Hoàng Thị Thu
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Nhân vật bé Em trong văn bản “Áo Tết” là một cô bé ngoan ngoãn, hồn nhiên và giàu tình cảm. Bé rất háo hức chờ Tết vì mong được mặc chiếc áo đầm mới mà cha mẹ hứa mua. Niềm vui nhỏ bé ấy thể hiện sự ngây thơ, trong sáng của tuổi thơ. Tuy nhiên, khi thấy bạn Bích không có áo mới, bé Em đã biết nhường áo cho bạn. Hành động đó thể hiện tấm lòng nhân hậu, biết quan tâm và sẻ chia. Bé Em không chỉ đáng yêu mà còn là tấm gương sáng về tình bạn và lòng nhân ái. Qua nhân vật này, tác giả muốn gửi gắm thông điệp: trong cuộc sống, giá trị tinh thần và tình cảm chân thành quý giá hơn vật chất.
Câu 2:Trong cuộc sống hiện đại, con người ngày càng có nhiều nhu cầu vật chất. Tuy nhiên, nếu chỉ chạy theo của cải, ta dễ đánh mất những giá trị tinh thần quý báu như tình yêu thương, lòng nhân ái, tình bạn, sự sẻ chia. Câu chuyện “Áo Tết” cho ta thấy: bé Em nhận ra rằng tình bạn chân thành quan trọng hơn chiếc áo đầm mới. Đó là bài học sâu sắc về cách cân bằng giữa vật chất và tinh thần.
Câu 1:
Nhân vật bé Em trong văn bản “Áo Tết” là một cô bé ngoan ngoãn, hồn nhiên và giàu tình cảm. Bé rất háo hức chờ Tết vì mong được mặc chiếc áo đầm mới mà cha mẹ hứa mua. Niềm vui nhỏ bé ấy thể hiện sự ngây thơ, trong sáng của tuổi thơ. Tuy nhiên, khi thấy bạn Bích không có áo mới, bé Em đã biết nhường áo cho bạn. Hành động đó thể hiện tấm lòng nhân hậu, biết quan tâm và sẻ chia. Bé Em không chỉ đáng yêu mà còn là tấm gương sáng về tình bạn và lòng nhân ái. Qua nhân vật này, tác giả muốn gửi gắm thông điệp: trong cuộc sống, giá trị tinh thần và tình cảm chân thành quý giá hơn vật chất.
Câu 2:Trong cuộc sống hiện đại, con người ngày càng có nhiều nhu cầu vật chất. Tuy nhiên, nếu chỉ chạy theo của cải, ta dễ đánh mất những giá trị tinh thần quý báu như tình yêu thương, lòng nhân ái, tình bạn, sự sẻ chia. Câu chuyện “Áo Tết” cho ta thấy: bé Em nhận ra rằng tình bạn chân thành quan trọng hơn chiếc áo đầm mới. Đó là bài học sâu sắc về cách cân bằng giữa vật chất và tinh thần.
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì? Văn bản “Áo Tết” là truyện ngắn. Nó kể một câu chuyện đời thường, có tình huống và nhân vật, nhằm phản ánh tâm tư, cảm xúc của các nhân vật. Câu 2. Xác định đề tài của văn bản “Áo Tết”. Đề tài của văn bản là tình cảm gia đình, lòng yêu thương và sự quan tâm giữa cha mẹ và con cái trong dịp Tết. Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn. Trong truyện, điểm nhìn thay đổi từ bé Em (người kể chuyện) sang quan sát của bé Bích hoặc nhìn từ cha mẹ. Tác dụng: Việc thay đổi điểm nhìn giúp người đọc hiểu rõ tâm trạng, suy nghĩ và tình cảm của nhiều nhân vật, làm câu chuyện sống động và cảm động hơn. Câu 4. Phân tích ý nghĩa chi tiết chiếc áo đầm hồng. Chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu, thể hiện: 1. Tình yêu thương của cha mẹ: Cha mẹ muốn mua áo đẹp cho con để bé vui Tết. 2. Tính cách nhân vật: Qua việc bé Em háo hức và trân trọng chiếc áo, ta thấy bé hồn nhiên, trong sáng và biết quý trọng tình cảm gia đình. 3. Ý nghĩa biểu tượng: Chiếc áo hồng tượng trưng cho tình cảm ấm áp, sự quan tâm và niềm vui của tuổi thơ trong dịp Tết. Câu 5. Bài học về tình bạn và sự sẻ chia rút ra từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích. Bài học rút ra: Trong tình bạn, sự quan tâm, chia sẻ và biết nghĩ cho người khác là rất quan trọng. Khi ta biết chia sẻ niềm vui và giúp đỡ bạn bè, tình bạn sẽ trở nên gắn kết và đáng quý.
