Nguyễn Trần Bình Nguyên

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Trần Bình Nguyên
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Hành vi của anh M là hành vi cướp giật tài sản, thuộc nhóm tội phạm xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, được quy định trong Bộ luật Hình sự. Do anh M đã đủ 18 tuổi, anh phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình

 Theo quy định pháp luật, cướp giật tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có thể bị xử lý bằng các hình thức như phạt tù tùy theo mức độ nghiêm trọng của vụ việc

Ngoài ra, anh M có thể phải bồi thường thiệt hại cho nạn nhân nếu gây ra tổn thất về tài sản hoặc tinh thần

 Việc xử lý nghiêm minh những hành vi này nhằm răn đe và đảm bảo an ninh, trật tự trong xã hội

a) Việc anh T nộp chậm hồ sơ khai thuế so với thời gian quy định đã vi phạm nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật. Hành vi này có thể khiến doanh nghiệp bị phạt hành chính, bị tính tiền chậm nộp thuế và ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của công ty. Việc chậm trễ trong kê khai thuế còn gây khó khăn cho cơ quan thuế trong việc quản lý nguồn thu ngân sách, ảnh hưởng đến sự minh bạch và công bằng trong hệ thống thuế của Nhà nước

b) Doanh nghiệp A sản xuất hàng giả và bán ra thị trường đã vi phạm nghiêm trọng quyền tự do kinh doanh hợp pháp, gây ảnh hưởng tiêu cực đến người tiêu dùng và nền kinh tế. Hành vi này không chỉ làm giảm niềm tin của khách hàng mà còn gây thiệt hại cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính. Hàng giả có thể kém chất lượng, ảnh hưởng đến sức khỏe và an toàn của người tiêu dùng. Doanh nghiệp A có thể bị xử phạt hành chính, thu hồi giấy phép kinh doanh hoặc thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây hậu quả nghiêm trọng

Trong xã hội hiện đại, vấn đề bình đẳng giới ngày càng được quan tâm và trở thành một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá sự phát triển văn minh của một quốc gia. Bình đẳng giới được hiểu là nam và nữ có quyền, nghĩa vụ và cơ hội như nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống. Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau.

Trước hết, cần khẳng định rằng bình đẳng giới mang ý nghĩa vô cùng to lớn. Nó không chỉ giúp đảm bảo quyền con người mà còn tạo điều kiện để mỗi cá nhân phát huy tối đa năng lực của mình. Khi phụ nữ được học tập, làm việc và tham gia vào các hoạt động xã hội như nam giới, xã hội sẽ trở nên công bằng, tiến bộ và phát triển hơn. Bên cạnh đó, bình đẳng giới còn góp phần xóa bỏ những định kiến lạc hậu như “trọng nam khinh nữ”, giúp xây dựng những mối quan hệ gia đình hài hòa, tôn trọng lẫn nhau.

Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy bất bình đẳng giới vẫn còn xuất hiện ở nhiều nơi. Ở một số vùng, phụ nữ vẫn ít có cơ hội học tập và việc làm ổn định. Trong gia đình, nhiều người phụ nữ phải gánh vác phần lớn công việc nội trợ mà không được ghi nhận đúng mức. Thậm chí, vẫn còn những quan niệm sai lệch về vai trò của phụ nữ trong xã hội, khiến họ bị hạn chế cơ hội phát triển bản thân.

Để khắc phục tình trạng này, cần có sự chung tay của toàn xã hội. Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và thúc đẩy bình đẳng giới. Nhà trường và gia đình cần giáo dục thế hệ trẻ về ý thức tôn trọng, không phân biệt giới tính. Đồng thời, mỗi cá nhân cũng cần thay đổi suy nghĩ, xóa bỏ định kiến và đối xử công bằng với mọi người.

Là một học sinh, em nhận thấy mình cần góp phần nhỏ bé vào việc xây dựng xã hội bình đẳng bằng cách tôn trọng bạn bè, không phân biệt nam nữ và ủng hộ những hành động tích cực vì bình đẳng giới. Chỉ khi tất cả cùng chung tay, bình đẳng giới mới thực sự trở thành hiện thực, góp phần tạo nên một xã hội công bằng, văn minh và phát triển bền vững.

Câu 1. 

Luận đề: Ý nghĩa của chi tiết cái bóng trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương

Câu 2. 

- Tình huống truyện độc đáo: Người chồng sau bao năm đi lính theo lệnh của triều đình, may mắn thoát chết trở về, những mong được ôm ấp đứa con thì đứa con lại kể về người cha của mình ở nhà, khiến cho Trương Sinh nghi ngờ vợ.

