NGUYỄN YẾN CHI
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Dù sinh ra trong cảnh bần cùng quay quắt, nơi cái đói vây lấy từng bữa ăn mòn mỏi của gia đình anh đĩ Chuột, bé Gái không hề ra dáng càu nhàu hay chán nản. Ngược lại, chi tiết cô bé hớn hở chạy về reo lên mừng rỡ vì tưởng được ăn bát "chè" nóng hổi mà mẹ nấu (thực chất chỉ là nồi cám gạo loãng chống đói) cho thấy nét ngây thơ, trong sáng đặc trưng của tuổi thơ. Niềm vui rất đỗi tầm thường, nhỏ nhoi ấy — "Sướng quá! Lại được ăn chè kia chứ!" — lại nhói lên thành nỗi xót xa trong lòng người đọc về một thực trạng đói nghèo đến cùng cực. Qua nhân vật bé Gái, Nam Cao không chỉ lột tả bức tranh hiện thực xã hội tăm tối trước Cách mạng mà còn trân trọng nâng niu vẻ đẹp tâm hồn mộc mạc, sự dễ thỏa mãn và tình cảm gắn bó của những đứa trẻ nghèo với gia đình.
Câu 2:
Trong những năm gần đây nạn Bạo lực học đường là một vấn nạn lớn, làm đau đầu các nhà quản lí giáo dục và các cơ quan chức năng có thẩm quyền. Gây bức xúc và gây tâm lý hoang mang cho phụ huynh, thầy cô và học sinh. Vậy làm thế nào để giải quyết được tình trạng này.
Chỉ cần lên Google đánh cụm từ "Học sinh đánh nhau" thì chỉ cần (0,08 giây) thì kết quả google tìm kiếm là 3.140.000 cụm từ liên quan đến việc học sinh dùng bạo lực để giải quyết những khúc mắc. Đây là một con số thật khủng khiếp và đáng báo động. Hoặc chỉ cần vào Youtube bạn sẽ thấy những hình ảnh, những thước phim bạo lực do học sinh quay lại và tung lên mạng. Những thước phim quay cảnh đấm đá vô nhân tính của các cô cậu mang đồng phục học trò đang đấm đá, xé áo, lột quần, túm tóc gây ám ảnh cho người xem và nỗi đau về một thế hệ tuổi trẻ với những nhân cách đang bị băng hoại nghiêm trọng. Những nguyên nhân dẫn đến hành vi bạo lực thường là những hành vi do: học sinh cá biệt thành lập băng nhóm để ức hiếp bạn bè; do ảnh hưởng từ phim ảnh bạo lực; do ghen tị về thành tích học tập; do mâu thuẫn nhỏ trong bạn bè dẫn đến xích mích, nổi nóng thiếu kiềm chế; bên cạnh đó là những nguyên nhân cỏn con như "thích thì đánh cho nó chừa", "nhìn đểu".
Nguyên nhân của những vụ việc trên có thể do học sinh bị tiêm nhiễm từ lối cư xử của các đối tượng bên ngoài nhà trường, thậm chí là những người lớn trong gia đình. Nhiều học sinh có cha mẹ hoặc người thân là những người hành nghề tự do trong xã hội và có cách cư xử không đúng chuẩn mực. Chính những thói quen ứng xử hằng ngày của họ đã vô tình gieo trong đầu các em những suy nghĩ không tốt, dẫn đến việc các em có lối cư xử, hành xử không hay trong nhà trường với bạn bè.Bạo lực học đường để lại những hậu quả nghiêm trọng, khó lường:Gây tổn thương và gây dư chấn về tinh thần và thể xác: học sinh bị bạn bè đánh đập rồi bị quay phim tung lên mạng sẽ dễ bị chấn thương tâm lí, sốc về tinh thần, cảm thấy quê với bạn bè, xấu hổ với mọi người xung quanh. Đau lòng hơn nữa khi mà những học sinh bị đánh, thầy cô giáo bị hành hung không phải xây xát nhẹ mà phải nằm viện với di chứng về tổn thương thể xác. Bị gãy tay chân, bị chấn thương sọ não. Thậm chí bị hoảng loạn, bị thần kinh, bỏ học, bỏ dạy.
