Hoàng Thùy Linh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Hoàng Thùy Linh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Trong văn bản "Áo Tết", nhân vật bé Em là một cô bé có sự thay đổi nhận thức sâu sắc về giá trị vật chất và tinh thần. Ban đầu, bé Em rất mong muốn có một chiếc áo đầm mới để diện Tết, thể hiện sự khao khát vật chất rất đỗi bình thường của một đứa trẻ. Tuy nhiên, khi đối diện với hoàn cảnh khó khăn của bạn mình, bé Em đã bộc lộ sự đồng cảm và lòng nhân hậu. Đỉnh điểm là việc bé Em quyết định nhường lại cơ hội có áo mới để giúp đỡ bạn, cho thấy bé đã nhận ra rằng tình bạn chân thành và sự sẻ chia còn quan trọng hơn một chiếc áo đầm. Sự trưởng thành trong suy nghĩ của bé Em là bài học ý nghĩa về việc cân bằng giữa vật chất và tinh thần trong cuộc sống. 




Câu 1:

Thể loại truyện ngắn

Câu 2:

Tình bạn trong sáng của trẻ em và sự sẻ chia chân thành trong cuộc sống, thể hiện qua câu chuyện bé Em nhường áo Tết cho bạn Bích.

Câu 3:

Sự thay đổi điểm nhìn: Văn bản chuyển linh hoạt giữa điểm nhìn của người kể chuyệnđiểm nhìn của nhân vật(đặc biệt là bé Em).

Tác dụng:

  • Giúp câu chuyện trở nên sinh động, chân thực hơn.
  • Làm nổi bật suy nghĩ, cảm xúc hồn nhiên của bé Em.
  • Tăng chiều sâu cho chủ đề về tình bạn và sự hy sinh.


Câu 4:

Chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu, mang nhiều tầng ý nghĩa:

  • Là món quà Tết mà bé Em ao ước, tượng trưng cho niềm vui trẻ thơ.
  • Khi bé Em nhường áo cho bạn Bích, chiếc áo trở thành biểu tượng của tấm lòng nhân hậu, sự sẻ chia và tình bạn thật đẹp.
  • Qua đó, tính cách nhân vật hiện lên: bé Em hồn nhiên, giàu lòng thương người, Bích thì trân trọng tình bạn, biết quý sự tốt bụng của bạn.

Câu 5 :

Từ câu chuyện của bé Em và bé Bích, em học được rằng tình bạn đẹp bắt nguồn từ sự chân thành và biết nghĩ cho nhau. Sẻ chia không chỉ nằm ở giá trị vật chất mà quan trọng hơn là tấm lòng. Khi sẵn sàng giúp đỡ bạn, ta không chỉ mang niềm vui đến cho người khác mà chính bản thân cũng trở nên tốt đẹp hơn. Tình bạn thực sự không đo bằng sự giàu nghèo, mà bằng tình cảm yêu thương và sự trân trọng lẫn nhau.


Trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu đã trở thành vấn đề cấp bách mang tính toàn cầu. Nhận định của cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama: “Biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại” không chỉ thể hiện tầm nhìn sâu sắc mà còn là lời cảnh tỉnh mạnh mẽ dành cho toàn thế giới. Đây là một quan điểm hoàn toàn đúng đắn và giàu tính thời sự, bởi những tác động của biến đổi khí hậu đang ngày càng rõ rệt, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của con người và Trái Đất.

Trước hết, biến đổi khí hậu đe dọa nghiêm trọng đến môi trường sống tự nhiên. Nhiệt độ toàn cầu tăng lên khiến băng tan ở hai cực, nước biển dâng, gây ra ngập lụt ở nhiều vùng ven biển và đảo quốc. Hàng nghìn loài sinh vật bị mất nơi cư trú, hệ sinh thái bị phá vỡ, kéo theo sự suy giảm đa dạng sinh học. Các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão lũ, hạn hán, cháy rừng, nắng nóng kéo dài xảy ra với tần suất và mức độ mạnh hơn, gây thiệt hại nặng nề về tài sản, mùa màng và con người. Đây chính là một trong những minh chứng rõ rệt nhất cho thấy biến đổi khí hậu thực sự là một thách thức lớn đối với nhân loại.

