Nguyễn Bảo Ngân
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Thế giới không ngừng phát triển ngày càng tiên tiến và giàu mạnh hơn. Có nghĩa nó sẽ trở nên khắc nghiệt hơn, sự cạnh tranh trong cuộc sống gần như là chuyện bình thường trong xã hội ngày nay, kẻ nào chiến thắng sẽ có một cuộc sống an nhàn và giàu có, còn kẻ thua cuộc luôn phải ngước lên nhìn họ với ánh mắt tiếc nuối:
- ' Tại sao lúc đó mình không cố gắng hơn? Bây giời phải khổ thế này?' Nhưng đã quá muộn mình vẫn mãi là kẻ thua cuộc. Vậy tại sao mình là kẻ thua cuộc? Là bởi vì trong mỗi chúng ta đều khuyết đi một thói quen, một thói quen , một lối sống vô cùng quan trọng trong đời sống hiện nay. Nó là một trong những nhân tố quyết định tương lai của chúng ta sao này, đó chính là lối sống chủ động. Sống chủ động giúp chúng ta phát triển khả năng tự quyết định, tự chịu trách nhiệm và tự giải quyết vấn đề trong cuộc sống. Sống chủ động còn giúp chúng ta có tinh thần thoải mái, giảm stress và áp lực trong cuộc sống. Nhiều người có quan điểm rằng luôn cắm mặt vào học tập và làm việc thì sẽ thành công. Quan niệm đó hoàn toàn sai lầm, dù có cố gắng, chăm chỉ đến đâu mà trạng thái tinh thần luôn mệt mỏi, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe thì rất khó để có thể đạt được ước vọng mà mình mong muốn. Còn nếu tinh thần của chúng ta luôn thư thái, thoải mái thì khả năng tư duy, giải quyết vấn đề vô cùng nhạy bén. Khi đó, đã xác định được kẻ thắng cuộc trong trò chơi đầy hiểm nguy, khắc nghiệt và cạnh tranh này. Sống chủ động là chìa khóa để đạt đến thành công và hạnh phúc trong cuộc sống ngày nay. Hãy tự quyết định và kiểm soát trong cuộc sống của mình.\
Câu 2
Trong thế giới văn học thời trung đại ở Việt Nam, Nguyễn Trãi được coi là một nhà văn chính luận vô cùng tài năng và độc đáo. Bên cạnh những áng văn chính luận sắc bén thì Nguyễn Trãi cũng rất thành công ở thể loại thơ trữ tình viết bằng chữ Nôm và chữ Hán. Nổi bật nhất phải kể đến 2 tập thơ Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập. Bài thơ Gương báu khuyên răn nằm trong tập Quốc âm thi tập là một trong những bài thơ hay thể hiện rõ nét tình yêu quê hương đất nước của Nguyễn Trãi cũng như tái hiện lại bức tranh thiên nhiên tươi đẹp của ngày hè.
Câu thơ đầu tiên, ta đọc lên thoáng qua sao có vẻ an nhàn, êm đềm, thanh thoát đến thế.
Rồi hóng mát thuở ngày trường
Câu thơ hiện lên hình ảnh của nhà thơ Nguyễn Trãi, ông đang ngồi dưới bóng cây nhàn nhã như hóng mát thật sự. Việc quân, việc nước chắc đã xong xuôi ông mới trở về với cuộc sống đơn sơ, giản dị, mộc mạc mà chan hoà, gần gũi với thiên nhiên. Một số sách dịch là “Rỗi hóng mát thuở ngày trường”. Nhưng “rỗi” hay “rồi” cũng đều gây sự chú ý cho người đọc. Rảnh rỗi, sự việc còn đều xong xuôi, đã qua rồi “Ngày trường” lại làm tăng sự chú ý. Cả câu thơ không còn đơn giản là hình ảnh của Nguyễn Trãi ngồi hóng mát mà nó lại toát lên nỗi niềm, tâm sự của tác giả: “Nhàn rỗi ta hóng mát cả một ngày dài”. Một xã hội đã bị suy yếu, nguyện vọng, ý chí của tác giả đã bị vùi lấp, không còn gì nữa, ông đành phải rời bỏ, từ quan để về ở ẩn, phải dành “hóng mát” cả ngày trường để vơi đi một tâm sự, một gánh nặng đang đè lên vai mình. Cả câu thơ thấp thoáng một tâm sự thầm kín, không còn là sự nhẹ nhàng thanh thản nữa. Mặc dù khung cảnh hiện lên yên bình và nên thơ là thế, nhưng tâm trạng của luôn lo lắng cho dân và xã hội, đất nước ngày nay.
Về với thiên nhiên, ông lại có cơ hội gần gũi với thiên nhiên hơn. Ông vui thú, say mê với vẻ đẹp của thiên nhiên.
Hoè lục đùn đùn tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương.
Cảnh mùa hè qua tâm hồn, tình cảm của ông bừng bừng sức sống. Cây hoè lớn lên nhanh, tán cây toả rộng che rợp mặt đất như một tấm trướng rộng căng ra giữa trời với cành lá xanh tươi. Những cây thạch lựu còn phun thức đỏ, ao sen toả hương, màu hồng của những cánh hoa điểm tô sắc thắm. Qua lăng kính của Nguyễn Trãi, sức sống vẫn bừng bừng, tràn đầy, cuộc đời là một vườn hoa, một khu vườn thiên nhiên muôn màu muôn vẻ. Cảnh vật như cổ tích có lẽ bởi nó được nhìn bằng con mắt của một thi sĩ đa cảm, giàu lòng ham sống với đời...