Giải pháp nào cho Bạo lực học đường? Có Bốn giải pháp cấp thiết xóa bạo lực học đường:Toàn xã hội cần phải củng cố, nâng cao chất lượng môi trường xã hội, văn minh tiến bộ. Cần có biện pháp quản lý, ngăn chặn và chế tài hiệu quả những hoạt động có tác hại đến môi trường văn hóa xã hội. Nghiêm cấm các game bạo lực.Quan tâm nâng cao văn hóa gia đình. Trong từng gia đình, người lớn phải làm gương, giao tiếp ứng xử đúng mực, mạnh dạn lên án và loại bỏ bạo lực ra khỏi đời sống gia đình.Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ ba môi trường giáo dục: gia đình – nhà trường – xã hội. Các cơ quan báo chí phải quan tâm thỏa đáng đối với lĩnh vực văn hóa, đạo đức và chấp hành luật pháp của mọi người dân.Xã hội và ngành giáo dục cần xác định rõ lại vai trò, vị trí của người thầy, quyền hạn và trách nhiệm trong nhiệm vụ giáo dục đạo đức học sinh. Người thầy và nhà trường phải được bảo vệ danh dự và có đủ cơ chế để răn đe học sinh.Nhà trường cần phát huy trách nhiệm đội ngũ giáo viên chủ nhiệm trong việc kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của từng cá nhân học sinh.Tình thương, trách nhiệm là phương thuốc hiệu nghiệm nhất ngăn chặn bạo lực học đường.
Theo bản thân tôi: Học sinh cần nghiêm túc kiểm điểm lại bản thân, biết kiềm chế được, biết nhận lỗi khi mình làm sai và biết vị tha khi bạn nhận ra lỗi lầm.Với học sinh cá biệt, cần có sự quan tâm của gia đình - nhà trường - xã hội. Nếu tiếp tục vi phạm cần xử lý nghiêm bằng cách cho đi cải tạo, giáo dục nhân cách. Vì một môi trường học đường lành mạnh, Học sinh "HÃY NÓI KHÔNG VỚI BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG". Mỗi người lớn trong gia đình phải là tấm gương lớn cho con em noi theo.
Câu 1.
Thể loại: truyện ngắn.
Câu 2.
Phương thức biểu đạt chính: tự sự.
Câu 3.
- HS chỉ ra được biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn: “Khi anh gặp chị, thì đôi bên đã là cảnh xế muộn chợ chiều cả rồi, cũng dư dãi mà lấy nhau tự nhiên.”: biện pháp tu từ ẩn dụ (được thể hiện qua cụm từ “cảnh xế muộn chợ chiều”).
- Tác dụng: “Cảnh xế muộn chợ chiều” là cảnh chợ khi tàn cuộc, không còn ồn ào, sôi nổi nữa. Tác giả sử dụng cụm từ này để:
+ Chỉ cảnh quá lứa lỡ thì của anh chị Duyện khi đến với nhau.
+ Giúp cho câu văn trở nên tế nhị, giàu sức gợi hình hơn.
+ Thể hiện sự cảm thương của tác giả dành cho những con người nhỏ bé, đáng thương, kém may mắn.
Câu 4.
Nội dung: Qua truyện ngắn Nhà nghèo, Tô Hoài đã tái hiện chân thực, sâu sắc hiện thực khốn khó của một gia đình nghèo. Trong đó, tác giả tập trung khắc họa cô bé Gái hiểu chuyện mà yểu mệnh. Qua đó, Tô Hoài thể hiện sự đồng cảm, xót thương cho những kiếp người bé mọn, bất hạnh và những đứa trẻ đáng thương.
Câu 5:
Chi tiết em cảm thấy ấn tượng nhất là chi tiết bé Gái mất ở cuối truyện. Bởi chi tiết này khơi lên trong em nỗi buồn, sự cảm thương sâu sắc dành cho một cô bé ngoan ngoãn, hiểu chuyện mà yểu mệnh, đáng thương.
- Cấu hình electron nguyên tử: 1s22s22p3.