Câu 1:Đoạn trích khắc họa Bê-li-cốp là một nhân vật tiêu biểu cho sự trì trệ, bảo thủ và sợ hãi trước mọi thay đổi. Ông ta sống khép kín trong chiếc cặp, luôn tìm cách che chắn bản thân khỏi thế giới bên ngoài, thể hiện qua việc luôn mang theo chiếc cặp, mặc áo ấm kể cả mùa hè. Hành động này không chỉ là thói quen mà còn là biểu hiện của tâm lý sợ hãi, muốn tự bảo vệ mình khỏi những điều mới mẻ, khác lạ.
Bê-li-cốp không chỉ sợ hãi trước những thay đổi của xã hội mà còn sợ hãi cả những mối quan hệ xã hội. Ông ta luôn tìm cách kiểm soát mọi thứ xung quanh, từ việc em gái mình không được đi chơi đến việc phản đối những hành động tự do của người khác. Sự ghen ghét và đố kị của ông ta đối với những người sống cởi mở, tự do càng làm nổi bật tính cách bảo thủ, ích kỷ của nhân vật.Qua nhân vật Bê-li-cốp, tác giả muốn phản ánh hiện thực xã hội Nga cuối thế kỷ XIX, một xã hội đang dần chuyển mình nhưng vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư của chế độ phong kiến, những con người bảo thủ, sợ hãi trước sự đổi mới. Hình ảnh Bê-li-cốp trở thành biểu tượng cho sự trì trệ, lạc hậu, một lời cảnh tỉnh về sự nguy hiểm của việc đóng kín mình trước những thay đổi của thời đại.
Câu 2:Bước ra khỏi vùng an toàn là một trong những quyết định khó khăn nhưng cũng đầy ý nghĩa trong cuộc đời mỗi người. Vùng an toàn, với những thói quen, sự quen thuộc và cả sự bảo bọc, thường mang lại cảm giác thoải mái và an tâm. Tuy nhiên, chính sự an tâm đó đôi khi lại trở thành rào cản, ngăn cản chúng ta phát triển và khám phá tiềm năng bản thân. Bước ra khỏi vùng an toàn không chỉ là hành động dũng cảm vượt qua giới hạn bản thân, mà còn là chìa khóa mở ra những cơ hội mới, những trải nghiệm quý giá và sự trưởng thành toàn diệnViệc bước ra khỏi vùng an toàn thường đi kèm với những thách thức không nhỏ.
