VŨ KIM CHI

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của VŨ KIM CHI
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Cấu hình 1s2 2s2 2p3

Ô số 7, chu kì 2 , nhóm 5A

Cấu hình 1s2 2s2 2p3

Ô số 7, chu kì 2 , nhóm 5A

Cấu hình 1s2 2s2 2p3

Ô số 7, chu kì 2 , nhóm 5A

Cấu hình 1s2 2s2 2p3

Ô số 7, chu kì 2 , nhóm 5A

PTHH: Fe +2HCl -> FeCl2 + H2

nFe : 8,96/56 =0,16 MOL

Vh2= n.24,79=0,16.24,79=3,9664 lít

Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng là : nồng độ chất phản ứng , nhiệt độ , áp suất , diện tích bề mặt tiếp xúc , chất xúc tác

- Nồng độ : khi tăng nồng độ các chất phản ứng , dẫn đến số lượng va chạm có hiệu quả giữa các phân tử phản ứng tăng, làm tốc độ phản ứng tăng

- Áp suất : với chất khí, nồng độ chất khí tỉ lệ với áp suất của nó. do đó khi áp suất chất tham gia phản ứng ở thể khí tăng lên , sẽ làm nồng độ chất khí tăng lên , từ đó làm tăng tốc độ phản ứng

- Nhiệt độ : ở nhiệt độ cao hơn các phân tử chuyển động nhanh hơn , có động năng lớn hơn . số va chạm hiệu quả giữa các hạt tăng lên dẫn đến tốc độ phản ứng tăng

- Chất xúc tác : dựa vào năng lượng hoạt hóa . đây là năng lượng tối thiểu cần cung cấp cho các hạt để va chạm giữa chúng gây ra phản ứng làm tăng tốc độ phản ứng

-Diện tích bề mặt : khi tăng diện tích bề mặt tiếp xúc , số va chạm giữa các chất đầu tăng số va chạm hiệu quả tăng theo , dẫn đến tốc độ phản ứng tăng


Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng là : nồng độ chất phản ứng , nhiệt độ , áp suất , diện tích bề mặt tiếp xúc , chất xúc tác

- Nồng độ : khi tăng nồng độ các chất phản ứng , dẫn đến số lượng va chạm có hiệu quả giữa các phân tử phản ứng tăng, làm tốc độ phản ứng tăng

- Áp suất : với chất khí, nồng độ chất khí tỉ lệ với áp suất của nó. do đó khi áp suất chất tham gia phản ứng ở thể khí tăng lên , sẽ làm nồng độ chất khí tăng lên , từ đó làm tăng tốc độ phản ứng

- Nhiệt độ : ở nhiệt độ cao hơn các phân tử chuyển động nhanh hơn , có động năng lớn hơn . số va chạm hiệu quả giữa các hạt tăng lên dẫn đến tốc độ phản ứng tăng

- Chất xúc tác : dựa vào năng lượng hoạt hóa . đây là năng lượng tối thiểu cần cung cấp cho các hạt để va chạm giữa chúng gây ra phản ứng làm tăng tốc độ phản ứng

-Diện tích bề mặt : khi tăng diện tích bề mặt tiếp xúc , số va chạm giữa các chất đầu tăng số va chạm hiệu quả tăng theo , dẫn đến tốc độ phản ứng tăng

Câu1 Thấu hiểu chính mình là một quá trình quan trọng giúp mỗi người sống đúng với bản chất và giá trị của bản thân. Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta bị cuốn theo những áp lực từ gia đình, xã hội hay kỳ vọng của người khác mà quên mất điều mình thật sự mong muốn. Khi thấu hiểu chính mình, ta biết rõ điểm mạnh, điểm yếu, sở thích, ước mơ và giới hạn của bản thân. Từ đó, ta có thể đưa ra những lựa chọn đúng đắn hơn, sống tích cực và hạnh phúc hơn. Việc này cũng giúp ta học cách yêu thương, chấp nhận bản thân thay vì tự ti hay chạy theo hình mẫu nào đó. Với em, thấu hiểu chính mình là một hành trình dài, cần sự kiên nhẫn, dũng cảm và lắng nghe từ bên trong. Đó là lúc em nhìn lại cảm xúc, suy nghĩ, hành động của mình để điều chỉnh và trưởng thành. Khi hiểu mình, em cũng dễ cảm thông và hiểu người khác hơn. Vì vậy, em cho rằng thấu hiểu chính mình là nền tảng để sống có mục tiêu, ý nghĩa và trọn vẹn hơn mỗi ngày.

