Lê Thị Kim Oanh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lê Thị Kim Oanh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

 

Câu 1: Đoạn văn nghị luận văn học phân tích nhân vật Bê-li-cốp

Bê-li-cốp trong "Người trong bao" của Sê-khốp là một điển hình nghệ thuật độc đáo, phản ánh sâu sắc hiện tượng con người thu mình vào vỏ bọc, sống cô độc, sợ hãi trước cuộc đời. Bê-li-cốp luôn xuất hiện với những vật dụng "trong bao": giày cao su, ô, áo bành tô cốt bông, đồng hồ quả quýt, dao nhỏ. Không chỉ vật chất, cả tinh thần của hắn cũng bị "bao bọc" bởi những quy tắc, thông tư, chỉ thị. Hắn sợ hãi mọi thứ mới mẻ, khác biệt, chỉ cảm thấy an toàn trong những gì cũ kỹ, quen thuộc.

Lối sống "trong bao" của Bê-li-cốp không chỉ ảnh hưởng đến bản thân hắn mà còn lan tỏa sự sợ hãi, ngột ngạt đến cả môi trường xung quanh. Hắn trở thành nỗi ám ảnh của giáo giới và người dân trong thành phố. Sự xuất hiện của hắn khiến mọi người dè dặt, sợ hãi, không dám thể hiện bản thân. Bê-li-cốp là một hình tượng biếm họa sâu sắc, phê phán lối sống hèn nhát, thụ động, đồng thời cảnh báo về sự nguy hại của những kẻ sống "trong bao".

Câu 2: Bài văn về ý nghĩa của việc bước ra khỏi vùng an toàn

Vùng an toàn là nơi chúng ta cảm thấy thoải mái, quen thuộc, không phải đối mặt với những thử thách, rủi ro. Tuy nhiên, nếu cứ mãi ở trong vùng an toàn, chúng ta sẽ không thể phát triển bản thân, không thể khám phá những tiềm năng ẩn chứa bên trong. Bước ra khỏi vùng an toàn là một hành trình đầy thử thách nhưng cũng đầy ý nghĩa.

Trước hết, bước ra khỏi vùng an toàn giúp chúng ta khám phá những khả năng mới của bản thân. Khi đối mặt với những thử thách, chúng ta buộc phải tìm tòi, học hỏi, sáng tạo để vượt qua. Quá trình này giúp chúng ta nhận ra những khả năng tiềm ẩn mà trước đây chưa từng biết đến.

Thứ hai, bước ra khỏi vùng an toàn giúp chúng ta trưởng thành hơn. Khi đối mặt với những khó khăn, thất bại, chúng ta sẽ học được cách đứng lên, rút ra bài học kinh nghiệm. Quá trình này giúp chúng ta trở nên mạnh mẽ, bản lĩnh hơn.

Thứ ba, bước ra khỏi vùng an toàn giúp chúng ta có những trải nghiệm quý giá. Những trải nghiệm này sẽ làm phong phú thêm cuộc sống của chúng ta, giúp chúng ta có cái nhìn đa chiều hơn về thế giới.

Tuy nhiên, bước ra khỏi vùng an toàn không có nghĩa là chúng ta phải lao vào những cuộc phiêu lưu mạo hiểm. Chúng ta cần có kế hoạch rõ ràng, chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi thực hiện. Điều quan trọng là chúng ta phải có niềm tin vào bản thân, dám đối mặt với những thử thách, rủi ro.

Bước ra khỏi vùng an toàn là một hành trình không dễ dàng, nhưng đó là con đường duy nhất để chúng ta phát triển bản thân, đạt được những thành công trong cuộc sống. Hãy dũng cảm bước ra khỏi vùng an toàn để khám phá những điều kỳ diệu của cuộc sống!

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài là tự sự 

Câu 2: Nhân vật trung tâm của đoạn trích là Bê-li-cốp.