⇒ Vị trí của nitrogen trong bảng tuần hoàn: ô thứ 7, chu kì 2, nhóm VA.
a) H+ + OH- → H2O
b) Ba2+ + SO42- → BaSO4↓
c) CO32- + 2H+ → CO2↑ + H2O
d) Cu + 2Fe3+ → Cu2+ + 2Fe2+
- Hiện tượng phú dưỡng hóa: Khi hàm lượng nitrogen trong nước đạt 300 μg/L và hàm lượng phosphorus đạt 20 μg/L.
- Nguyên nhân: sự dư thừa dinh dưỡng do
+ Nước thải (nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt) được đưa đến ao, hồ qua cống dẫn nước hoặc chảy tràn trên mặt đất khi mưa lũ.
+ Dư thừa thức ăn chăn nuôi ở đầm nuôi trồng thủy sản.
- Tác hại
+ Cản trở sự hấp thụ ánh sáng mặt trời vào nước giảm sự quang hợp của thực vật thủy sinh
+ Rong, tảo biển phát triển mạnh thiếu nguồn oxygen trầm trọng cho các loài khác (đặc biệt là tôm, cá) gây mất cân bằng sinh thái.
+ Gây ô nhiễm môi trường nước, không khí, tạo bùn lắng xuống lòng ao, hồ.
1) N2 + O2 -> 2NO
2) 2NO + O2 -> 2NO2
3) 4NO2 + O2 + 2H2O -> 4HNO3
4) NH3 + HNO3 -> NH4NO3
- 1. Nồng độ chất phản ứng:
- Khi tăng nồng độ: Tốc độ phản ứng tăng.
- Giải thích: Khi nồng độ chất phản ứng tăng lên, số lượng các hạt phản ứng trong một đơn vị thể tích sẽ nhiều hơn. Điều này dẫn đến tần số va chạm giữa các hạt tăng lên, làm tăng khả năng xảy ra các va chạm hiệu quả, từ đó phản ứng diễn ra nhanh hơn.
- 2. Nhiệt độ:
- Khi tăng nhiệt độ: Tốc độ phản ứng tăng.
- Giải thích: Nhiệt độ cao làm tăng động năng của các phân tử. Các phân tử chuyển động nhanh hơn, do đó tần số va chạm giữa chúng tăng. Quan trọng hơn, nhiệt độ cao làm tăng tỷ lệ các phân tử có đủ năng lượng (năng lượng hoạt hóa) để tạo ra va chạm hiệu quả, dẫn đến tốc độ phản ứng tăng lên đáng kể.
- 3. Áp suất:
- Khi tăng áp suất (đối với chất khí): Tốc độ phản ứng tăng.
- Giải thích: Đối với các phản ứng có chất khí tham gia, tăng áp suất làm giảm thể tích, khiến các phân tử khí bị nén lại gần nhau hơn. Điều này làm tăng tần số va chạm giữa các phân tử, dẫn đến tốc độ phản ứng tăng lên.
- 4. Diện tích bề mặt tiếp xúc:
- Khi tăng diện tích bề mặt: Tốc độ phản ứng tăng.
- Giải thích: Đối với các phản ứng có chất rắn tham gia, việc tăng diện tích bề mặt (ví dụ: nghiền nhỏ hạt rắn) giúp tăng số lượng các hạt tiếp xúc với nhau. Nhiều hạt hơn đồng nghĩa với tần số va chạm tăng, làm tăng tốc độ phản ứng.
- 5. Chất xúc tác:
- Khi thêm chất xúc tác: Tốc độ phản ứng tăng.
- Giải thích: Chất xúc tác là chất làm thay đổi tốc độ phản ứng mà không bị tiêu hao trong quá trình phản ứng. Chất xúc tác dương giúp làm giảm năng lượng hoạt hóa cần thiết để phản ứng xảy ra, hoặc tạo ra một con đường phản ứng khác với năng lượng hoạt hóa thấp hơn. Điều này làm tăng tần số va chạm hiệu quả và đẩy nhanh tốc độ phản ứng.
- 1. Nồng độ chất phản ứng:
- Khi tăng nồng độ: Tốc độ phản ứng tăng.
