Hoàng Thanh Trúc

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Hoàng Thanh Trúc
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1. (2 điểm)

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn

– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.

– Thí sinh có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành. 

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích nhân vật Lê Tương Dực trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận

– Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: 

+ HS phân tích những nét đặc sắc về nhân vật Lê Tương Dực: 

   ++ Là hôn quân, chỉ biết ăn chơi hưởng lạc, bỏ bê dân chúng. Điều này được thể hiện qua những chi tiết: Vua bắt Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài không phải là vì đất nước, mà chỉ vì ham muốn cá nhân; vua quan ra sức tăng thuế nhưng không chăm lo đời sống của nhân dân, mặc kệ nhân dân điêu đứng vì giặc cỏ, đói khát; vua vịn cớ lo việc Cửu Trùng Đài mà đẩy hết việc nước cho các quan.

   ++ Là vị vua nhu nhược, chấp mê bất ngộ. Khi Trịnh Duy Sản ra sức can gián, nói rõ sự tình ngoài cung với vua, vua đã tỏ rõ sự chán chường, ghét bỏ và cuối cùng là tức giận tới mức rút kiếm chỉ trực giết chết Quận công Trịnh Duy Sản. 

+ HS nhận xét, đánh giá về nhân vật: Phê phán thái độ, hành động của Lê Tương Dực đối với việc trị nước: Bỏ bê, chủ quan, không chăm lo cho nhân dân khi nhân dân đói khổ, lầm than; ra sức vơ vét của dân; nhu nhược, bỏ ngoài tai lời khuyên ngăn của trung thần. 


d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau

– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.

– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.

– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. 

đ. Diễn đạt

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. 

e. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.


Câu 2. (4 điểm)

a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài

Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Bệnh vô cảm của giới trẻ hiện nay. 

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận

– Xác định được các ý chính của bài viết.

– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:

* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.

* Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận:

– Giải thích vấn đề nghị luận.

– Thể hiện quan điểm của người viết, có thể theo một số gợi ý sau: 

– Thực trạng của vấn đề: Bệnh vô cảm xuất hiện ngày càng nhiều trong giới trẻ. (HS trích dẫn số liệu, dẫn chứng cụ thể về căn bệnh này).

– Biểu hiện: Thờ ơ, vô cảm với mọi người xung quanh.

– Nguyên nhân:

+ Sự ích kỉ cá nhân. 

+ Sự phát triển về mặt khoa học, công nghệ khiến cho con người ngày một thu hẹp không gian sống của mình lại, hầu như chỉ xoay quanh chiếc điện thoại, máy tính, dẫn đến sự đứt gãy của các mối quan hệ gia đình và xã hội. 

– Hệ quả của vấn đề: Khiến tâm hồn của người trẻ bị "nhiễm độc" ngày càng nặng, làm gia tăng những hành vi sai trái về đạo đức, pháp luật, những cảnh bạo lực; gia tăng khoảng cách giữa các mối quan hệ xã hội, thậm chí là các thế hệ trong gia đình. 

– Giải pháp:

+ Mỗi cá nhân cần loại bỏ lối sống ích kỉ, học cách quan tâm, yêu thương, chia sẻ với mọi người xung quanh nhiều hơn.

+ Gia đình cần quan tâm con trẻ hơn.

+ Nhà trường, xã hội cần tạo ra những hoạt động tích cực, hấp dẫn, ý nghĩa để thu hút các bạn trẻ nhiều hơn nhằm kích thích các bạn đóng góp, cống hiến nhiều hơn cho xã hội, góp phần bồi đắp lòng nhân ái, sự thấu hiểu và cảm thông.

* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận. 


d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau

– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.

– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.

– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. 

đ. Diễn đạt

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. 

e. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

Câu 1. 

Đoạn trích trên tái hiện lại sự việc: Quận công Trịnh Duy Sản ra sức khuyên vua Lê Tương Dực tỉnh ngộ, rời xa sắc dục và dừng việc xây dựng Cửu Trùng Đài. 

Câu 2. 

Lời độc thoại được thể hiện qua lời thoại của vua Lê Tương Dực: Lão gàn quái! hoặc Có việc gì khẩn cấp?.