Qua cảnh mùa hè, tình cảm của Nguyễn Trãi cũng thể hiện một cách sâu sắc:
Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.
“Chợ” là hình ảnh của sự thái bình trong tâm thức của người Việt. Chợ đông vui thì nước thái bình, thịnh trị, dân giàu đủ ấm no: chợ tan rã thì dễ gợi hình ảnh đất nước có biến, có loạn, có giặc giã, có chiến tranh, đao binh... lại thêm tiếng ve kêu lúc chiều tà gợi lên cuộc sống nơi thôn dã. Chính những màu sắc nơi thôn dã này làm cho tình cảm ông thêm đậm đà sâu sắc và gợi lại ý tưởng mà ông đang đeo đuổi.
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương.
“Dân giàu đủ”, cuộc sống của người dân ngày càng ấm no, hạnh phúc là điều mà Nguyễn Trãi từng canh cánh và mong ước. Ở đây, ông đề cập đến Ngu cầm vì thời vua Nghiêu, vua Thuấn nổi tiếng là thái bình thịnh trị. Vua Thuấn có một khúc đàn “Nam Phong” khảy lên để ca ngợi nhân gian giàu đủ, sản xuất ra nhiều thóc lúa ngô khoai. Cho nên, tác giả muốn có một tiếng đàn của vua Thuấn lồng vào đời sống nhân dân để ca ngợi cuộc sống của nhân dân ấm no, vui tươi, tràn đầy âm thanh hạnh phúc. Những mơ ước ấy chứng tỏ Nguyễn Trãi là nhà thơ vĩ đại có một tấm lòng nhân đạo cao cả. Ông luôn nghĩ đến cuộc sống của nhân dân, chăm lo đến cuộc sống của họ.
Đó là ước mơ vĩ đại. Có thể nói, dù triều đình có thể xua đuổi Nguyễn Trãi nhưng ông vẫn sống lạc quan yêu đời, mong sao cho ước vọng lí tưởng của mình được thực hiện để nhân dân có một cuộc sống ấm no.
Bài thơ này đã làm rõ nỗi niềm tâm sự của Nguyễn Trãi trong thời gian ở Côn Sơn với tấm lòng yêu nước thương dân vẫn ngày đêm “cuồn cuộn nước triều Đông”. Ông yêu thiên nhiên cây cỏ say đắm. Và có lẽ chính thiên nhiên đã cứu Nguyễn Trãi thoát khỏi những phút giây bi quan của cuộc đời mình. Dù sống với cuộc sống thiên nhiên nhưng ức Trai vẫn canh cánh “một tấc lòng ưu ái cũ”. Nguyễn Trãi vẫn không quên lí tưởng nhàn dân, lí tưởng nhân nghĩa, lí tưởng: mong cho thôn cùng xóm vắng không có một tiếng oán than, đau sầu.
Câu 1:
Thể thơ: lục bát
Câu 2:
Hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày, đạm bạc thanh cao của tác giả:
Một mai, một cuốc, một cần câu
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Rượu đến, cội cây, ta sẽ uống
Câu 3
Từ liệt kê: một mai, một cuốc, một cần câu
Tác dụng:
+ Tạo nhịp điệu đều đặn, chậm rãi
+ Gợi tả cuộc sống giản dị, thanh cao của tác giả
+ Nhấn mạnh sự tự do, phóng khoáng của đời người
Câu 4
“dại” có nghĩa là khôn, và từ “khôn” có nghĩa là dại. có thể nhận thấy được chính lối nói ngược mang ý nghĩa mỉa mai: người khôn mà chọn chốn lao xao đầy rẫy những tham lam, dục vọng, luôn luôn phải suy nghĩ đắn đo, khiến cuộc sống luôn vội vã. Hai câu thực như mang nghĩa mỉa mai chế giễu lũ người kia chỉ biết lao đầu vào tham vọng, chính vào vòng danh lợi. Còn đối với tác giả thì ông dường như cũng đã phủ nhận vòng danh lợi ấy bằng cách thể hiện quan điểm, khí chất thanh cao trong sạch. Bất kỳ một sự đả kích nào cũng không nên trở thành cái cớ cho bạn sa ngã. Bạn không thể thay đổi thế giới nhưng bạn có thể thay đổi bản thân mình. Việc cần làm là chọn lựa một con đường đúng đắn và kiên trì bước tiếp.
Câu 5
Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà thơ lớn của dân tộc, thơ ông mang đậm tính triết lí, giáo huấn, ngợi ca chí khí của kẻ sĩ, thú thanh nhàn đồng thời phê phán những điều xấu xa trong xã hội. “Nhàn” là bài thơ Nôm nổi tiếng của nhà thơ nêu lên quan niệm sống của một bậc ẩn sĩ thanh cao, vượt ra cái tầm thường xấu xa của cuộc sống bon chen vì danh lợi.
Nhà thơ đã nhiều lần đứng trên lập trường đạo đức Nho giáo để bộc lộ quan niệm sống của mình. “Nhàn” là cách xử thế quen thuộc của nhà nho trước thực tại, lánh đời thoát tục, tìm vui trong thiên nhiên cây cỏ, giữ mình trong sạch. Hành trình hưởng nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm trong qui luật ấy, tìm về với nhân dân, đối lập với bọn người tầm thường bằng cách nói ngụ ý vừa ngông ngạo, vừa thâm thúy.