều là những người dùng nhân tài đúng cách.
+ Đất nước vừa trải qua chiến tranh , cần người tài để phát triển đất nước .
+ nếu không có nhân tài , việc cai trị đất nước sẽ khó khăn , đất nước khó thịnh vượng
- Nhận xét : Dẫn chứng có tính thuyết phục cao khi sử dụng sự kiện lịch sử làm bằng chứng.Sắp xếp hợp lí , liên hệ chặt chẽ với thực trạng đất nước , mang tính thực tiễn làm tăng sức thuyết phục với người đọc .
Câu 5 :
-Bài chiếu đã thể hiện phẩm chất của một bậc minh quân có tầm nhìn chiến lược cao , yêu nước, trọng dụng nhân tài, biết lắng nghe và khiêm tốn. Đây chính là những yếu tố giúp Lê Thái Tổ xây dựng một triều đại vững mạnh ngay sau khi giành được độc lập.Điều này cho thấy ông là một vị vua sáng suốt , biết dùng người đúng chỗ .