Câu 3: Đoạn trích được kể theo ngôi thứ nhất (tôi).

Tác dụng của ngôi kể:

  • Tăng tính chân thực, sinh động cho câu chuyện, giúp người đọc cảm nhận rõ hơn về nhân vật Bê-li-cốp và cuộc sống ngột ngạt mà hắn tạo ra.
  • Thể hiện thái độ, cảm xúc của người kể chuyện đối với nhân vật và sự việc được kể.
  • Tạo sự gần gũi, thân mật với người đọc.

Câu 4: Những chi tiết miêu tả chân dung nhân vật Bê-li-cốp:

  • Lúc nào cũng đi giày cao su, cầm ô, mặc áo bành tô ấm cốt bông.
  • Ô để trong bao, đồng hồ quả quýt để trong bao da hươu, dao nhỏ cũng để trong bao.
  • Mặt giấu sau cổ áo bành tô bẻ đứng lên, đeo kính râm, mặc áo bông chần, lỗ tai nhét bông.
  • Ngồi xe ngựa thì kéo mui lên.

Nhan đề đoạn trích được đặt là "Người trong bao" vì:

  • Miêu tả chính xác lối sống của Bê-li-cốp: luôn thu mình vào vỏ bọc, ngăn cách với thế giới bên ngoài.
  • Gợi hình ảnh một con người cô độc, lạc lõng, sống khép kín, sợ hãi mọi thứ xung quanh.
  • Mang ý nghĩa biểu tượng: chỉ những người có lối sống thu mình, không dám đối mặt với cuộc sống.

Câu 5: Bài học rút ra được từ đoạn trích:

  • Không nên sống quá khép kín, thu mình, mà cần mở lòng đón nhận cuộc sống, hòa nhập với cộng đồng.
  • Cần có thái độ sống tích cực, lạc quan, không nên sợ hãi, lo lắng quá mức.
  • Phải biết đấu tranh với những thói quen, suy nghĩ tiêu cực để có một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Câu 1: Đoạn văn phân tích nghệ thuật lập luận của Nguyễn Trãi trong văn bản "Chiếu cầu hiền tài"

                                                            BÀI LÀM

Trong "Chiếu cầu hiền tài", Nguyễn Trãi đã thể hiện tài năng lập luận sắc bén, thuyết phục. Ông sử dụng lối lập luận chặt chẽ, logic, đi từ khái quát đến cụ thể. Mở đầu, tác giả khẳng định tầm quan trọng của việc "cử hiền" đối với sự hưng thịnh của đất nước. Tiếp theo, ông đưa ra những dẫn chứng lịch sử xác đáng về việc các bậc vua chúa thời xưa đã trọng dụng người tài. Các dẫn chứng được sắp xếp theo trình tự thời gian, từ xa đến gần, từ khái quát đến cụ thể, tạo sức thuyết phục cao.

Nguyễn Trãi cũng sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ như so sánh, liệt kê, câu hỏi tu từ để tăng tính biểu cảm và sức thuyết phục cho lập luận. Ông so sánh "người tài ở đời vốn không ít" với "cầu tài không phải chỉ một đường" để nhấn mạnh sự đa dạng của nhân tài. Ông liệt kê các chức quan từ tam phẩm trở lên để thể hiện sự quan tâm đến mọi tầng lớp nhân tài. Ông đặt câu hỏi tu từ "nào có câu nệ ở tiểu tiết đâu?" để khẳng định thái độ cầu hiền không phân biệt địa vị, xuất thân.

Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi còn khéo léo kết hợp giữa lý lẽ và tình cảm. Ông vừa phân tích thấu đáo vấn đề, vừa thể hiện tấm lòng yêu nước, thương dân, mong muốn tìm kiếm người tài để xây dựng đất nước. Điều này khiến cho bài chiếu không chỉ có sức thuyết phục về lý trí mà còn lay động lòng người.