câu 2

Bài thơ “Chuyện của mẹ” của Nguyễn Ba là một khúc trầm xúc động về người mẹ Việt Nam – biểu tượng bất khuất, giàu đức hy sinh, đồng thời cũng là chứng nhân của bao mất mát, đau thương trong chiến tranh. Tác phẩm gợi lại những lần chia ly đau đớn của mẹ: chồng ra đi rồi hóa thành ngàn lau nơi địa đầu Tây Bắc, các con lần lượt hy sinh nơi chiến trường khốc liệt – từ Thạch Hãn, Trường Sơn đến Xuân Lộc, Vị Xuyên. Mỗi chi tiết là một lát cắt của bi kịch, nhưng cũng làm sáng lên vẻ đẹp vĩ đại của người mẹ – vừa là mẹ của gia đình, vừa là “mẹ của non sông đất nước”. Nét đặc biệt của bài thơ là cái nhìn từ người con – nhân vật xưng “tôi”, vừa biết ơn, vừa xót xa cho mẹ, đồng thời cũng là người lính trở về từ chiến trường. Bài thơ không tô vẽ bi lụy, mà chân thật, thô mộc, đầy cảm xúc – từ câu chữ ngắt nhịp lạ, cấu trúc không theo quy tắc cho đến hình ảnh chân thực đến ám ảnh như “đi về bằng đôi mông đít chân đồng đội chân”. Chính nghệ thuật ngôn ngữ mang tính khẩu ngữ, tự nhiên và dung dị ấy đã góp phần làm nổi bật chiều sâu cảm xúc. Bên cạnh đó, hình ảnh người mẹ được nâng tầm thành biểu tượng văn hóa dân tộc, mang “chất của mẹ dương líu lao” – mềm mại, kiên cường, tồn tại cùng dân tộc. Qua bài thơ, Nguyễn Ba không chỉ kể chuyện một người mẹ, mà kể câu chuyện của cả một thế hệ mẹ Việt Nam – những người đã sống, chịu đựng và yêu thương bằng cả cuộc đời mình. Tác phẩm vừa là bản anh hùng ca, vừa là khúc ru buồn, đánh thức lòng tri ân sâu sắc trong mỗi chúng ta.

Câu 1: Kiểu văn bản của văn bản trên là nghị luận.


Câu 2: Vấn đề được đề cập đến trong văn bản là việc nhìn nhận và đánh giá con người, cũng như tầm quan trọng của việc tự biết mình.


Câu 3: Để làm sáng tỏ cho vấn đề, tác giả đã sử dụng những bằng chứng như:


- Câu ca dao "Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng"

- Câu tục ngữ "Năm ngón tay có ngón dài ngón ngắn"

- Câu Kiều "Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao"


Câu 4: Mục đích và nội dung của văn bản trên là:


- Mục đích: Giúp người đọc hiểu được tầm quan trọng của việc tự biết mình và nhìn nhận con người một cách khách quan.

- Nội dung: Văn bản bàn về việc nhìn nhận và đánh giá con người, cũng như tầm quan trọng của việc tự biết mình để sửa mình và phát triển.


Câu 5: Nhận xét cách lập luận của tác giả trong văn bản:


- Tác giả sử dụng lập luận chặt chẽ và logic.

- Tác giả đưa ra các ví dụ và bằng chứng cụ thể để minh họa cho quan điểm của mình.

- Tác giả cũng sử dụng ngôn ngữ hình ảnh và biểu đạt giàu cảm xúc để truyền tải thông điệp.