- Giải thích: Khi nồng độ chất phản ứng tăng lên, số lượng các hạt phản ứng trong một đơn vị thể tích sẽ nhiều hơn. Điều này dẫn đến tần số va chạm giữa các hạt tăng lên, làm tăng khả năng xảy ra các va chạm hiệu quả, từ đó phản ứng diễn ra nhanh hơn.
- 2. Nhiệt độ:
- Khi tăng nhiệt độ: Tốc độ phản ứng tăng.
- Giải thích: Nhiệt độ cao làm tăng động năng của các phân tử. Các phân tử chuyển động nhanh hơn, do đó tần số va chạm giữa chúng tăng. Quan trọng hơn, nhiệt độ cao làm tăng tỷ lệ các phân tử có đủ năng lượng (năng lượng hoạt hóa) để tạo ra va chạm hiệu quả, dẫn đến tốc độ phản ứng tăng lên đáng kể.
- 3. Áp suất:
- Khi tăng áp suất (đối với chất khí): Tốc độ phản ứng tăng.
- Giải thích: Đối với các phản ứng có chất khí tham gia, tăng áp suất làm giảm thể tích, khiến các phân tử khí bị nén lại gần nhau hơn. Điều này làm tăng tần số va chạm giữa các phân tử, dẫn đến tốc độ phản ứng tăng lên.
- 4. Diện tích bề mặt tiếp xúc:
- Khi tăng diện tích bề mặt: Tốc độ phản ứng tăng.
- Giải thích: Đối với các phản ứng có chất rắn tham gia, việc tăng diện tích bề mặt (ví dụ: nghiền nhỏ hạt rắn) giúp tăng số lượng các hạt tiếp xúc với nhau. Nhiều hạt hơn đồng nghĩa với tần số va chạm tăng, làm tăng tốc độ phản ứng.
- 5. Chất xúc tác:
- Khi thêm chất xúc tác: Tốc độ phản ứng tăng.
- Giải thích: Chất xúc tác là chất làm thay đổi tốc độ phản ứng mà không bị tiêu hao trong quá trình phản ứng. Chất xúc tác dương giúp làm giảm năng lượng hoạt hóa cần thiết để phản ứng xảy ra, hoặc tạo ra một con đường phản ứng khác với năng lượng hoạt hóa thấp hơn. Điều này làm tăng tần số va chạm hiệu quả và đẩy nhanh tốc độ phản ứng.
câu 1:
Nhận định của Mark Twain là lời nhắc nhở sâu sắc về tầm quan trọng của việc dám vượt qua giới hạn bản thân và theo đuổi ước mơ. Hối tiếc về những cơ hội bỏ lỡ, những trải nghiệm chưa thử, thường nặng nề hơn những sai lầm đã phạm phải, bởi chúng là những "bến đỗ an toàn" mà ta không dám rời bỏ, dẫn đến cuộc sống thiếu vắng sự khám phá và phát triển. Để sống trọn vẹn, chúng ta cần "tháo dây, nhổ neo", dũng cảm bước ra thế giới để trải nghiệm, học hỏi, và kiến tạo nên phiên bản tốt đẹp hơn của chính mình.
câu 2:
Trong nền văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1930–1945, Thạch Lam là cây bút nổi bật với phong cách trữ tình sâu lắng, hướng nội, giàu lòng nhân ái. Không ồn ào, gay gắt như nhiều nhà văn đương thời, Thạch Lam nhẹ nhàng đi vào đời sống con người bằng sự quan sát tinh tế và đồng cảm sâu sắc, đặc biệt là với những số phận phụ nữ nghèo, chịu nhiều thiệt thòi. Trong truyện ngắn “Trở về”, hình ảnh người mẹ hiện lên như một biểu tượng của tình mẫu tử bền bỉ, thiêng liêng, giàu đức hy sinh nhưng lại cô đơn, quạnh quẽ giữa sự vô tâm của người con trai – nhân vật Tâm. Đây là hình tượng khiến người đọc không khỏi xúc động và trăn trở.