Ta phải đối mặt với sự lo lắng, sợ hãi, thậm chí là sự thất bại. Những điều chưa biết luôn ẩn chứa rủi ro, và việc bước vào một môi trường mới, một lĩnh vực mới đòi hỏi sự thích nghi và nỗ lực không ngừng. Tuy nhiên, chính những thách thức này lại là động lực thúc đẩy chúng ta phát triển. Chúng ta học cách giải quyết vấn đề, rèn luyện khả năng thích ứng và tự tin hơn trong việc đối mặt với khó khăn. Hơn nữa, bước ra khỏi vùng an toàn mở ra vô vàn cơ hội mới, từ việc khám phá những sở thích tiềm ẩn, đến việc mở rộng mạng lưới quan hệ và tìm kiếm những cơ hội nghề nghiệp tốt hơn..Quá trình bước ra khỏi vùng an toàn là một hành trình tự khám phá bản thân. Trong môi trường mới, chúng ta sẽ được tiếp xúc với những người, những việc và những trải nghiệm mới mẻ, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về điểm mạnh, điểm yếu và đam mê của mình. Chúng ta học cách lắng nghe chính mình, đưa ra quyết định độc lập và chịu trách nhiệm cho những lựa chọn của mình. Sự trưởng thành không chỉ đến từ thành công mà còn từ những vấp ngã, những bài học rút ra từ những trải nghiệm mới. Chính những khó khăn và thử thách đã giúp chúng ta mạnh mẽ hơn, bản lĩnh hơn và tự tin hơn vào khả năng của bản thân.Tóm lại, việc bước ra khỏi vùng an toàn là một quyết định quan trọng và cần thiết trong cuộc đời mỗi người. Mặc dù có những khó khăn và thách thức, nhưng những lợi ích mà nó mang lại là vô cùng to lớn. Nó giúp chúng ta phát triển bản thân, khám phá tiềm năng và sống một cuộc sống đầy màu sắc, ý nghĩa. Hãy mạnh dạn bước ra khỏi vùng an toàn của mình, đón nhận những thử thách và tận hưởng những trải nghiệm tuyệt vời mà cuộc sống mang lại. Đó chính là chìa khóa để chúng ta đạt được thành công và hạnh phúc đích thực.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích là tự sự, kết hợp với miêu tả và biểu cảm.
Câu 2: Nhân vật trung tâm của đoạn trích là Bê-li-cốp.
Câu 3: Đoạn trích được kể theo ngôi thứ ba. Tác dụng của ngôi kể này là tạo ra khoảng cách giữa người kể chuyện và nhân vật, giúp người đọc có cái nhìn khách quan hơn về nhân vật Bê-li-cốp và xã hội đương thời. Ngôi kể thứ ba cũng giúp tác giả dễ dàng miêu tả tâm lý, hành động của nhân vật một cách toàn diện.Câu 4: Những chi tiết miêu tả nhân vật Bê-li-cốp: Luôn mặc áo ấm, đội mũ, đeo găng tay, dù trời nóng nực; sống khép kín, sợ hãi mọi thứ mới mẻ, khác lạ; luôn tìm cách che chắn bản thân khỏi thế giới bên ngoài; có lối sống bảo thủ, lạc hậu. Tên truyện "Người trong bao" là một ẩn dụ, thể hiện lối sống khép kín, tù túng, sợ hãi sự thay đổi của Bê-li-cốp. Cái "bao" không chỉ là chiếc cặp mà còn là lớp vỏ bọc bảo thủ, lạc hậu, ngăn cách ông với cuộc sống hiện thực.
Câu 5: Bài học rút ra từ đoạn trích là: Cần phải sống cởi mở, tích cực, đón nhận những điều mới mẻ trong cuộc sống; không nên sống khép kín, bảo thủ, sợ hãi sự thay đổi; phải biết phá bỏ những rào cản, định kiến để sống một cuộc đời trọn vẹn và ý nghĩa. Đồng thời, đoạn trích cũng phê phán lối sống bảo thủ, lạc hậu, trì trệ của một bộ phận người trong xã hội.