Câu 3. 

- HS chỉ ra những chỉ dẫn sân khấu của vua Lê Tương Dực: cau mặt, nghĩ một lúc, nhìn Trịnh Duy Sản một cách giận dữ, rút kiếm.

- HS nhận xét, đánh giá những chỉ dẫn sân khấu của vua Lê Tương Dực: 

+ Có tác dụng mô tả chân thực, cụ thể rõ nét hơn về nhân vật Lê Tương Dực. 

+ Thể hiện rõ diễn biến tâm lí của vua Lê Tương Dực trước những lời can gián của Trịnh Duy Sản (đi từ không ưa đến tức giận đến mức như muốn giết chết Trịnh Duy Sản).

Câu 4. 

- HS xác định được biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn: Liệt kê: Kinh Bắc thì có Thôn Duy Nhạc, Ngô Văn Tổng. Đất Sơn Tây thì có Trần Tuân; Tam Đảo thì có Phùng Chương. Chúng dấy binh làm loạn, giết cả quan lại triều đình, hãm hiếp dân đen, đốt phá làng mạc. Dân gian không được an cư lạc nghiệp, ruộng nương bỏ hoang, cửi canh xao nhãng, cực khổ không biết thế nào mà kể cho hết. Tiếng oán thán nổi lên đầy trời. 

- HS phân tích được tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong đoạn văn: Khắc họa chân thực, cụ thể bối cảnh loạn lạc của đất nước ta lúc bấy giờ: Những cuộc khởi nghĩa xảy ra khắp nơi, nhân dân đói kém, loạn lạc, lầm than, bị hãm hiếp,...

Câu 5. 

- HS khái quát được bối cảnh xã hội lúc bấy giờ: Đất nước loạn lạc, nhân dân điêu đứng lầm than không chỉ vì giặc cỏ làm loạn khắp nơi, mà còn vì vua quan bỏ bê dân chúng, chấp mê bất ngộ, chỉ biết vơ vét, bắt ép dân chúng, ham mê sắc dục. (HS có thể trích dẫn đan xen những chi tiết trong tác phẩm để làm sâu sắc hơn câu trả lời của mình.)

- HS nhận xét được về vua Lê Tương Dực: Vua Lê Tương Dực là một vị hôn quân, nhu nhược và ích kỉ.

Câu 1. (2 điểm)

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn

– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.

– Thí sinh có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành. 

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích nhân vật Dung trong đoạn trích. 

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận

– Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: 

+ Dung có số phận đáng thương như những người con gái trong xã hội xưa: 

   ++ Xuất thân trong một gia đình bị sa sút kinh tế, từ nhỏ phải chịu cảnh thờ ơ, hờ hững của gia đình. 

   ++ Không được coi trọng, bị coi như một món hàng để kiếm chác: bị mẹ già bán cho một nhà giàu để lấy mấy trăm đồng bạc.

   ++ Ở nhà chồng thì không được chồng quan tâm, yêu thương, hai người em chồng thì thi nhau làm cho nàng bị mắng thêm, mẹ chồng thì ghê gớm, suốt ngày mắng mỏ, chửi rủa. 

   ++ Khổ cực, tủi thân, nàng viết thư về cho gai đình nhưng cha mẹ nàng cũng không ai hồi âm, quan tâm nàng. Thậm chí, nàng đánh liều lấy trộm tiền của mẹ chồng để về nhà mẹ đẻ thì lại bị chính mẹ đẻ đay nghiến.

   ++ Trước cảnh sống khổ sở, nàng đã chọn nhảy sông nhưng không chết. Kết cục nàng vẫn đành vâng lời mà về nhà với mẹ chồng. 

=> Đặt trong mối quan hệ với nhan đề, chúng ta có thể thấy, hai lần chết của Dung, thì lần thứ nhất chính là cái chết về thể xác không thành, còn cái chết thứ hai, có lẽ chính là cái chết về mặt tinh thần khi nàng chấp nhận quay về nhà với mẹ chồng. (HS bàn luận về cái chết về mặt tinh thần theo quan điểm, cách lí giải của mình.)