- Chi tiết cái bóng chính là yếu tố quan trọng làm nên tình huống đầy bi kịch này. 

Câu 3. 

Mục đích của việc người viết nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu văn bản là để dẫn dắt, tạo đòn bẩy cho việc tập trung phân tích chi tiết cái bóng.

Câu 4. 

- Chi tiết khách quan: Ngày xưa chưa có tivi, đến cả “rối hình" cũng không có, tối tối con cái thường quây quần quanh cha mẹ, ông bà, chơi trò soi bóng trên tường, nhờ ánh sáng ngọn đèn dầu, mỡ.

- Chi tiết chủ quan: Có lẽ vì muốn con luôn luôn cảm thấy người cha vẫn có mặt ở nhà, và để tự an ủi mình, thấy mình với chồng vẫn luôn bên nhau như hình với bóng, nên người vợ đã chỉ vào cái bóng của mình mà nói với con rằng đó là cha của Đản - tên của đứa con.

- Mối quan hệ giữa hai cách trình bày trên trong văn bản: 

+ Phần trình bày ý kiến khách quan là cơ sở để dẫn dắt tới ý kiến chủ quan của người viết, tạo nên sự thuyết phục cho ý kiến chủ quan.

+ Phần trình bày ý kiến chủ quan giúp người viết thể hiện rõ được ý kiến, quan điểm của mình trong quá trình đọc hiểu tác phẩm, góp phần làm rõ luận đề của bài viết, tạo nên sự thống nhất giữa nhan đề và nội dung bài viết, tạo nên sức thuyết phục lớn đối với người đọc. 

Câu 5. 

Người viết cho rằng chi tiết cái bóng là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc vì:

- Nó bắt nguồn từ một trò chơi dân gian, hết sức phổ biến, gần gũi với nhân dân. 

- Nó thể hiện tình yêu của Vũ Nương dành cho con, cho chồng. 

=> Người kể chuyện đã khéo léo đẩy một trò chơi dân gian lên làm một cái cớ để xây dựng một tình huống truyện độc đáo, góp phần bộc lộ sâu sắc chủ đề, tư tưởng của tác phẩm - lên án thói ghen tuông mù quáng như một căn bệnh truyền đời của nhân loại. 

Câu 1

Bài thơ “Ba tôi” của Đỗ Kim Vũ đã để lại trong em nhiều cảm xúc sâu lắng về tình cha – một tình cảm âm thầm nhưng vô cùng lớn lao. Hình ảnh người ba gắn liền với chiếc xe đạp giản dị đã trở thành biểu tượng của sự yêu thương, che chở và hi sinh. Từ những ngày thơ bé được ba đón đưa đi học, dỗ dành khi nhớ mẹ, cho đến lúc lớn lên được ba dạy cách đi xe, cách đứng vững trước khó khăn, em cảm nhận rõ tình yêu thương bền bỉ của ba. Những câu thơ mộc mạc nhưng chân thành đã khắc họa một người cha tần tảo, chịu nhiều vất vả nhưng luôn mong con có cuộc sống tốt đẹp hơn mình. Đặc biệt, chi tiết “Ba thở dài nhè nhẹ giữa đêm thâu” khiến em xúc động, bởi đó là nỗi lo lắng thầm lặng của người cha dành cho con. Bài thơ giúp em hiểu rằng tình cha không ồn ào mà sâu sắc, không phô trương mà bền chặt. Qua đó, em càng thêm trân trọng, biết ơn cha mẹ và tự nhắc nhở bản thân phải cố gắng học tập, sống tốt để không phụ lòng những hi sinh ấy.

Câu 2

Trong cuộc sống hiện đại, khi công nghệ và mạng xã hội phát triển mạnh mẽ, nhiều bạn trẻ đang dần xa rời các giá trị lịch sử và văn hoá truyền thống. Đây là một thực trạng đáng lo ngại, bởi lịch sử và văn hoá chính là cội nguồn tạo nên bản sắc dân tộc. Vì vậy, việc khơi dậy sự quan tâm của giới trẻ đối với những giá trị này là vô cùng cần thiết.

Trước hết, cần đổi mới cách tiếp cận lịch sử và văn hoá sao cho gần gũi, hấp dẫn hơn với giới trẻ. Thay vì chỉ học qua sách vở khô khan, nhà trường có thể tổ chức các hoạt động trải nghiệm như tham quan di tích, bảo tàng, hoặc học lịch sử qua phim ảnh, trò chơi, công nghệ thực tế ảo. Khi được “chạm” vào lịch sử một cách sinh động, các bạn trẻ sẽ dễ dàng cảm nhận và ghi nhớ hơn.