Không chỉ ảnh hưởng đến môi trường, biến đổi khí hậu còn tác động trực tiếp đến kinh tế và đời sống xã hội. Ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước nghèo, người dân phải đối mặt với thiếu nước sạch, mất an ninh lương thực do hạn hán và sa mạc hóa. Nông nghiệp – ngành sinh kế chính của hàng tỉ người – bị suy giảm năng suất nghiêm trọng. Hậu quả là kinh tế trì trệ, đói nghèo gia tăng, nhiều vùng buộc phải di dân vì không còn điều kiện sống. Biến đổi khí hậu cũng làm bùng phát nhiều dịch bệnh mới do sự thay đổi khí hậu tạo điều kiện cho vi khuẩn, virus lan rộng nhanh hơn. Những tác động dây chuyền này khiến nó trở thành vấn đề mang tính sống còn đối với sự phát triển bền vững của thế giới.

Tuy nhiên, điều đáng lo ngại nhất chính là nguyên nhân gây nên biến đổi khí hậu lại xuất phát từ con người: khai thác tài nguyên quá mức, phá rừng, phát thải khí nhà kính từ giao thông và sản xuất. Vì vậy, biến đổi khí hậu không chỉ là thách thức tự nhiên mà còn là trách nhiệm của toàn nhân loại. Để vượt qua thách thức này, mỗi quốc gia cần có chính sách phát triển bền vững, cắt giảm khí thải, sử dụng năng lượng tái tạo, bảo vệ rừng và tài nguyên thiên nhiên. Mỗi cá nhân cũng cần hành động từ những việc nhỏ nhất như tiết kiệm điện nước, hạn chế rác thải nhựa, trồng cây, sử dụng phương tiện thân thiện với môi trường.

Từ những phân tích trên, có thể khẳng định rằng nhận định của Obama là hoàn toàn xác đáng. Biến đổi khí hậu không chỉ là vấn đề của hôm nay mà là mối đe dọa trực tiếp đến tương lai của cả nhân loại. Chúng ta không thể chờ đợi hay đứng ngoài cuộc, bởi bảo vệ môi trường chính là bảo vệ cuộc sống của chính chúng ta và các thế hệ mai sau. Chỉ khi toàn thế giới chung tay hành động, nhân loại mới có thể vượt qua thách thức lớn nhất này


Câu 1 :

Phương thức biểt đạt chính : Nghị luận

Câu 2 :

Người viết thể hiện sự đồng cảm sâu sắc, niềm trân trọng và yêu mến đối với vẻ đẹp trữ tình, buồn bâng khuâng của dòng “tràng giang”.

Câu 3:

Tràng giang không dùng các ước lệ, điển cố như thơ xưa, mà lấy cảnh thực rất giản dị – sóng nước, cồn bãi, gió – để tạo nên nỗi buồn mênh mang.

Câu 4 :

Tác giả phân tích:

  • hệ thống tính từ: “miên man”, “điệp điệp”, “lơ thơ”, “điêu tàn”,…
  • động từ gợi chuyển động: “trôi”, “lặng lờ”, “xuôi”…
  • nhịp thơ chậm rãi, câu thơ có nhiều âm vang kéo dài.

Câu 5:

Em ấn tượng nhất với nỗi buồn mênh mang và vẻ đẹp cổ điển – hiện đại đan xen của bài thơ. Bởi bài thơ chỉ dùng những hình ảnh rất quen thuộc của đời sống nhưng gợi được một không gian rộng lớn, vắng lặng, thấm đượm tâm trạng cô đơn của con người. Sự giản dị mà giàu sức gợi ấy làm bài thơ trở nên độc đáo và giàu chiều sâu.

Câu 1: 

    Nhân vật Bê-li-cốp trong tác phẩm của Sê-khốp là một hình tượng tiêu biểu cho con người sống trong sự sợ hãi, thu mình trong vỏ bọc bảo thủ và giáo điều. Ông ta luôn tuân thủ mọi quy tắc một cách cứng nhắc, sợ hãi trước mọi thay đổi và luôn tìm cách sống theo khuôn khổ áp đặt. Sự rụt rè, bảo thủ của Bê-li-cốp không chỉ thể hiện qua lối sống mà còn qua cả ngoại hình: luôn mặc áo bành tô, đi giày cao su, đeo kính râm và cất mọi thứ vào trong hộp. Chính lối sống thu mình đó khiến ông ta trở thành biểu tượng của những con người hèn nhát, bị trói buộc bởi tư tưởng cũ kỹ. Tuy nhiên, cái chết của Bê-li-cốp lại cho thấy một sự giải thoát, không chỉ cho ông ta mà còn cho cả những người xung quanh. Qua nhân vật này, Sê-khốp đã lên án lối sống tù túng, giáo điều, đồng thời gửi gắm thông điệp về sự cần thiết của việc bước ra khỏi "chiếc vỏ" an toàn để sống một cuộc đời ý nghĩa hơn.