+ Nhận xét về phương diện nghệ thuật: Có sự kết hợp giữa nhiều điểm nhìn: Điểm nhìn của người kể chuyện, điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn bên trong của nhân vật góp phần khắc họa chân thực, sâu sắc số phận, hoàn cảnh của nhân vật Dung.


d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau

– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.

– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.

– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. 

đ. Diễn đạt

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. 

e. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.


Câu 2. (4 điểm)

a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài

Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Vấn đề bình đẳng giới hiện nay. 

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận

– Xác định được các ý chính của bài viết.

– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:

* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.

* Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận: 

– Giải thích từ khóa: Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó. 

– Thực trạng: Trong những năm qua, dù xã hội đã có nhiều tiến bộ, văn minh hơn, song vấn đề bình đẳng giới vẫn còn gặp phải nhiều bất cập, chưa thực sự được giải quyết triệt để, đặc biệt là ở nông thôn, vùng núi. (HS tìm kiếm số liệu, dẫn chứng cụ thể đưa vào bài.)

– Nguyên nhân: 

    + Vẫn còn tồn tại những thành kiến, định kiến về vai trò, vị trí của phụ nữ trong gia đình và xã hội. 

   + Còn nhiều phụ nữ chưa hiểu đúng về quyền và bình đẳng giới. 

– Giải pháp: 

   + Tích cực tuyên truyền, phổ cập về bình đẳng giới. 

   + Nghiêm khắc phê bình, xử phạt những hành vi bạo lực gia đình dưới mọi hình thức.

– Bàn luận mở rộng: Những năm gần đây, sự mất cân bằng về giới tính đã làm thay đổi ít nhiều vấn đề bình đẳng giới. Điều này đòi hỏi chúng ta cần có cách nuôi dạy, ứng xử công bằng nhằm tạo nên một môi trường công bằng, văn minh cho những thế hệ sau. 


* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận. 


d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau

– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.

– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.

– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. 

đ. Diễn đạt

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. 

e. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

Câu 1. 

Luận đề: Ý nghĩa của chi tiết cái bóng trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương

Câu 2. 

- Tình huống truyện độc đáo: Người chồng sau bao năm đi lính theo lệnh của triều đình, may mắn thoát chết trở về, những mong được ôm ấp đứa con thì đứa con lại kể về người cha của mình ở nhà, khiến cho Trương Sinh nghi ngờ vợ.

- Chi tiết cái bóng chính là yếu tố quan trọng làm nên tình huống đầy bi kịch này. 

Câu 3. 

Mục đích của việc người viết nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu văn bản là để dẫn dắt, tạo đòn bẩy cho việc tập trung phân tích chi tiết cái bóng.

Câu 4. 

- Chi tiết khách quan: Ngày xưa chưa có tivi, đến cả “rối hình" cũng không có, tối tối con cái thường quây quần quanh cha mẹ, ông bà, chơi trò soi bóng trên tường, nhờ ánh sáng ngọn đèn dầu, mỡ.

- Chi tiết chủ quan: Có lẽ vì muốn con luôn luôn cảm thấy người cha vẫn có mặt ở nhà, và để tự an ủi mình, thấy mình với chồng vẫn luôn bên nhau như hình với bóng, nên người vợ đã chỉ vào cái bóng của mình mà nói với con rằng đó là cha của Đản - tên của đứa con.

- Mối quan hệ giữa hai cách trình bày trên trong văn bản: 

+ Phần trình bày ý kiến khách quan là cơ sở để dẫn dắt tới ý kiến chủ quan của người viết, tạo nên sự thuyết phục cho ý kiến chủ quan.

+ Phần trình bày ý kiến chủ quan giúp người viết thể hiện rõ được ý kiến, quan điểm của mình trong quá trình đọc hiểu tác phẩm, góp phần làm rõ luận đề của bài viết, tạo nên sự thống nhất giữa nhan đề và nội dung bài viết, tạo nên sức thuyết phục lớn đối với người đọc. 

Câu 5. 

Người viết cho rằng chi tiết cái bóng là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc vì:

- Nó bắt nguồn từ một trò chơi dân gian, hết sức phổ biến, gần gũi với nhân dân. 