Ngay từ những dòng đầu đoạn trích, người mẹ hiện lên qua bối cảnh của ngôi nhà cũ – “sụp thấp hơn một chút, mái gianh xơ xác hơn” – như chính cuộc đời tảo tần, nghèo khổ của bà. Bao năm tháng con trai đi học, đi làm ở thành phố, bà vẫn sống âm thầm nơi quê nghèo, trong căn nhà cũ kỹ, thiếu thốn. Cuộc sống vất vả ấy không làm bà than phiền hay oán trách, bởi trong bà luôn có một niềm tin, một sự chờ đợi con trở về. Khi gặp lại con, “bà cụ ứa nước mắt” – giọt nước mắt của mừng rỡ, tủi thân, hạnh phúc xen lẫn xót xa sau sáu năm dài xa cách. Đó không chỉ là giọt nước mắt của tình mẫu tử mà còn là giọt nước mắt của một người mẹ nghèo cả đời chỉ biết sống vì con.
Dù đã lớn tuổi, “đã già đi nhiều”, vẫn mặc “bộ áo cũ kỹ như mấy năm trước”, bà cụ vẫn đau đáu quan tâm đến cuộc sống của con: hỏi thăm sức khỏe, chăm sóc từng lời ăn tiếng nói, mong con ở lại ăn một bữa cơm. Khi nghe tin con ốm, bà “lo quá”, nhưng lại bất lực vì không biết đường lên tỉnh – một chi tiết nhỏ mà khiến người đọc nhói lòng. Bà mẹ ấy sống âm thầm trong bóng tối của sự lạc hậu, quê mùa, chỉ biết gửi thư, gửi nhớ mong cho con, rồi âm thầm chịu đựng sự thờ ơ, lạnh nhạt khi con không hồi âm.
Dù bị con trai xa cách, dửng dưng, bà vẫn luôn tìm cách níu giữ tình cảm. Bà kể về cô Trinh – người con gái vẫn chăm sóc, làm bạn với bà – một cách đầy yêu thương, có lẽ cũng để mong khơi lại trong lòng con những ký ức xưa cũ, chút tình quê còn sót lại. Nhưng tất cả chỉ nhận lại là sự nhún vai, sự lơ đãng, hờ hững của Tâm – người con trai từng được bà nuôi nấng, chăm chút từng miếng ăn giấc ngủ. Trong từng lời nói, ánh nhìn, sự chăm sóc của người mẹ ấy là cả một đời chờ đợi và hy vọng – hy vọng về một mái ấm, về sự đoàn tụ, về tình cảm mẹ con không bao giờ mất đi.
Bà cụ nghèo, cô đơn, sống một mình, không ai nương tựa ngoài cô Trinh – nhưng chưa bao giờ bà đòi hỏi con phải báo đáp hay trách móc điều gì. Khi Tâm đưa tiền, bà “run run đỡ lấy gói bạc, rơm rớm nước mắt” – một lần nữa, giọt nước mắt ấy không phải vì niềm vui vật chất mà vì nỗi buồn bị con xem nhẹ tình mẫu tử, coi như “trả nợ” cho một lần về quê. Và khi Tâm bước đi, bà chỉ biết “nhìn theo khẩn khoản”, mong con nán lại, ăn với mình một bữa cơm – một mong mỏi rất đỗi bình dị nhưng cũng đầy đau đáu, khắc khoải.
Qua hình ảnh người mẹ ấy, Thạch Lam đã dựng nên một hình tượng điển hình cho biết bao người mẹ Việt Nam xưa – hiền hậu, nhẫn nại, cả đời chỉ biết hy sinh vì con cái. Bà không chỉ là nhân vật trong truyện mà còn là tiếng nói nhân văn sâu sắc của tác giả: ngợi ca tình mẫu tử thiêng liêng, lên án lối sống thực dụng, vô tâm, chạy theo danh vọng mà quên đi cội nguồn của lớp người trẻ như Tâm.
Tóm lại, nhân vật người mẹ trong “Trở về” là biểu tượng đẹp đẽ của tình mẫu tử. Bằng những chi tiết giản dị, đời thường mà sâu sắc, Thạch Lam đã khắc họa thành công một người mẹ chân quê, giàu tình yêu thương nhưng cũng đầy bất hạnh. Hình ảnh ấy không chỉ khiến người đọc cảm động, mà còn thức tỉnh lương tri, khơi dậy trong mỗi người sự trân trọng với những giá trị gia đình tưởng chừng như bình dị nhất.