Câu 2: 

   Cuộc sống là một vòng tuần hoàn không ngừng thay đổi, và nếu chúng ta cứ mãi sống gò bó trong khuôn mẫu, trong chiếc vỏ bọc do chính mình tạo ra, ta sẽ không thể phát triển và tiến bộ hơn. Do đó, những người trẻ tuổi cần mạnh dạn "thoát ra khỏi vùng an toàn của mình". Vùng an toàn là giới hạn mà mỗi người tự đặt ra, nơi họ sống thoải mái, bình yên mà không có bất kỳ sự thay đổi hay đột phá nào. Đây là môi trường quen thuộc, không có những áp lực nặng nề hay mạo hiểm, nơi con người có thể kiểm soát mọi vấn đề xảy ra.

Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng phần lớn những người sống trong vùng an toàn của mình mà không dám thoát ra là thế hệ trẻ. Đây là một vấn đề rất đáng lo ngại. Tuổi trẻ là khoảng thời gian tươi đẹp nhất, chúng ta có năng lượng, có thời gian, và hơn hết chúng ta có thừa khả năng học hỏi những điều mới mẻ. Vậy tại sao lại chôn vùi khả năng đó trong chiếc vỏ bọc vô hình của bản thân?

Con đường đời của mỗi người chưa bao giờ là bằng phẳng, vì vậy chúng ta cần chấp nhận thực tế và mở rộng vùng an toàn của mình. Khi thoát ra khỏi vùng an toàn, chúng ta sẽ tích lũy được nguồn kiến thức phong phú, những bài học kinh nghiệm đầy giá trị làm nền tảng cho sự bứt phá trong những lĩnh vực mới, những hướng đi mới. Bước ra khỏi ranh giới của bản thân nghĩa là ta đã hoàn toàn sống độc lập, có khả năng xử lý và giải quyết những tình huống khó khăn, những sóng gió bất ngờ ập đến trên con đường đến đỉnh vinh quang.

Khi phá vỡ bức tường an toàn, chắc chắn sẽ có những lúc chúng ta cảm thấy yếu lòng, mệt mỏi hay choáng ngợp vì những thay đổi lớn, nhưng đó sẽ là cơ sở để chúng ta rèn luyện tính nhẫn nại, kiên trì bền bỉ, không vì chút khó khăn mà nản lòng hay từ bỏ giữa chừng.

 

Câu chuyện của nữ doanh nhân Hồ Ngọc Trâm là một minh chứng tiêu biểu. Chị đã dám từ bỏ vị trí quản lý nhân sự cấp cao của một công ty nước ngoài để bắt đầu công việc yêu thích của mình là xây dựng nông trại cung cấp nông sản sạch, một công việc hoàn toàn xa lạ với chuyên ngành của chị. Quá trình ấy không hề dễ dàng nhưng chị đã rất thành công, minh chứng cho việc dám thoát ra khỏi vùng an toàn và thực hiện những điều mới mẻ.

Trái với những tấm gương tiêu biểu ấy, ta vẫn thường bắt gặp nhiều thanh niên trẻ vì ngại bị từ chối mà không dám nộp hồ sơ vào các công ty lớn hay sống một cuộc sống lặp đi lặp lại theo quy củ, không có gì đột phá, không có gì thay đổi. Đó là những người suốt cuộc đời chỉ có thể dậm chân tại chỗ, chấp nhận cuộc sống tẻ nhạt và thậm chí là không thể thành công.

Cuộc sống muôn hình vạn trạng, không ai biết trước được điều gì sẽ xảy ra. Vì vậy, tuổi trẻ chúng ta hãy tập cho mình lối sống hòa nhập với những điều mới, hãy bước khỏi vùng an toàn của bản thân để trở thành những người bản lĩnh, kiên cường, tràn đầy kinh nghiệm và lòng nhiệt huyết. Chỉ khi dám đối mặt và vượt qua những thử thách, chúng ta mới có thể phát triển toàn diện và đạt được những thành công đáng kể trong cuộc sống.