Câu 2:Nhận định về vai trò của thế hệ trẻ với công cuộc xây dựng đất nước, chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước đến vài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em". Có thể nói thế hệ trẻ chính là lực lượng nòng cốt để đưa Việt Nam phát triển cùng năm châu, cường quốc. Tuy nhiên, hiện nay một thực trạngđáng buồn là tình trạng những nhân tài trẻ của Việt Nam có xu hướng định cư, sinh sống và làm việc ở nước ngoài, từ đó dẫn đến hiện tượng "Chảy máu chất xám". Hiểu một cách đơn giản, chảy máu chất xám là việc một số lượng lớn những nhân tài, trí thức rời Việt Nam để định cư và làm việc ở nước ngoài. "Chất xám" ở đây là cách nói hình tượng của trí tuệ, năng lực, khả năng sáng tạo của con người. Có rất nhiều bạn trẻ, những nhân tài của đất Việt sau khi học tập ở nước ngoài thì quyết định ở lại làm việc, cống hiến tài năng để tạo ra giá trị vật chất, của cải cho nước bạn thay vì về nước. Tình trạng "thất thoát" nhân tài làm cho Việt Nam rơi vào tình trạng thiếu nhântài trầm trọng, từ đó ảnh hưởng đến quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Nguyên nhân của tình trạng chảy máu chất xám có thể xét trên hai mặt chủ quan và khách quan. Về mặt chủ quan, xuất phát từ mong muốn được sống và làm việc trong môi trường tốt, thu nhập cao. Về khách quan, Việt Nam còn kém phát triển so với các nước tiến bộ, trong nước không có đủ điều kiện, chế độ đãi ngộ chưa phù hợp để người tài có thể bộc lộ tài năng và cống hiến hết mình. Để gây dựng một đất nước Việt Nam giàu đẹp, để những nhân tài nước Việt có điều kiện để phát huy tài năngthì nhà nước cần có những biện pháp chiêu mộ hiền tài phù hợp, tạo được điều kiện làm việc để thu hút họ. Mặt khác, mỗi người cũng cần phát huy tình yêu nước, tinh thần dân tộc để làm theo lời Bác, sẵn sàng cống hiến tài năng, sức lực để đưa đất nước đi lên.
Câu 1:
Câu 1:nghị luận
Câu 2:là Quang Trung
Câu 3: Nhằm kêu gọi nhân tài ra giúp nước, giúp vua trong công cuộc tái thiết xây dựng triều đại mới.
Những đường lối tiến cử người hiền tài được đề cập trong văn bản:
- Người tiến cử được thưởng vào bực thượng thưởng, theo như phép xưa.
- Tiến cử người có tài trung bình thì được thưởng thăng hai trật.
- Tiến cử người có tài đức đều trội hơn đời, thì được trọng thưởng.
Câu 4:
Để chứng minh luận điểm “khi có được nước rồi, việc đầu tiên vua cần làm là chọn người hiền tài về giúp cho đất nước”, người viết đã đưa ra dẫn chứng về việc vua Quang Trung sau khi đánh thắng quân Thanh đã “tập trung sức lực vào việc xây dựng đất nước, tổ chức lại chính quyền, tuyển chọn nhân tài, thực hiện nhiều chính sách tiến bộ”.
Cách nêu dẫn chứng của người viết rất thuyết phục vì dẫn chứng là một sự kiện lịch sử có thật, cụ thể, tiêu biểu và liên quan trực tiếp đến luận điểm. Việc nêu dẫn chứng này giúp người đọc dễ dàng hình dung và tin tưởng vào luận điểm của tác giả.
Câu 5:
Thông qua văn bản, ta thấy chủ thể bài viết là người có tư tưởng tiến bộ, đề cao vai trò của nhân tài trong việc xây dựng và phát triển đất nước. Họ có tầm nhìn xa trông rộng, hiểu được tầm quan trọng của việc lựa chọn và trọng dụng người tài để đưa đất nước phát triển thịnh vượng. Chủ thể bài viết cũng thể hiện sự am hiểu lịch sử và có khả năng phân tích, tổng hợp thông tin một cách sắc bén và logic.
Trong những ngày từ quan về ở ẩn tại Côn Sơn, Nguyễn Trãi đã viết nhiều bài thơ đặc sắc, trong số đó có bài số 43 trong chùm thơ Bảo kính cảnh giới. Bài thơ là bức tranh phong cảnh mùa hè độc đáo nhưng thấp thoáng là niềm tâm sự của tác giả.
