Lưu Thị Kim Cúc
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 :
Bài thơ “ Than đạo học “của Tú Xương là một bức tranh bi hài kịch về thực trạng Nho học buổi giao thời, kết tinh tài năng trào phúng bậc thầy của ông. Tác phẩm là tiếng thở dài xót xa trước sự suy tàn của đạo học vốn cao quý, nay trở nên nhếch nhác, rẻ rúng. Qua cái nhìn mỉa mai, tác giả phơi bày sự bạc nhược của sĩ phu khi "sĩ khí rụt rè" và sự tha hóa của thi cử khi biến thành nơi "liều lĩnh đấm ăn xôi". Đó không chỉ là nỗi đau cá nhân của một nhà nho tài hoa lận đận, mà còn là nỗi căm phẫn trước một xã hội thực dân nửa phong kiến đang đảo lộn các giá trị truyền thống. Bài thơ sử dụng điêu luyện thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật với ngôn ngữ giản dị nhưng giàu sức chiến đấu. Tú Xương đã khai thác triệt để sức mạnh của các từ láy gợi hình như "lim dim", "nhấp nhổm", "rụt rè" để tạo nên những bức chân dung biếm họa sống động. Phép đối chỉnh cùng giọng điệu vừa hóm hỉnh, vừa chua chát đã tạo nên sức mạnh phê phán sâu sắc. Đặc biệt, lối tự trào ở hai câu kết không chỉ thể hiện sự khiêm nhường mà còn là cái cười ra nước mắt, khẳng định cái tôi đầy bản lĩnh của Tú Xương giữa một "làng nho" đang trên đà đổ nát. Bài thơ chính là một tư liệu quý giá bằng thơ về lịch sử tư tưởng Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Câu 2 :
Trong thời đại công nghệ số, thế giới quanh ta ngày càng phát triển đòi hỏi các kĩ năng và chuyên môn cao trong mọi lĩnh vực. Để góp phần vào đường đua ấy , tri thức là chìa khoá quan trọng quyết định cánh cửa nào sẽ mở ra cho mỗi chúng ta . Nhưng trong hoàn cảnh xã hội với những thay đổi và những nguyên nhân độc hại ảnh hưởng đến ý thức học tập của học sinh hiện nay như một vấn đề cấp bách của xã hội
Trong kỷ nguyên số đầy biến động, tri thức đã trở thành thứ vũ khí quyền năng nhất để con người khẳng định giá trị bản thân. Tuy nhiên, một câu hỏi lớn đang đặt ra cho cả xã hội: Liệu thế hệ trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước – có đang thực sự trân trọng và tự giác trong việc tiếp nhận tri thức? Thực tế cho thấy, ý thức học tập của học sinh hiện nay là một bức tranh đa sắc với những gam màu sáng tối đầy trăn trở.
Trước hết, ta cần hiểu ý thức học tập là gì? Đó không đơn thuần là việc hoàn thành bài tập hay đạt điểm số cao, mà là sự tự giác, chủ động trong việc tìm kiếm, tiếp nhận và vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Nó xuất phát từ niềm đam mê khám phá và nhận thức rõ ràng về trách nhiệm của bản thân đối với tương lai.
Bàn về thực trạng, chúng ta không thể phủ nhận tinh thần hiếu học vốn là truyền thống tốt đẹp của dân tộc vẫn đang được tiếp nối. Nhiều học sinh hiện nay rất năng động, không chỉ học trong sách giáo khoa mà còn tự mày mò ngoại ngữ, lập trình, tham gia các cuộc thi nghiên cứu khoa học quốc tế. Tuy nhiên, nhìn vào góc khuất, một bộ phận không nhỏ học sinh đang rơi vào tình trạng "khủng hoảng ý thức". Hình ảnh những lớp học mà học sinh lén lút dùng điện thoại, những buổi học thêm mệt mỏi nhưng tâm hồn treo ngược cành cây, hay tệ hơn là vấn nạn gian lận, lạm dụng các công cụ giải bài tập có sẵn trên mạng đã trở thành chuyện "biết rồi, khổ lắm, nói mãi".
Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm ý thức này? Khách quan mà nói, sự bùng nổ của công nghệ và các nền tảng giải trí như TikTok, Facebook, game online đã tạo ra những sức hút mãnh liệt, khiến việc học trở nên khô khan và áp lực. Bên cạnh đó, áp lực từ những kỳ thi nặng nề và sự kỳ vọng quá lớn từ gia đình đôi khi phản tác dụng, biến học tập thành một gánh nặng thay vì niềm vui. Nhưng nguyên nhân chủ quan vẫn là cốt lõi: nhiều bạn trẻ chưa xác định được lý tưởng sống, chưa hiểu được giá trị thực sự của tri thức nên dễ dàng buông xuôi, lười biếng và chọn lối sống hưởng thụ tức thời.
Hậu quả của việc thiếu ý thức học tập là vô cùng nghiêm trọng và nhãn tiền. Đối với cá nhân, việc "học giả" sẽ dẫn đến "kiến thức rỗng", khiến các bạn trở nên yếu thế, mất phương hướng khi bước ra thị trường lao động khắc nghiệt. Đối với xã hội, nếu thế hệ trẻ thiếu đi tinh thần tự học và tư duy sáng tạo, đất nước sẽ thiếu đi nguồn nhân lực chất lượng cao, từ đó tụt hậu so với sự phát triển thần tốc của nhân loại. Một dân tộc lười học là một dân tộc không có tương lai.
Để khắc phục tình trạng này, chúng ta cần những giải pháp đồng bộ. Gia đình và nhà trường cần giảm bớt áp lực thành tích, thay vào đó là khơi gợi niềm đam mê và định hướng nghề nghiệp sớm cho học sinh. Nhưng quan trọng nhất vẫn là sự thay đổi từ chính mỗi cá nhân. Mỗi học sinh cần hiểu rằng: "Học tập là cuốn hộ chiếu để đi tới tương lai". Chúng ta cần học cách quản lý thời gian, biết nói "không" với những cám dỗ nhất thời để tập trung cho mục tiêu dài hạn.
Tóm lại, ý thức học tập không phải là cái gì đó cao siêu, nó bắt đầu từ việc bạn cầm quyển sách lên với sự tò mò thực sự. Đừng học như một cỗ máy, hãy học như một người lữ hành khao khát khám phá những vùng đất mới của trí tuệ. Bởi lẽ, trong cuộc đua của cuộc đời, tri thức chính là đôi cánh, còn ý thức chính là động cơ để đôi cánh ấy bay cao và bay xa.
Câu 1. Thể thơ
thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2. Đề tài
Nho học và thi cử trong buổi giao thời
Câu 3. lý do tác giả cho rằng “ đạo học ngày nay đã chán rồi “
Vì “ Mười người đi học, chín người thôi.
Cô hàng bán sách lim dim ngủ,
Thầy khoá tư lương nhấp nhổm ngồi.”
Câu 4. Nhận xét về việc sử dụng từ láy
Tú Xương đã sử dụng các từ láy một cách rất điêu luyện và đắc địa: lim dim, nhấp nhổm, rụt rè, liều lĩnh.
• Tác dụng biểu cảm: Các từ láy này không chỉ miêu tả ngoại hình, dáng vẻ mà còn lột tả được cái "thần" của nhân vật.
Chúng tạo nên những hình ảnh tương phản đầy mỉa mai. "Nhấp nhổm" thể hiện sự bất an, "rụt rè" thể hiện sự hèn nhát, "liều lĩnh" thể hiện sự mất đi nhân cách vì danh lợi.
Việc sử dụng từ láy giúp bức tranh về sự suy tàn của đạo học trở nên sinh động, chua chát và đầy sức gợi hình.
Câu 5. Nội dung của bài thơ
Bài thơ "Than đạo học" là tiếng cười tự trào nhưng đầy xót xa của Tú Xương trước thực trạng:
Phản ánh một giai đoạn lịch sử khi các giá trị cũ bị băng hoại, giới trí thức (sĩ phu) trở nên bạc nhược, mất đi khí tiết
Con đường khoa cử vốn cao quý nay trở nên thực dụng, chộp giật
Qua đó, bài thơ thể hiện thái độ phê phán quyết liệt đối với xã hội thực dân phong kiến nửa vời, đồng thời bộc lộ nỗi đau đau của một nhà nho nặng lòng với văn hóa dân tộc trước cảnh "giao thời" hỗn loạn.