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: Tự sự 

Câu 2: Nhân vật trung tâm là : Bê-li-cốp

Câu3: Ngôi kể :Ngôi thứ ba

Tác dụng: Giúp câu chuyện khách quan, tái hiện rõ nét hình ảnh nhân vật và bầu không khí xã hội, đồng thời thể hiện quan điểm của tác giác về nhân vật Bê-li-cốp và thực trạng xã hội bấy giờ. 
Câu 3: Những chi tiết miêu tả chân dung nhân vật Bê-li-cốp: 

-Đi giày cao su, cầm ô, mặc áo bành tô ấm cốt bông.

-Bộ mặt dường như cũng ở trong bao, giấu mặt sau chiếc cổ áo

- Đeo kính râm, mặc áo bông chần, lỗ tai nhét bông

-Luôn thu mình vào trong

Nhan đề thể hiện: Hình ảnh "bao" tượng trung cho lối sống thu mình,bảo thủ, sợ hãi, giam cầm bản thên trong những quy tắc cứng nhắc. Không chỉ Bê-li-cốp mà còn nhiều người khác trong xã hội cũng bị trói buộc bởi những định kiến, luật lệ vô lí.

Câu5: Bài học : Lên án lối sống khép mình,bảo thủ, bị trói buộc bởi những quy tắc cứng nhắc.Cảnh báo con người không nên để nỗi sợ hãi chi phối cuộc sống,cần mạnh dạn thoát khỏi "cái bao" vô hình.Kêu gọi lối sống tự do, dũng cảm,cởi mở để cuộc sống trở nên ý nghĩa hơn. 

 

Câu 1 : 

Nguyễn Trãi là một bậc đại trí, không chỉ giỏi về chính trị, quân sự mà còn có tài lập luận sắc bén. Trong "chiếu cầu hiền tài"ông đã thể hiện nghệ thuật lập luận thuyết phục nhằm kêu gọi nhân tài ra giúp nước.Trước hết, Nguyễn Trãi sử dụng lối lập luận chặt chẽ, có sức thuyết phục cao. Ông bắt đầu bằng cách khẳng định vai trò quan trọng của hiền tài đối với quốc gia, đưa ra các dẫn chứng lịch sử để làm rõ bài học từ các triều đại trước. Ông lập luận theo trình tự lô-gic: nêu vấn đề - phân tích nhân vật -kêu gọi giải pháp.Bên cạnh đó, tác giả sử dụng nhiều phép lập luận quen thuộc như so sánh,đối lập. khích lệ .Ông nhấn mạnh rằng việc trọng dụng hiền tài là điều tất yếu để giữ vững nền thái bình. Đặc biệt, giọng văn vừa tha thiết, vừa cứng rắn thể hiện tấm lòng yêu nước chân thành và quyết tâm tìm kiếm nhân tài vì lợi ích đất nước.Cuối cùng, Nguyễn Trãi dùng những lời lẽ chân thành, mang tính thuyết phục cao. Ông không chỉ ra lệnh mà còn thể hiện sự trân trọng, khiêm nhường với hiền tài, cho thấy tư duy chính trị sâu sắc của một bậc đại thần. Nhờ nghệ thuật lập luận sắc bén, "Chiếu cầu hiền tài" khônh chỉ là một văn bản chính trị mà còn là một áng văn bất hủ về quan điểm trọng dụng nhân tài, vẫn còn nguyên giá trị đến ngày nay.

Câu 2: 

Hiền tài là nguồn sức mạnh của một quốc gia." Tuy nhiên, trong bối cảnh xã hội hiện nay, chúng ta đang chứng kiến một hiện tượng đáng báo động, đó chính là tình trạng "chảy máu chất xám" ở Việt Nam đang diễn ra vô cùng phức tạp. Thuật ngữ "chảy máu chất xám" được sử dụng để ám chỉ tình trạng nhân tài và trí thức - "chất xám" của Việt Nam đang có xu hướng định cư và làm việc hết sức nhiều cho lợi ích của các quốc gia nước ngoài thay vì đóng góp cho cộng đồng và dân tộc của mình.

Gần đây, thông tin về những người xuất sắc từ chương trình "Đường lên đỉnh Olympia" đa số sau khi du học ở nước ngoài đã quyết định ở lại và định cư tại đó, đã đặt ra một dấu hỏi nghiêm túc về tình hình chảy máu chất xám ở Việt Nam. Nguyên nhân của tình trạng này có thể được tìm thấy ở cả hai phía, từ chủ quan đến khách quan.

