Lê Thị Trà My
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 Có ai trên đời này lại không muốn tự quyết định cuộc đời mình? Có ai muốn nhất nhất nghe theo sự chỉ huy của người khác? Muốn thế chỉ có cách ta phải “sống ở thế chủ động”. Chủ động – có thể được hiểu là tự mình lập kế hoạch, thực hiện, và chịu trách nhiệm với mọi vấn đề trong cuộc sống mà không chịu sự chi phối bởi hoàn cảnh bên ngoài. Có thể ví cuộc sống mỗi chúng ta như một chặng đường, thì chủ động chính là chúng ta biết được hướng đi, tốc độ, điểm dừng, đích đến, chính vì thế mà người chủ động thường dễ thành công hơn. Chỉ có sống trong thế chủ động, Bác mới hướng mình sang phương Tây, để tìm hiểu cuộc sống nhân dân bên đó, để tìm ra con đường cứu nước cứu dân. Chỉ có sống và làm chủ bản thân, Bill Gates hay Mark mới bỏ ngang trường đại học danh giá nhất nước Mỹ để thực hiện ước mơ của mình. Và cũng chỉ có thế chủ động, bất cứ ai trong chúng ta mới có thể sẵn sàng đối diện với sóng gió. Người xưa đã từng than thở “gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu?”, thế hệ thanh niên của chúng ta ngày hôm nay không thể bị động như thế, không thể đóng vai “hành khách” trên chuyến xe mà người khác cầm lái. Có thể chúng ta chưa làm được điều gì to lớn, nhưng ít nhất sáng mai ăn gì, học như thế nào, thi trường gì, chúng ta hãy chủ động quyết định. Người chủ động phải là người luôn cầu tiến, ham học hỏi, rèn luyện và chuẩn bị hành trang cần thiết cho chuyến đi của mình. Làm gì có người leo núi nào lại không chuẩn bị thể lực, đồ dùng, làm gì có người giương buồm ra khơi nào mà không biết trước hướng đi. Điều đó có nghĩa, chủ động nhưng không liều lĩnh, chủ động cần tỉnh táo, tham khảo ý kiến mọi người, hạn chế mức thấp nhất sai lầm, thất bại, sẵn sàng đối diện với khó khăn.
Câu 2 bài làm
đã được tác giả gửi gắm trọn vẹn tâm tư và suy nghĩ, qua đó, thể hiện hết phần nào về vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi.
Dễ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương
Ở đây, tác giả đã mượn điển tích để nói lên khát vọng của mình. Câu thơ cuối sáu chữ ngắn gọn, nhịp 3/3 thể hiện sự dồn nén cảm xúc của cả bài - tác giả khát khao đem tài trí thực hành tư tưởng yêu nước, thương dân, và đó cũng chính là tưởng chủ đạo của bài thơ. Tuy tác giả đón nhận cảnh ngày hè với tư thế ung dung trong một ngày nhàn rỗi nhưng ông vẫn luôn suy nghĩ, lo lắng cho nhân dân, cho đất nước. Cảm nhận cảnh ngày hè nhưng tác giả vẫn quan tâm tới cuộc sống của nhân dân. Thế nên ông nghe thấy âm thanh tấp nập, lao xao của làng chài.
Ông quan tâm tới nhân dân, lo cho dân cho nước. Chính vì vậy, ông ước mong mình có cây đàn của vua Ngu Thuấn. Với cây đàn đó, Nguyễn Trãi có thể mang tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân và đất nước. Không có một lòng yêu quê hương, đất nước sâu đậm, ông không thể có một ước muốn như vậy. Không có lòng yêu quê hương, đất nước, ông không thể cảm nhận được hết vẻ đẹp mùa hè nơi một làng chài quê hương thanh bình. Và, không có lòng yêu quê hương, đất nước, ông không thể viết nên bài thơ Cảnh ngày hè làm xúc động lòng người như vậy.
Bài thơ tả cảnh ngày hè cho thấy tâm hồn Nguyễn Trãi chan chứa tình yêu thiên nhiên, yêu đời, yên nhân dân, đất nước. Việt hoá thơ Đường luật, sáng tạo thơ thất ngôn xen lục ngôn, vận dụng hình ảnh, màu sắc, đường nét, âm thanh của cảnh vật thiên nhiên và cuộc sống của con người, hệ thống ngôn ngữ giản dị tinh tế xen lẫn từ Hán và điển tích chính là những nét nghệ thuật đặc trưng cho Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi.
Bài thơ Cảnh ngày hè đặc sắc về cả nội dung và nghệ thuật. Qua đó, ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi. Ông là người yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước. Nhưng trên hết, ông là một người vừa có tài, vừa có tâm bởi ông luôn lo lắng cho nhân dân, cho đất nước. Ông muốn cống hiến nhiệt huyết của mình để nhân dân hạnh phúc, ấm no, đất nước giàu mạnh. Tư tưởng của Nguyễn Trãi như một bài học gửi gắm cho thế hệ trẻ về lòng yêu nước, ước mong cống hiến cho đất nước.
c1: thể thơ thất ngôn bát cú
Câu 2: Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả trong bài thơ "Cảnh ngày hè" của Nguyễn Trãi là: "một mảnh vườn nhỏ", "một gốc cây", "một cuộc, một cần câu". Những hình ảnh này gợi lên cuộc sống giản dị, tự tại, gần gũi với thiên nhiên của tác giả.
Câu 3: Biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong hai câu thơ "Đầu mái, một cuốc, một cần câu/ Thú vui nào hơn thú vui câu" là việc liệt kê các vật dụng đơn giản: "đầu mái", "một cuốc", "một cần câu". Tác dụng của biện pháp tu từ này là làm nổi bật sự giản dị, thanh đạm trong cuộc sống của tác giả, đồng thời nhấn mạnh thú vui tao nhã, gần gũi với thiên nhiên. Liệt kê những vật dụng đơn sơ càng tô đậm sự thanh cao, không màng danh lợi của nhà thơ.
Câu 4: Quan niệm về dại - khôn của Nguyễn Trãi trong hai câu thơ "Dại, ta tìm nơi vắng vẻ/ Khôn, người đến chốn lao xao" thể hiện sự đối lập giữa cuộc sống thanh tĩnh, tự tại với cuộc sống ồn ào, tranh giành. Ông cho rằng người khôn ngoan là người tìm đến chốn lao xao, danh lợi, còn người dại là người tìm đến sự yên tĩnh, tự tại. Đây là quan niệm đặc biệt vì nó đi ngược lại với quan niệm thông thường, coi sự tĩnh lặng, tự tại là biểu hiện của sự dại dột. Thực chất, đây là sự lựa chọn lối sống, thể hiện sự khôn ngoan khác biệt của Nguyễn Trãi.
Câu 5: Vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài thơ toát lên từ lối sống giản dị, thanh cao, không màng danh lợi. Ông tìm đến sự tĩnh lặng, hòa mình với thiên nhiên, thể hiện sự khôn ngoan khác biệt, không chạy theo những thú vui phù phiếm của thế tục. Qua đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm cho thấy một tâm hồn thanh thản, một khí phách hiên ngang, một nhân cách đáng ngưỡng mộ. Ông là hình ảnh tiêu biểu của người trí thức yêu nước, sống giản dị mà thanh cao. Ông sống đúng với quan niệm sống của mình, không bị cám dỗ bởi những hào nhoáng của cuộc sống.