Câu thơ đầu tiên, ta đọc lên thoáng qua sao có vẻ an nhàn, êm đềm thanh thoát đến thế:“
Rồi hóng mát thuở ngày trường”.Nguyễn Trãi kia! Ông đang ngồi dưới bóng cây nhàn nhã như hóng mát thật sự. Việc quân, việc nước chắc đã xong xuôi, ông mới trở về với cuộc sống đơn sơ, giản dị, mộc mạc mà chan hòa, gần gũi với thiên nhiên. Một số sách dịch là “Rỗi, hóng mát thuở ngày trường”. Nhưng “rỗi” hay “rồi” cũng đều gây sự chú ý cho người đọc. Rảnh rỗi, sự việc đều xong xuôi, đã qua rồi. “Ngày trường” lại làm tăng sự chú ý. Cả câu thơ không còn đơn giản là hình ảnh của Nguyễn Trãi ngồi hóng mát mà nó lại toát lên nỗi niềm, tâm sự của tác giả “Nhàn rỗi ta hóngmát cả một ngày dài”. Một xã hội đã bị suy yếu, nguyện vọng, ý chí của tác giả đã bị vùi lấp, không còn gì nữa, ông đành phải rời bỏ, từ quan để về ở ẩn, phải đành “hóng mát” cả ngày trường để vơi đi một tâm sự, một gánh nặng đang đè lên vai mình. Cả câu thơ thấp thoáng một tâm sự thầm kín, không còn là sự nhẹ nhàng thanh thản nữa.
Về với thiên nhiên, ông lại có cơ hội gần gũi với thiên nhiên hơn. Ông vui thú, say mê với vẻ đẹp của thiên nhiên.Hòe lục đùn đùn tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”
Cảnh mùa hè qua tâm hồn, tình cảm của ông, thiên nhiên bừng bừng sức sống. Cây hòe lớn lên nhanh, tán nó càng lớn dần lên có thể như một tấm trướng rộng căng ra giữa trời với cành lá xanh tươi. Những cây thạch lựu còn phun thức đỏ, ao sen tỏa hương, màu hồng của những cành, hoa điểm tô sắc thắm. Qua lăng kính của Nguyễn Trãi: sức sống vẫn bừng bừng, tràn đầy, cuộc đời là một vườn hoa, một khu vườn thiên nhiên muôn màu muôn vẻ. Cảnh vật như cổ tích có lẽ bởi nó được nhìn bằng con mắt của một thi sĩ đa cảm, giàu lòng ham sống với đời...Qua cảnh mùa hè, tình cảm của Nguyễn Trãi cũng thể hiện một cách sâu sắc:
“Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”.
“Chợ” là hình ảnh của sự thái bình trong tâm thức của người Việt. Chợ đông vui thì nước thái bình, thịnh trị, dân giàu đủ ấm no; chợ tan rã thì dễ gợi hình ảnh đất nước có biến có loạn, có giặc giã, có chiến tranh, đao binh... lại thêm tiếng ve kêu lúc chiều tà gợi lên cuộc sống nơi thôn dã. Chính những màu sắc nơi thôn dã này làm cho tình cảm ông thêm đậm đà sâu sắc và gợi lại ý tưởng mà ông đang đeo đuổi:
“Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương".“Dân giàu đủ", cuộc sống của người dân ngày càng ấm no, hạnh phúc là điều mà Nguyễn Trãi từng canh cánh và mong ước. Ở đây, ông đề cập đến Ngu cầm vì thời vua Nghiêu, vua Thuấn nổi tiếng là thái bình thịnh trị. Vua Thuấn có một khúc đàn “Nam Phong” gảy lên để ca ngợi nhân gian giàu đủ, sản xuất ra nhiều thóc lúa ngô khoai. Cho nên, tác giả muốn có một tiếng đàn của vua Thuấn lồng vào đời sống nhân dân để ca ngợi cuộc sống của nhân dân ấm no, vui tươi, tràn đầy âm thanh hạnh phúc. Những mơ ước ấy chứng tỏ Nguyễn Trãi là nhà thơ vĩ đại có một tấm lòng nhân đạo cao cả.Ông luôn nghĩ đến cuộc sống của nhân dân, chăm lo đến cuộc sống của họ. Đó là ước mơ vĩ đại. Có thể nói: dù triều đình có thể xua đuổi Nguyễn Trãi nhưng ông vẫn sống lạc quan yêu đời, mong sao cho ước vọng lí tưởng của mình được thực hiện để nhân dân có một cuộc sống ấm no.