Chủ quan xuất phát từ ý thức cá nhân của trí thức, có thể có sự thiếu nhận thức về trách nhiệm của họ đối với cộng đồng và quốc gia, thường chú trọng đến sự phát triển cá nhân mà quên đi mục tiêu cống hiến cho lợi ích chung. Bên cạnh đó, cần xem xét cả khía cạnh của chế độ đãi ngộ nhân tài ở Việt Nam, mà thường có giới hạn và không tương xứng với đóng góp của họ. Nhiều tư duy còn lạc hậu khiến họ cảm thấy không được thúc đẩy và buộc phải tìm kiếm cơ hội ở nước ngoài.

Dù các nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp... có môi trường học tập và làm việc tốt, chúng ta không nên quên rằng đất nước Việt Nam mới chính là nơi đã nuôi dưỡng chúng ta trưởng thành. Vì vậy, chúng ta cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc xây dựng và phát triển đất nước. Hãy kết hợp một cách hài hòa giữa việc học hỏi từ thành tựu của nước ngoài và cống hiến cho dân tộc của mình. Chỉ khi đó, đất nước ta mới có cơ hội phát triển mạnh mẽ và thực hiện ước mơ trở thành một cường quốc, như lý tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

 

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính : Nghị luận 

Câu 2: Chủ thể bài viết: Vua Lê Lợi 

Câu 3 : Mục đích chính của văn bản là kêu gọi việc tiến cử và tiến cử người hiền tài để giúp vua Lê Lợi xây dựng đất nước.

Những đường lối: - Các văn võ đại thần, công hầu, đại phu từ tam phẩm trở đều phải cử người có tài, bất kể là ở triều đình hay thôn dã, đã xuất sĩ hay chưa. Người có kinh luân mà bị khuất hoặc hào kiệt náu mình nới thôn quê, binh lính cũng có thể tiến cử. Những người tiến cử hiền tãi sẽ có thưởng. 
Câu 4: Dẫn chứng: Người viết nêu ra những tấm gương điển hình từ thời Hán và Đường:Tiêu Hà tiến cử Tào Tham, Nguy Vô Tri tiến cử Trần Binh,Địch Nhân Kiệt tiến cử Trương Cửu Linh,Tiêu Tung tiến cử Hàn Hưu.

Nhận xét: Các dẫn chứng được chọn lọc kĩ lưỡng, có tính điển hình cao và phù hợp với bối cảnh nghị luận. Tác giải không chỉ kể tren mà còn nhấn mạnh vai trò của việc tiến cử trong sự thành công của các triều đại, từ đó tăng tính thuyết phục. 
Câu 5: Vua Lê lợi tự nhận trách nhiệm nặng nề trong việc trị quốc và luôn mong muốn tìm người hiền tài giúp sức. Ông khônh cáu nệ tiểu tiết, sẵn sàng chấp nhận tất cả những người tự tiến cử. Là người sáng suốt và công bằng, đưa ra chính sách thưởng phạt rõ ràng trong việc tiến cử hiền tài, dự trên tài năng và mức độ. Vua Lê lợi quan tâm đến hiền tài, hiểu rõ vai trò quan trọng của nhân tài trong việc xây dựng đất mước và sẵn lòng trọng dụng người tài từ mọi tầng lớp.

Câu 1:

Mỗi người có một cuộc sống riêng, một con đường riêng để hoàn thiện và phát triển bản thân. Chính vì thế, chúng ta cần sống có định hướng và chủ động trong cuộc sống của bản thân mình. Chủ động trong cuộc sống bản thân là việc chúng ta luôn biết làm chủ cuộc sống của mình, đề ra mục tiêu và thực hiện chúng một cách hoàn thiện, không để người khác phải nhắc nhở những công việc liên quan đến bản thân mình. Chủ động trong cuộc sống bản thân có ý nghĩa to lớn đối với cuộc sống con người, nó làm cho con người năng động hơn, sáng tạo hơn, giúp ích rất nhiều cho cuộc sống. Cuộc sống này luôn tồn tại đầy rẫy những bất ngờ, thuận lợi và khó khăn. Con người vì thế rất cần sự chủ động để có tâm thế vững vàng khi đứng trước phong ba của cuộc đời và tạo lập cho mình thói quen chủ động trong tất cả lĩnh vực của cuộc sống. Việc sống ở thế chủ động sẽ giúp con người nắm bắt được cơ hội, cục diện tốt hơn, từ đó tạo ra những thành công cho bản thân mình và hạn chế được những tình huống bất ngờ, những ảnh hưởng tâm lí khi sự việc ập đến. Để phát triển sự chủ động trong con người chúng ta cần phải đặt ra cho mình những mục tiêu, kế hoạch sống rõ ràng, quyết đoán trong suy nghĩ và hành động, có tinh thần cầu tiến và thái độ học hỏi và không quay đầu trước mọi khó khăn, thử thách. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần phê phán những con người có lối sống dựa dẫm vào người khác, không cố gắng vươn lên, không làm chủ được cuộc sống của mình hoặc quá lười biếng, phó mặc cho số phận. Cuộc sống của mỗi người khác nhau và có tốt hơn hay không là cho chúng ta kiểm soát tư tưởng, hành động. Hãy trở thành một công dân tốt, có ích cho xã hội và tạo ra nhiều giá trị tốt đẹp hơn.
Câu 2:

     Nguyễn Trãi là một nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc song ông cũng là một nhà chính trị lỗi lạc, một người trung quân ái quốc. Sau những thăng trầm chốn quan trường ông đã quyết định trở về quê sống ẩn dật, giản dị của một Nho sĩ. Và ở nơi quê nhà ông đã cho ra đời những sáng tác hay về cuộc sống dân dã nhưng đầy niềm vui và ý nghĩa. Bài thơ "Bảo kính cảnh giới" là một trong những tác phẩm sáng tác trong thời gian ông lui về ở ẩn.