Câu 2: Bài văn về hiện tượng "chảy máu chất xám" tại Việt Nam hiện nay.

                                                           BÀI LÀM

Hiện tượng "chảy máu chất xám" đang là một vấn đề nhức nhối đối với Việt Nam hiện nay. Đây là tình trạng những người có trình độ chuyên môn cao, tài năng, kinh nghiệm rời bỏ đất nước để làm việc ở nước ngoài. Hiện tượng này gây ra nhiều hậu quả tiêu cực cho sự phát triển của đất nước.

Một trong những nguyên nhân chính của hiện tượng này là sự chênh lệch về điều kiện làm việc và thu nhập giữa Việt Nam và các nước phát triển. Nhiều người tài cảm thấy không được trọng dụng, không có cơ hội phát triển bản thân ở trong nước. Họ tìm kiếm những môi trường làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn ở nước ngoài.

Bên cạnh đó, môi trường làm việc ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, thiếu tính cạnh tranh, thiếu sự sáng tạo. Điều này khiến cho những người tài cảm thấy chán nản, không muốn cống hiến. Ngoài ra, một số người còn ra nước ngoài để học tập, nghiên cứu và sau đó ở lại làm việc luôn.

"Chảy máu chất xám" gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho Việt Nam. Đất nước mất đi nguồn nhân lực chất lượng cao, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ. Các ngành nghề mũi nhọn như công nghệ thông tin, y tế, giáo dục... thiếu hụt nhân lực trầm trọng.

Để khắc phục tình trạng này, Việt Nam cần có những giải pháp đồng bộ. Cần cải thiện môi trường làm việc, tạo điều kiện thuận lợi cho người tài phát huy năng lực. Cần có chính sách thu hút, đãi ngộ nhân tài hợp lý. Cần đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, tạo ra nhiều cơ hội việc làm tốt cho người lao động.

Bên cạnh đó, cần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của xã hội. Cần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tạo động lực cho người tài cống hiến cho đất nước.

"Chảy máu chất xám" là một thách thức lớn đối với Việt Nam. Tuy nhiên, nếu có những giải pháp đúng đắn, kịp thời, chúng ta hoàn toàn có thể khắc phục được tình trạng này, xây dựng một đất nước giàu mạnh, phát triển.

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài là nghị luận.

Câu 2: Chủ thể bài viết là vua Lê Lợi.

Câu 3: Mục đích chính của văn bản trên là kêu gọi những người có tài đức ra giúp đỡ đất nước.

Những đường lối tiến cử người hiền tài được đề cập trong văn bản:

  • Các quan văn võ, công hầu, đại phu từ tam phẩm trở lên mỗi người tiến cử một người.
  • Người tài có thể tự tiến cử.

Câu 4: Theo văn bản, khi có được nước rồi, việc đầu tiên vua cần làm là chọn người hiền tài về giúp cho đất nước.

Để minh chứng cho luận điểm đó, người viết đã đưa ra dẫn chứng về việc các quan đời Hán, Đường tiến cử người hiền tài.

Cách nêu dẫn chứng của người viết là:

  • Nêu dẫn chứng cụ thể từ lịch sử Trung Quốc.
  • Dẫn chứng có chọn lọc, tiêu biểu.
  • Dẫn chứng được sắp xếp theo trình tự thời gian.

Câu 5: Thông qua văn bản trên, có thể nhận xét về phẩm chất của chủ thể bài viết như sau:

  • Tầm nhìn xa trông rộng: Vua Lê Lợi nhận thức rõ vai trò quan trọng của người hiền tài đối với sự phát triển của đất nước.
  • Lòng yêu nước thương dân: Mong muốn đất nước hưng thịnh, nhân dân ấm no, hạnh phúc.
  • Biết trọng dụng nhân tài: Sẵn sàng trọng thưởng người có tài đức.
  • Khiêm tốn, cầu thị: Thể hiện sự lo lắng vì chưa tìm được người hiền tài, đồng thời khuyến khích người tài tự tiến cử.