Bài thơ này đã làm rõ nỗi niềm tâm sự của Nguyễn Trãi trong thời gian ở Côn Sơn với tấm lòng yêu nước thương dân vẫn ngày đêm “cuồn cuộn nước triều Đông”. Ông yêu thiên nhiên cây cỏ say đắm. Và có lẽ chính thiên nhiên đã cứu Nguyễn Trãi thoát khỏi những phút giây bi quan của cuộc đời mình.Dù sống với cuộc sống thiên nhiên nhưng Ức Trai vẫn canh cánh “một tấc lòng ưu ái cũ”. Nguyễn Trãi vẫn không quên lí tưởng nhân dân, lí tưởng nhân nghĩa, lí tưởng mong cho thôn cùng xóm vắng không có một tiếng oán than, đau sầu.
Câu 1. Thể thơ: thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2. Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả: ăn măng trúc, ăn giá, tắm hồ sen, tắm ao.
Câu 3:
– Biện pháp tu từ liệt kê: Một mai, một cuốc, một cần câu.
– Tác dụng:
+ Tạo sự cân xứng, nhịp nhàng, hài hòa cho lời thơ.+ Nhấn mạnh: sự lựa chọn phương châm sống, cách ứng xử của tác giả – chọn lối sống tĩnh tại, an nhàn; vừa thể hiện sắc thái trào lộng, mỉa mai đối với cách sống ham danh vọng, phú quý…
Câu 4:
Quan niệm khôn – dại của tác giả:
– Dại: “tìm nơi vắng vẻ” – nơi tĩnh tại của thiên nhiên, thảnh thơi của tâm hồn.
– Khôn: “đến chốn lao xao” – chốn cửa quyền bon chen, thủ đoạn sát phạt.
=> Đó là một cách nói ngược: khôn mà khôn dại, dại mà dại khôn của tác giả.
Câu 5:
Là người sống giản dị, thanh bạch.
– Là người có trí tuệ, cốt cách thanh cao.
– Là người bản lĩnh: coi thường danh lợi
Câu 1. Thể thơ: thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2. Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả: ăn măng trúc, ăn giá, tắm hồ sen, tắm ao.
Câu 3:
– Biện pháp tu từ liệt kê: Một mai, một cuốc, một cần câu.
– Tác dụng:
+ Tạo sự cân xứng, nhịp nhàng, hài hòa cho lời thơ.+ Nhấn mạnh: sự lựa chọn phương châm sống, cách ứng xử của tác giả – chọn lối sống tĩnh tại, an nhàn; vừa thể hiện sắc thái trào lộng, mỉa mai đối với cách sống ham danh vọng, phú quý…
Câu 4:
Quan niệm khôn – dại của tác giả:
– Dại: “tìm nơi vắng vẻ” – nơi tĩnh tại của thiên nhiên, thảnh thơi của tâm hồn.
– Khôn: “đến chốn lao xao” – chốn cửa quyền bon chen, thủ đoạn sát phạt.
=> Đó là một cách nói ngược: khôn mà khôn dại, dại mà dại khôn của tác giả.
Câu 5:
Là người sống giản dị, thanh bạch.
– Là người có trí tuệ, cốt cách thanh cao.
– Là người bản lĩnh: coi thường danh lợi