      Bài thơ "Bảo kính cảnh giới" viết về cuộc sống bình dị nơi thôn dã của Nguyễn Trãi cũng thể hiện được tác phong ung dung, bình tĩnh, tự tại của nhà thơ trước những nhịp sống, nhịp vận động của thiên nhiên đất trời. Bài thơ vừa thể hiện được những nét đẹp tâm hồn của nhà thơ, đó là một thi nhân đầy nhạy cảm với tình yêu thiên nhiên da diết. Song đó cũng là một con người nhập thế, bởi dù đã trở về ở ẩn nơi quê nhà bình dị thì Nguyễn Trãi vẫn một lòng hướng thế sự,một lòng mong mọi người dân có cuộc sống bình yên, no đủ. 
     Ở câu thơ đầu tiên nhà thơ đã vẽ lên khung cảnh bình yên, tươi đẹo của cuộc sống dân dã, đồng thời cũng cho thấy được tâm trạng cùng tư thế tự tại của nhà thơ trong khung cảnh tươi đẹp đó: "Rồi hóng mát thuở ngày thường/ Hoè lục đùn đùn tán rợp giương".Ở trong hai câu thơ này phần nào đã hé mở bức tranh ngày hè đầy rực rỡ và tâm hồn đầy thư thái của thi nhân. Từ "Rồi" mà Nguyễn Trãi dùng ở đây hiểu theo nghĩa của sự rảnh rỗi, thời gian đầy tự do mà không vướng phải những công chuyện trần thế, chỉ an tâm thưởng ngoạn khung cảnh của thiên nhiên."Rồi hóng mát thuở ngày trường" câu thơ đã thể hiện được tư thế đầy tự do, tự tại của nhà thơ Nguyễn Trãi khi đang an nhàn mà đón nhật "bóng mát" của những ngày thường, đó chính là sự tươi mát, dịu nhẹ nơi tâm hồn, khác hẳn với cái nóng nực, bức bối đầu khó chịu nơi thị phi như chốn quan trường. Câu thơ vừa thể hiện được những đặc điểm về thời tiết , đó là sự mát mẻ nơi núi rừng, song đó cũng là sự thanh mát nơi tâm hồn khi nhà thơ không còn vưỡng bận chuyện chính sự. Trong cái không gian thoáng và mát mẻ ấy, nhà thơ có điều kiện quan sát những cảnh vật, sự sống xung quanh mình."Hoè lục đùn đùn tán rợp giương". "Hoè lục" là sắc xanh của những chiếc lá hoè."đùn đùn" vừa diễn tả được cái um tùm, xum xuê của tán lá,nhưng đồng thời cũng thể hiện được chiều vận động của những chiếc lá này. Những chiếc hoè dường như đang bảo nhau mà đùn lên xanh tốt, bóng của cây hoè cũng phủ bóng râm cho cả một vùng không gian "tán rợp giương". Và màu sắc tươi mới, rực rỡ của ngày hẻ không chỉ dừng lại ở cái sắc xanh của lá, nó còn được điểm xuyết bởi sắc đỏ của những bông  hoa thạch lựu, sự điểm xuyến này cành làm cho bức trang ngày hè tươi đẹp, tràn trề sức sống. "Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ/ Hồng liên trì đã tĩn mùi hương". Ta có thể thấy đây là những câu thơ đẹp nhất trong bài khi miêu tả về khung cảnh ngày hè đầy rực rỡ, tươi đẹp. "Thạch lựu" một loại hoa thường nở những ngày hè,vì vậy mà nhắc đến hoa thạch lựu thì người ta hay liên tưởng đến những ngày hè đầy tươi đẹp. "Hiên" tức là hiên nhà, có thể hiểu được rằng những bông hoa thạch lựu đỏ rực ngay trước hiên nhà. Nhà thơ Nguyễn Trãi còn sử dụng những động từ đầy sức biểu cảm, "phun" thể hiện sự lan toả, khuếch trương của sắc đỏ ấy trong khôn gian. Những bông hoa đỏ rực nở có xu hướng lan toả màu sắc vào không gian, vào tâm hồn người thi nhân, tạo ra những cảm giác vương vấn, rạo rực."Hồng liên trì đã tĩn mùi hương". Như vậy không chỉ có màu sắc danh của lá hoè, đỏ của những bông hoa thạch lựu mà bức tranh hè càng trở nên sống động và chán thực hơn nữa khi nhà thơ miêu tả hương thơm thoang thoảng của ao se.Vẫn là những động tự dùng để chỉ sự vận động "tĩn". Chính việc sử dụng các động từ để chỉ sự vẫn động của cảnh sắc,mùi hương này đã đem đến cho người đọc những cảm nhận chân thực và sống động nhất khung cảnh ngày hè tươi đẹp mà tác giả đã thể hiện qua bài thơ. "Lao xao chợ cá làng ngư phủ/ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương". Nhà thơ không chỉ đắm mình vào khung cảnh tươi đẹp mà ông còn vui với những niềm vui cuộc sống lao động. Nếu những câu thơ trên Nguyễn Trãi hướng về những cảnh đẹo ngày hè thì đến câu thơ này ông hướng đến vẻ đẹo của cuộc sống lao động của người dân thôn quê. "Lao xao" diễn tả hành động khẩn trương, tấp nập, và cái đối tượng của sự tấp nập, huyên náo đó chính là "chợ cá làng ngư phủ", đây là âm thanh đặc trưng của cuộc sống vui tươi,thanh bình."Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương", đó chính là tiếng đàn được phát ra từ tự nhiên. "cầm ve" tiếng động, âm thanh của những tiếng ve, đây cũng là âm thanh đặc trưng của ngày hè làm cho bức tranh hè thêm sinh động. "Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng/Dân giàu đủ khắp đòi phương". Hai câu thơ cuối đã thể hiện mong muốn, khát khai của nhà thơ về một cuộc sống đầy tươi đẹp của nhân dân. "Ngu cầm" là đàn của vua Nghiêu Thuấn, vị vua tài giỏi nhân đức, dưới sự trị vì của ông dân chúng có cuộc sống ấm no, đủ đầy. Ở đây Nguyễn Trãi đã mượn điểm tích Ngu cầm để thể hiện mong ước về một cuộc sống, về một phép nhiệm màu cho nhân dân được yên ấm, hạnh phúc. "Dân giàu đủ khắp đòi phương" đó chính là mong ước đầy nhân văn của nhà thơ. Nhà thơ mong cho dân khắp nơi đều sống sung túc, đầy đủ, không còn cảnh lầm than, đói khổ.

      Như vậy qua bài thơ "Bảo kính cảnh giới" ta cảm nhận được tâm hồn thanh bạch, tâm thế tự do tự tại của nhà thơ Nguyễn Trãi trước cành sắc ngày hè tươi đẹo nơi dân dã. Nhưng ta cũng thấy được nét đẹp tâm hồn củ nhà thơ, đó là tấm lòng trung quân ái quốc, yêu nước thương dân.