- Cách lập luận của tác giả giúp người đọc dễ dàng hiểu và tiếp nhận thông điệp của văn bản.

câu 1

Nhận định của Paulo Coelho trong cuốn Nhà giả kim “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần” là một thông điệp sâu sắc về ý chí và nghị lực trong cuộc sống. Nó nhắc nhở chúng ta rằng thất bại là điều không thể tránh khỏi trong hành trình chinh phục ước mơ. Tuy nhiên, điều quan trọng là chúng ta phải luôn đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã để tiếp tục cố gắng và tiến bước. Sự kiên trì và lòng dũng cảm đối mặt với thử thách là những yếu tố quan trọng giúp con người vượt qua khó khăn. Trong cuộc sống, sẽ có những lúc chúng ta cảm thấy mệt mỏi, thất vọng và muốn từ bỏ, nhưng nếu không vượt qua được những khó khăn ấy, ta sẽ không thể đạt được thành công. Câu nói của Paulo Coelho khuyến khích chúng ta không ngừng phấn đấu, dù có thất bại bao nhiêu lần đi nữa. Thực tế, mỗi thất bại đều mang lại cho chúng ta những bài học quý giá, giúp ta trưởng thành hơn và gần hơn với mục tiêu của mình. Do đó, bí mật của cuộc sống chính là khả năng đứng dậy và tiếp tục hành động sau mỗi lần ngã, để cuối cùng vươn đến thành công.

câu 2

Bảo kính cảnh giới (Bài 33) của Nguyễn Trãi là một bài thơ mang tính triết lý sâu sắc, thể hiện quan niệm sống của tác giả về nhân sinh, sự nghiệp và cuộc đời. Bài thơ không chỉ phản ánh tư tưởng của một trí thức Nho giáo mà còn thể hiện tâm hồn thanh cao, phóng khoáng và đầy suy tư của một người đã trải qua nhiều sóng gió trong cuộc sống.


Nội dung bài thơ thể hiện sự trân trọng đối với những giá trị cao quý của con người, đồng thời nhấn mạnh sự an phận và biết “chấp nhận” trong cuộc đời. Nguyễn Trãi không ngừng nhắc đến sự khiêm tốn, bình dị, đề cao lối sống trung thực và nhẫn nhịn. Thông qua những hình ảnh ẩn dụ như “Hé cửa đêm chờ hương quế lọt” hay “Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan”, tác giả khắc họa một cuộc sống giản dị, thanh tĩnh và an lạc, không màng danh lợi. Câu “danh lợi bất như nhàn” đã cho thấy sự chán ngán đối với những vinh hoa, phú quý, chỉ mong muốn có một cuộc sống bình yên và thanh thản.


Về mặt nghệ thuật, bài thơ sử dụng những hình ảnh ẩn dụ tinh tế và những biểu tượng mang đậm phong cách thơ Nho giáo. Ngôn ngữ trong bài thơ vừa giản dị, vừa sâu sắc, có sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố thiên nhiên và tư tưởng nhân sinh. Những hình ảnh như “hương quế lọt”, “bóng hoa tan” đã gợi lên cảm giác thanh thoát, tinh khiết, phù hợp với tâm hồn của một người trí thức sống giữa xã hội đầy sóng gió.


Ngoài ra, bài thơ còn thể hiện một cái nhìn sâu sắc về quan niệm “dùng người”, từ đó đưa ra những khuyến nghị về cách sống đúng đắn, phù hợp với đạo lý. Qua đó, Nguyễn Trãi muốn nhấn mạnh rằng một cuộc đời thành công không chỉ ở danh lợi mà quan trọng hơn là sự bình an và sống theo lẽ phải.


Tóm lại, bài thơ “Bảo kính cảnh giới” vừa mang đậm triết lý sống của Nguyễn Trãi, vừa thể hiện một phong cách thơ Nho giáo tinh tế, sâu sắc. Câu chuyện về cuộc sống an nhàn và ý chí chịu đựng trước khó khăn sẽ là bài học quý giá cho mỗi chúng ta trong cuộc sống hôm nay.