Nguyễn Thanh Nhài

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Thanh Nhài
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Hiện nay, trong xu thế hội nhập quốc tế, bên cạnh tiếp thu và Việt hóa được nhiều cái hay, cái đẹp của tiếng nói, chữ viết nước ngoài, thì sự trong sáng của tiếng Việt đang bị ảnh hưởng tiêu cực. Đáng quan tâm nhất là sự lai căng tiếng nói, chữ viết của nước ngoài ngày một tăng.

Dường như ngày càng có nhiều người, nhất là lớp trẻ, khi nói và viết tiếng Việt thường chen tiếng nước ngoài, chủ yếu là tiếng Anh. Tất nhiên, cũng phải thừa nhận rằng trong sự phát triển mau lẹ của khoa học và công nghệ, đặc biệt là tin học và công nghệ thông tin, nhiều thuật ngữ mới ra đời mà chưa có trong tiếng Việt, nên phải dùng những thuật ngữ bằng tiếng nước ngoài khi nói và viết tiếng Việt như Internet, trang web..., song đáng chê trách nhất vẫn là việc dùng chữ viết nước ngoài (chủ yếu là chữ Anh) thay cho chữ Việt vốn đã có sẵn, đủ nghĩa, dễ hiểu, trong sáng như show (biểu diễn), live-show (biểu diễn trực tiếp), nhạc classic (nhạc cổ điển), nhạc country (nhạc đồng quê), nhạc dance (nhạc nhảy), các fan (người hâm mộ)... một cách tự nhiên như thể đó là những từ tiếng Việt mà ai cũng hiểu. Có ý kiến ngụy biện cho rằng hiện tượng này nên khuyến khích vì đấy là một cách học và thực hành tiếng Anh, một công cụ không thể thiếu để hội nhập quốc tế. Nhưng thực ra, muốn thực hành ngoại ngữ, chúng ta hoàn toàn có thể nói, viết hẳn bằng tiếng nước ngoài mà mình học ở các lớp học ngoại ngữ, các lớp đại học dạy bằng tiếng nước ngoài, hoặc tạo cơ hội tiếp xúc với người nước ngoài ở Việt Nam. Còn khi nói và viết tiếng Việt thì tránh dùng tiếng lai, trừ trường hợp bất đắc dĩ. Các cụ xưa gọi người sính dùng chữ gốc Hán là người “hay chữ lỏng" và có câu nói “dốt đặc còn hơn hay chữ lỏng”.

Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người dân Việt Nam, trong đó có học sinh - những người thường xuyên sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ trong giao tiếp xã hội, trong học tập, nghiên cứu. Công cuộc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt đòi hỏi phải có sự nỗ lực trên các phương diện: tình cảm, nhận thức và hành động. Trước hết mỗi học sinh cần có tình cảm yêu mến và có ý thức quý trọng tiếng Việt. Mỗi người cần thấm nhuần và khắc sâu lời dặn của Hồ Chủ Tịch “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp”. Việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt cũng đòi hỏi mỗi người cần có những hiểu biết cần thiết về tiếng Việt. Đó là hiểu biết về chuẩn mực và quy tắc tiếng Việt ở các phương diện phát âm, chữ viết, dùng từ, đặt câu, tạo lập văn bản, tiến hành giao tiếp. Muốn có hiểu biết, người học cần tích lũy kinh nghiệm từ thực tế giao tiếp, qua sách báo, học tập ở trường.

Có thể tìm hiểu và học tập tiếng Việt ở mọi lúc mọi nơi. Sự trong sáng của tiếng Việt không cho phép pha tạp, lai căng. Tuy nhiên cần tiếp nhận những yếu tố tích cực từ tiếng nước ngoài để làm giàu ngôn ngữ mình, đồng thời tránh cách nói thô tục, kệch cỡm để nói “lời hay, ý đẹp”.

Đồng thời, các trường học cũng phải chú trọng, đẩy mạnh giáo dục học sinh giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Chúng ta có thể loại trừ sự lố bịch trong việc dùng tiếng lai dường như cũng chính là một khía cạnh thể hiện niềm tự hào và ngoài ra đó cũng chính là sự tôn trọng ý thức dân tộc trong ngôn ngữ, nó dường như cũng đã góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

Câu 1: Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào?