Bên cạnh đó, mạng xã hội – vốn là “thế giới quen thuộc” của giới trẻ – cũng có thể trở thành công cụ hữu ích để lan tỏa giá trị văn hoá. Những video ngắn, hình ảnh đẹp hay câu chuyện thú vị về lịch sử nếu được truyền tải sáng tạo sẽ thu hút sự chú ý của các bạn. Nhiều bạn trẻ hiện nay đã thành công trong việc chia sẻ kiến thức lịch sử theo cách mới mẻ, chứng tỏ rằng nếu biết cách, lịch sử không hề nhàm chán.

Ngoài ra, gia đình và nhà trường cần giáo dục ý thức trân trọng truyền thống từ sớm. Khi mỗi người hiểu rằng lịch sử không chỉ là quá khứ mà còn là niềm tự hào dân tộc, họ sẽ có trách nhiệm gìn giữ và phát huy. Đồng thời, bản thân mỗi bạn trẻ cũng cần chủ động tìm hiểu, không nên chỉ chạy theo những giá trị hiện đại mà quên đi cội nguồn.

Tóm lại, để khơi dậy sự quan tâm của giới trẻ đối với lịch sử và văn hoá, cần có sự kết hợp giữa đổi mới phương pháp giáo dục, tận dụng công nghệ và nâng cao ý thức cá nhân. Khi giới trẻ hiểu và yêu lịch sử, đó chính là nền tảng vững chắc để xây dựng một tương lai phát triển nhưng vẫn giữ gìn bản sắc dân tộc.

Câu 1:Đền Ngọc Sơn nằm trên một gò đất cao phía Đông Bắc của hồ Hoàn Kiếm, trong trung tâm thành phố Hà Nội.

Câu 2:Các công trình kiến trúc gắn liền với đền Ngọc Sơn được nhắc đến trong văn bản là cầu Thê Húc, đình Trấn Ba, Đài Nghiên, Tháp Bút.

Câu 3:Mục đích của văn bản "Đền Ngọc Sơn − điểm nhấn văn hoá giữa Hà Nội" là giới thiệu về giá trị lịch sử, kiến trúc và ý nghĩa văn hóa của đền Ngọc Sơn như một biểu tượng đặc trưng của Hà Nội, góp phần làm nổi bật nét đẹp văn hóa và truyền thống tín ngưỡng của thủ đô.

Câu 4:Tác giả giới thiệu đền Ngọc Sơn qua các khía cạnh như vị trí địa lý, lịch sử xây dựng, công trình kiến trúc, ý nghĩa văn hóa, tín ngưỡng và vai trò trong đời sống người dân. Cách giới thiệu của tác giả rất sinh động, giàu hình ảnh, giúp người đọc dễ hình dung và cảm nhận vẻ đẹp, giá trị của đền. Tác giả còn kết hợp mô tả cảnh quan, truyền thống và cảm xúc, tạo nên sự gần gũi và thiêng liêng cho đền Ngọc Sơn.

Câu 5:Các di tích lịch sử – văn hóa đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống hiện nay vì chúng giúp chúng ta hiểu rõ hơn về quá khứ, truyền thống và giá trị của dân tộc. Những di tích này còn là nơi giữ gìn nét đẹp văn hóa, góp phần giáo dục lòng tự hào, tinh thần đoàn kết và ý thức giữ gìn bản sắc dân tộc. Ngoài ra, chúng còn là điểm tham quan, du lịch hấp dẫn, góp phần phát triển kinh tế và nâng cao đời sống tinh thần của cộng đồng.

Câu 1: Biện pháp bảo vệ và phát huy giá trị các di tích lịch sử

Di tích lịch sử là những bằng chứng quan trọng về quá trình hình thành và phát triển của dân tộc. Bảo vệ và phát huy giá trị các di tích là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Dưới đây là một số biện pháp thiết thực:

Trước tiên, cần nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của di tích lịch sử thông qua giáo dục và truyền thông. Các trường học nên tổ chức những buổi học ngoài trời tại di tích, kết hợp với các hoạt động trải nghiệm thực tế.

Thứ hai, nhà nước cần đầu tư, trùng tu và bảo tồn di tích một cách bài bản, không làm mất đi giá trị nguyên gốc của chúng. Cần kiểm soát chặt chẽ việc khai thác du lịch tại các di tích để tránh tình trạng xâm hại và hủy hoại.

Thứ ba, các hoạt động du lịch và tham quan cần được tổ chức có quy hoạch, kết hợp giữa giữ gìn và khai thác hợp lý. Du khách cũng cần được giáo dục về ý thức bảo vệ di tích.