 

Câu 1: Đoạn văn về tầm quan trọng của lối sống chủ động

Trong cuộc sống hiện đại đầy biến động, lối sống chủ động đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi cá nhân. Chủ động là khả năng tự quyết định, tự chịu trách nhiệm và hành động để đạt được mục tiêu của mình. Người có lối sống chủ động luôn biết mình muốn gì, không ngừng học hỏi, trau dồi kiến thức và kỹ năng để thích ứng với mọi hoàn cảnh. Họ không đổ lỗi cho hoàn cảnh hay người khác, mà luôn tìm cách giải quyết vấn đề một cách tích cực.

Lối sống chủ động giúp chúng ta làm chủ cuộc đời mình, xây dựng sự tự tin và lòng tự trọng. Khi chủ động, chúng ta sẽ có động lực để vượt qua khó khăn, thử thách và đạt được thành công. Ngược lại, người sống bị động thường cảm thấy bất lực, chán nản và dễ dàng bỏ cuộc. Vì vậy, hãy rèn luyện cho mình lối sống chủ động ngay từ hôm nay để có một cuộc sống ý nghĩa và hạnh phúc.

Câu 2: Cảm nhận về bài thơ "Bảo kính cảnh giới" (Bài 43) của Nguyễn Trãi

Bài thơ "Bảo kính cảnh giới"của Nguyễn Trãi là một bức tranh mùa hè tươi đẹp, tràn đầy sức sống. Bằng ngôn ngữ tinh tế, Nguyễn Trãi đã vẽ nên cảnh vật mùa hè với những hình ảnh đặc trưng: "Hoè lục đùn đùn tán rợp trương", "Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ", "Hồng liên trì đã tịn mùi hương". Những hình ảnh này không chỉ miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống của tác giả.

Không chỉ có vậy, bài thơ còn thể hiện tấm lòng yêu nước, thương dân của Nguyễn Trãi. Ông mong muốn một cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, một xã hội thái bình, thịnh trị. Ước mơ đó được thể hiện qua hai câu thơ cuối: "Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng/ Dân giàu đủ khắp đòi phương". Tiếng đàn Ngu cầm tượng trưng cho sự thanh bình, ấm no, hạnh phúc.

Bài thơ "Bảo kính cảnh giới" là một tác phẩm đặc sắc của Nguyễn Trãi, thể hiện tài năng nghệ thuật và tấm lòng nhân ái của ông.

 

 

Câu 1: Thể thơ của văn bản trên là thơ thất ngôn bát cú Đường luật.

Câu 2: Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả:

  • Một mai, một cuốc, một cần câu (dụng cụ lao động và sinh hoạt giản dị).
  • Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao (thức ăn và sinh hoạt theo mùa, hòa mình với thiên nhiên).
  • Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống (thưởng rượu giữa thiên nhiên).

Câu 3: Biện pháp tu từ liệt kê trong hai câu thơ:

  • "Một mai, một cuốc, một cần câu"
    • Tác dụng: Nhấn mạnh cuộc sống lao động và sinh hoạt giản dị, gần gũi với thiên nhiên của tác giả.
    • Gợi hình ảnh con người tự do tự tại với cuộc sống thanh bần.
  • "Thơ thẩn dầu ai vui thú nào"
    • Tác dụng: Thể hiện sự ung dung, tự tại, không màng đến những thú vui danh lợi của người đời.

Câu 4: Quan niệm dại - khôn của tác giả trong hai câu thơ:

  • "Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn, người đến chốn lao xao"
    • Quan niệm này thể hiện sự đối lập giữa hai lối sống:
      • "Ta dại": Tác giả tự nhận mình "dại" vì chọn cuộc sống ẩn dật, xa lánh chốn quan trường ồn ào.
      • "Người khôn": Chỉ những người tìm đến danh lợi, bon chen nơi "lao xao".
    • Sự đặc biệt: Quan niệm này đảo ngược cách nhìn thông thường về "dại" và "khôn". Tác giả cho rằng, "dại" là sự lựa chọn sáng suốt để giữ gìn phẩm chất thanh cao, còn "khôn" là sự lựa chọn sai lầm khi đánh mất mình trong vòng danh lợi.