- Nó thể hiện tình yêu của Vũ Nương dành cho con, cho chồng. 

=> Người kể chuyện đã khéo léo đẩy một trò chơi dân gian lên làm một cái cớ để xây dựng một tình huống truyện độc đáo, góp phần bộc lộ sâu sắc chủ đề, tư tưởng của tác phẩm - lên án thói ghen tuông mù quáng như một căn bệnh truyền đời của nhân loại. 

Câu 1. (0,5 điểm)

Thể thơ: Lục bát. 

Câu 2. (0,5 điểm)

– Lời thoại của nhân vật: “Sao trong tiết thanh minh/ Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?”.

– Kiểu lời thoại: Lời đối thoại.

Câu 3. (1,0 điểm)

– HS chỉ ra các từ láy được tác giả sử dụng trong văn bản: Sè sè, dàu dàu, xôn xao, mong manh, đầm đầm.

– HS phân tích tác dụng của hệ thống từ láy: Việc sử dụng nhiều từ láy (cả từ láy tượng hình và tượng thanh) có tác dụng khắc hoạ chân thực, sinh động những đối tượng, sự việc được khắc hoạ trong văn bản; đồng thời tạo âm hưởng nhịp nhàng, dễ nhớ cho văn bản. 

Câu 4. (1,0 điểm)

– HS chỉ ra được tâm trạng, cảm xúc của nàng Kiều trước hoàn cảnh của Đạm Tiên: Đau lòng, xót thương cho số phận của Đạm Tiên.

– HS nhận xét về nhân vật Thuý Kiều: Nàng là người con gái nhân hậu. Trước hoàn cảnh của Đạm Tiên, nàng không chỉ đồng cảm với cảnh ảm đạm, lạnh lẽo nhang khói của nấm mồ Đạm Tiên khi không người thăm nom, săn sóc; mà nàng còn khóc thương cho thân phận những người phụ nữ tài hoa, bạc mệnh trong xã hội của nàng. 

Câu 5. (1,0 điểm)

– HS dựa vào nội dung văn bản để rút ra bài học cho bản thân. Đó có thể là bài học:

+ Biết trân trọng những người tài năng trong cuộc sống.

+ Biết đồng cảm với những con người có số phận đáng thương trong cuộc sống.

+ …

– HS đưa ra lí giải phù hợp cho bài học mà bản thân đưa ra.

Câu 1. (2.0 điểm)

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0.25 điểm)

– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.

– HS có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành. 

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0.25 điểm)

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích nhân vật Đạm Tiên trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1.5 điểm)

– Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: 

+ Nhân vật Đạm Tiên xuất hiện gián tiếp qua lời kể của Vương Quan:

   ++ Nghề nghiệp: ca nhi.

   ++ Ngoại hình: Xinh đẹp: Nổi danh tài sắc.  

=> Xinh đẹp, tài năng nên được nhiều người quan tâm, tìm đến.

   ++ Số phận: Yểu mệnh, chết sớm: Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương. Dù vậy, nàng vẫn được người khách phương xa yêu mến, lo toan hậu sự chu đáo: Sắm sanh nếp tử, xe châu. Nhưng thời gian dần trôi, vì không người thân thích, nấm mồ của Đạm Tiên không được chăm nom, săn sóc nên dần trở nên Sè sè nấm đất bên đàng, / Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.

+ HS nhận xét, đánh giá về nhân vật: Số phận của Đạm Tiên thật nhỏ bé, đáng thương. Vốn là người con gái tài năng, xinh đẹp, nàng phải được hưởng cuộc sống hạnh phúc, êm ấm. Nhưng thật là số phận trêu ngươi, Đạm Tiên qua đời khi mới nửa chừng xuân. Sau khi nàng mất, hoàn cảnh của nàng lại càng khiến người ta chạnh lòng thêm nữa vì mộ phần của nàng không ai đoái hoài, săn sóc, mặc vậy úa tàn theo năm tháng. 

Câu 2. (4.0 điểm)

a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0.25 điểm)

Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0.25 điểm)

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Sử dụng mạng xã hội một cách lành mạnh và hiệu quả.  

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (3.5 điểm)

– Xác định được các ý chính của bài viết.

– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:

c1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.

c2. Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận:

– Giải thích: Mạng xã hội là các nền tảng trực tuyến cho phép người dùng kết nối, chia sẻ thông tin, học hỏi và giải trí. Việc sử dụng mạng xã hội một cách lành mạnh, hiệu quả chính là việc người dùng sử dụng mạng xã hội đúng mục đích, đúng thời điểm, có sự chọn lọc và kiểm soát hợp lí.

– Thực trạng của vấn đề: Ngày càng nhiều học sinh dành quá nhiều thời gian cho mạng xã hội: Lướt Facebook, TikTok, Thread,…

– Hậu quả: Sao nhãng học tập, giảm sự tập trung trong việc học hành, lệ thuộc vào điện thoại, giảm tương tác thật ngoài đời thực,…

 – Nguyên nhân: Bị hấp dẫn, cuốn hút bởi các nội dung giải trí trên mạng xã hội; thiếu kĩ năng quản lí thời gian;…

– Giải pháp:

+ Có ý thức sử dụng mạng xã hội với thời gian phù hợp, tránh gây ảnh hưởng đến cuộc sống thường nhật.  

+ Học cách sử dụng mạng xã hội đúng mục đích: Dùng để tra cứu thông tin, nắm bắt tin tức, tham gia nhóm học tập,…

+ Biết chọn lọc nội dung trên mạng xã hội: Tận dụng thuật toán trên mạng xã hội để bảng tin tức luôn xuất hiện những thông tin tích cực, hữu ích như mẹo học tập, cách viết bài, cách làm bài,…

c3. Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.

a. Xác định đúng yêu cầu của đề: Nghị luận văn học.

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích, đánh giá những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của đoạn trích.

c. Đề xuất được hệ thống ý làm rõ vấn đề bài viết:

- Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm; vấn đề nghị luận.

- Thân bài:

+ Nội dung: Đoạn trích là nỗi cô đơn, sầu khổ, thương nhớ da diết của người chinh phụ dành cho chồng đi chinh chiến phương xa. Nỗi buồn ấy là sự tuyệt vọng, khắc khoải của người phụ nữ, dù biết chắc chồng sẽ khó có thể quay về nhưng trong thâm tâm vẫn hi vọng. 

+ Nghệ thuật:

  • Thể thơ song thất lục bát giàu nhạc tính phù hợp với việc bộc bạch, thổ lộ cảm xúc của con người đã tạo ra âm hưởng buồn thương như dòng tâm trạng của người phụ nữ trong suốt cả đoạn trích.
  • Hệ thống những từ láy, biện pháp điệp từ, điệp ngữ càng làm cho những câu thơ trở nên nặng trĩu tâm trạng, mở ra một nỗi buồn thương bao trùm lên cảnh vật.
  •  …

- Kết bài:

+ Khẳng định lại một cách khái quát những đặc sắc về nghệ thuật: giá trị tư tưởng và giá trị thẩm mĩ của bài thơ.

+ Nêu tác động của tác phẩm đối với bản thân.

d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.

e. Sáng tạo: Sử dụng hình ảnh, từ ngữ, biện pháp tu từ độc đáo; Lời văn trau chuốt, sinh động, gợi cảm.

* HS có thể lựa chọn một trong những thông điệp sau:

- Chúng ta là con người trần thế dù có được sống nơi tiên cảnh cũng không thoát được nỗi nhớ quê hương

- Cuộc đời con người không tồn tại vĩnh viễn mà chỉ là khoảng thời gian hữu hạn, chúng ta cũng không được hưởng đặc ân vô biên từ tạo hóa.

- Chúng ta không thể tham lam, không thể có tất cả, khi ta không chấp nhận bằng lòng ta sẽ mất hết.

...

* Học sinh tự lí giải hợp lí thông điệp đã chọn.

- Lựa chọn của Từ Thức ở cuối đoạn trích: Chọn vào núi, xa rời cuộc sống trần gian.

- Lí giải: Từ Thức trở nên lạc lõng bơ vơ khi chàng không còn thuộc về chốn thần tiên cũng không còn hợp với cõi nhân gian. Chính vì vậy ra đi là cách tốt nhất cho chàng.