Tóm lại, việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích là nhiệm vụ quan trọng của mỗi cá nhân và toàn xã hội. Chúng ta cần chung tay để giữ gìn những giá trị văn hóa và lịch sử quý báu cho thế hệ mai sau.

Câu 2: Phân tích đoạn thơ

Bài thơ "Mùi cơm cháy" của Vũ Tuấn đã khắc họa hình ảnh một tuổi thơ gắn liền với ký ức quê hương đầy tình cảm. Tác giả dùng hình ảnh "mùi cơm cháy" như một biểu tượng của những ký ức thơ ấu, gắn với tình yêu gia đình và quê hương.

Từ "Mùi cơm cháy, con vẫn ăn ngày trước" đến "Chẳng nơi nào... có vị cơm năm xưa", tác giả gợi nhớ về những năm tháng gắn bó với quê nhà, với những món ăn dân dã mà thơ ấu đã quen thuộc. Các hình ảnh "có nắng, có mưa", "lời mẹ ru, ngọt ngào cay đắng" tạo nên bức tranh quê hương vừa mộc mạc, vừa đầy yêu thương.

Ngoài ra, bài thơ còn nhấn mạnh sự hi sinh thầm lặng của cha mẹ, những gian lao cực nhọc mà người con đi xa mới thấu hiểu. Nhờ quê, nhờ gia đình càng làm tăng thêm tình yêu đối với đất nước.

Tóm lại, "Mùi cơm cháy" là bài thơ chất chứa tình yêu gia đình, quê hương và tâm hồn của người con xa xứ.

Câu 1: Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thuyết minh.

Câu 2: Đối tượng thông tin được đề cập trong văn bản là Cố đô Huế – một Di sản Văn hóa thế giới với các giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc đặc sắc.

Câu 3: Câu văn trên cung cấp một mốc thời gian quan trọng (ngày 6-12-1993) và sự kiện nổi bật (Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới). Câu văn sử dụng cách trình bày nguyên nhân - kết quả: việc công nhận của UNESCO đã góp phần nâng cao vị thế của Cố đô Huế, biến nơi đây thành một trong những di tích quan trọng nhất của Việt Nam và thế giới.

Câu 4: Phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản là hình ảnh (ảnh Hoàng Thành Huế). Hình ảnh này giúp người đọc dễ hình dung về Cố đô Huế, tăng tính trực quan và làm cho nội dung trở nên sinh động, hấp dẫn hơn.

Câu 5:

  • Mục đích: Cung cấp thông tin về Cố đô Huế, nhấn mạnh giá trị lịch sử, văn hóa và vai trò của di tích này trong đời sống hiện nay.
  • Nội dung: Văn bản giới thiệu về Cố đô Huế với các công trình kiến trúc tiêu biểu, giá trị văn hóa - lịch sử, sự giao thoa văn hóa, cảnh quan thiên nhiên, cũng như sự công nhận của UNESCO đối với di sản này.

- Về kinh tế:

+ Nhật Bản duy trì vị trí thứ hai thế giới về kinh tế từ cuối thế kỉ XX đến năm 2010.

+ Các lĩnh vực sản xuất ô tô, tàu thuỷ, rô-bốt, công nghệ sinh học, công nghệ nano, năng lượng tái tạo, mặt hàng điện tử,... của Nhật Bản vẫn dẫn đầu thế giới. 

+ Tuy nhiên, tốc độ tăng tưởng kinh tế của Nhật Bản châm lại, không ổn định, phục hồi chậm sau các cuộc khủng hoảng năm 1997 và những năm 2008 - 2009. 

- Về xã hội: Nhật Bản phải đối phó với nhiều vấn đề xã hội như tình trạng già hoá dân số, thiếu lao động, dân số tăng trưởng âm, tỉ lệ tự tử và tội phạm gia tăng,...

- Về kinh tế:

+ Nhật Bản duy trì vị trí thứ hai thế giới về kinh tế từ cuối thế kỉ XX đến năm 2010.

+ Các lĩnh vực sản xuất ô tô, tàu thuỷ, rô-bốt, công nghệ sinh học, công nghệ nano, năng lượng tái tạo, mặt hàng điện tử,... của Nhật Bản vẫn dẫn đầu thế giới. 

+ Tuy nhiên, tốc độ tăng tưởng kinh tế của Nhật Bản châm lại, không ổn định, phục hồi chậm sau các cuộc khủng hoảng năm 1997 và những năm 2008 - 2009. 

- Về xã hội: Nhật Bản phải đối phó với nhiều vấn đề xã hội như tình trạng già hoá dân số, thiếu lao động, dân số tăng trưởng âm, tỉ lệ tự tử và tội phạm gia tăng,...