Câu 5: Đoạn văn ngắn về vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Bài thơ "Nhàn" thể hiện rõ vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm: một con người thanh cao, giản dị, không màng danh lợi. Ông chọn cuộc sống ẩn dật để giữ gìn phẩm chất trong sạch, không bị vấy bẩn bởi chốn quan trường. Nguyễn Bỉnh Khiêm là một tấm gương về lối sống thanh cao, đáng quý.

Kích thước của cả khung ảnh là (17+2x)(17+2x) cm x (25+2x)(25+2x) cm (Điều kiện: x>0x>0)

Diện tích cả khung ảnh là: S = (17+2x).(25+2x)=4x2+84x+425(17+2x).(25+2x)=4x2+84x+425

Để diện tích của cả khung ảnh lớn nhất là 513513 cm2 thì  S=4x2+84x+425≤513S=4x2+84x+425513

⇒4x2+84x−88≤0⇔−22≤x≤14x2+84x88022x1. Vì x>0x>0 nên x∈(0;1]x(0;1]

Vậy cần phải làm độ rộng viền khung ảnh tối đa 11 (cm).

a) 

nΔ→=(3;4);nΔ1→=(5;−12).nΔ=(3;4);nΔ1=(5;12).

cos⁡α=∣cos⁡(nΔ→;nΔ1→)∣=∣3.5+4.(−12)∣5.13=3365cosα=cos(nΔ;nΔ1)=5.133.5+4.(12)=6533.

b) (C)(C) có tâm I(3;−2)I(3;2), bán kính R=6R=6

Đường thẳng dd có dạng 4x−3y+m=04x3y+m=0 (mm khác 77)

dd tiếp xúc (C)(C) khi và chỉ khi d(I,d)=R⇔∣12+6+m∣5=6d(I,d)=R512+6+m=6.

Tìm được m=−48m=48(TM), m=12m=12 (TM)

Vậy có hai đường thẳng dd thỏa mãn là 4x−3y−48=04x3y48=0 và 4x−3y+12=04x3y+12=0.

a) Ta có f(x)=x2+2(m−1)x+m+5f(x)=x2+2(m1)x+m+5 có Δ′=(m−1)2−(m+5)=m2−3m−4Δ=(m1)2(m+5)=m23m4

Lại có hệ số a=1>0a=1>0.

Để f(x)f(x) luôn dương (cùng dấu hệ số aa) với mọi x∈RxR thì Δ′<0Δ<0 ⇔m2−3m−4<0m23m4<0.

Xét tam thức h(m)=m2−3m−4h(m)=m23m4 có Δm=9−4.(−4)=25>0Δm=94.(4)=25>0 nên h(m)h(m) có hai nghiệm là m1=−1m1=1 và m2=4m2=4.

Ta có bảng xét dấu của h(m)h(m):

loading...

Do đó h(m)<0h(m)<0 với mọi x∈(−1;4)x(1;4)

Hay Δ′<0Δ<0 với mọi x∈(−1;4)x(1;4)

Vậy x∈(−1;4)x(1;4) thì tam thức bậc hai f(x)=x2+(m−1)x+m+5f(x)=x2+(m1)x+m+5 dương với mọi x∈RxR.

b) Bình phương hai vế ta được: 2x2−8x+4=x2−4x+42x28x+4=x24x+4

⇔x2−4x=0x24x=0

Suy ra x=0x=0 hoặc x=4x=4

Thử lại nghiệm được x=4x=4 thỏa mãn phương trình.

Vậy tập nghiệm S=4S=4.