Văn bản này thuộc văn bản bình luận xã hội, bình luận báo chí:

Đây là bài viết chia sẻ quan điểm, đưa ra nhận xét về vấn đề tự trọng, thái độ đối với văn hóa bên ngoài trong bối cảnh đổi mới của đất nước, viết theo phong cách chân thực, gần gũi như trao đổi với bạn đọc.

Câu 2: Vấn đề được đề cập đến trong văn bản là gì?


Vấn đề cốt lõi là thái độ tự trọng của quốc gia khi mở cửa với thế giới:

Tác giả so sánh cách Hàn Quốc và Việt Nam ứng xử với văn hóa bên ngoài, đặc biệt là ngôn ngữ Anh, để chỉ ra vấn đề lạm dụng tiếng nước ngoài, thiếu tự trọng trong môi trường báo chí và cuộc sống hàng ngày của chúng ta.


Câu 3: Để làm sáng tỏ cho luận điểm, tác giả đã đưa ra những lí lẽ, bằng chứng nào?


Tác giả sử dụng 2 nhóm bằng chứng chính:


1. Bằng chứng về Hàn Quốc

◦ Kinh tế phát triển nhanh, có quan hệ chặt chẽ với phương Tây nhưng vẫn giữ vững bản sắc: Bằng hiệu tiếng Anh chỉ được đặt nhỏ dưới chữ Hàn Quốc, luôn để chữ Hàn Quốc làm nổi bật chính.

◦ Báo chí Hàn Quốc chỉ sử dụng tiếng nước ngoài ở một số trường hợp hợp lý: Chỉ có tạp chí khoa học, ngoại thương in mục lục bằng tiếng Anh cho bạn đọc nước ngoài, không làm giảm thông tin cho độc giả nội địa.

2. Bằng chứng về Việt Nam

◦ Ở các thành phố Việt Nam, chữ tiếng Anh thường được đặt lớn hơn chữ Việt, gây ngỡ ngàng như lạc sang nước ngoài.

◦ Nhiều tờ báo Việt Nam in tóm tắt bài chính bằng tiếng Anh ở trang cuối chỉ để tạo vẻ “oai”, khiến độc giả nội địa bị mất mát thông tin quan trọng.


Câu 4: Chỉ ra một thông tin khách quan và một ý kiến chủ quan


1. Thông tin khách quan (không mang tính đánh giá chủ quan):


Hàn Quốc là nước phát triển kinh tế nhanh, được gọi là “con rồng nhỏ”, có quan hệ chặt chẽ với các nước phương Tây.

Hoặc: Có một số tờ báo, tạp chí Hàn Quốc xuất bản bằng tiếng nước ngoài, in rất đẹp.


2. Ý kiến chủ quan (phát biểu quan điểm, đánh giá của tác giả):


Việc in tóm tắt bài chính bằng tiếng Anh ở trang cuối báo chí Việt Nam chỉ để cho “oai”.

Hoặc: Chúng ta nên suy ngẫm về thái độ tự trọng khi mở cửa với thế giới.



Câu 5: Nhận xét về cách lập luận của tác giả


Điểm mạnh của cách lập luận:


1. Lập luận đối chiếu rõ ràng: Tác giả so sánh tình hình Hàn Quốc và Việt Nam, giúp bạn đọc dễ dàng nhận thấy sự khác biệt và vấn đề cốt lõi của chúng ta.

2. Bắt đầu bằng trải nghiệm cá nhân: Tác giả mở đầu bằng câu chuyện đi công tác ở Hàn Quốc, tạo sự gần gũi, dễ tiếp cận cho độc giả.

3. Luận điểm tập trung, rõ ràng: Tất cả các bằng chứng đều xoay quanh vấn đề tự trọng khi giao tiếp với văn hóa bên ngoài, không rẽ nhánh.

4. Kết luận mạch lạc: Tác giả kết thúc bài viết bằng một lời nhắc nhở suy ngẫm, không đưa ra phán xét gay gắt mà để độc giả tự đánh giá.


Điểm hạn chế:


Tác giả chỉ đưa ra ví dụ chung về tình hình báo chí Việt Nam, không nêu cụ thể tên các tờ báo để làm tăng tính thuyết phục hơn.