Trần Đức Đạt
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Trong vở kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng, vua Lê Tương Dực hiện lên không chỉ là một ông vua ăn chơi sa đọa,đắm chìm trong tửu sắc, bỏ bê việc triều chính mà còn là hình ảnh tiêu biểu của một hôn quân trong thời phong kiến suy tàn. Nhân vật hiện lên với bản chất hoang dâm, mê muội, đặt khoái lạc cá nhân lên trên vận mệnh quốc gia. Việc xây dựng Cửu Trùng Đài không xuất phát từ ý thức văn hóa hay tầm nhìn lịch sử mà chỉ là phương tiện để thỏa mãn dục vọng , thoã mãn thú vui hưởng lạc cá nhân. Không chỉ vậy, Lê Tương Dực còn mang bản chất độc đoán, không chấp nhận lời can gián của trung thần. Trước những cảnh báo đầy trách nhiệm của Trịnh Duy Sản, ông không hề tỉnh thức mà phản ứng bằng sự giận dữ và bạo lực qua đó người đọc có thể thấy nhân vật không chỉ độc đoán, bảo thủ mà còn coi thường vận mệnh quốc gia, coi thường đời sống nhân dân. Qua hình tượng Lê Tương Dực, Nguyễn Huy Tưởng đã phơi bày một chân lí lịch sử: Khi người cầm quyền đánh mất trách nhiệm với dân tộc, quyền lực sớm muộn cũng mất đi chỗ dựa và dẫn đến suy tàn.
Câu 2
Trong dòng chảy của xã hội hiện đại, giới trẻ được xem là nguồn năng lượng, năng động, sáng tạo và giữ vai trò quan trọng đối với tương lai đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những sự tích cực ấy , một bộ phận không nhỏ người trẻ hiện nay đang bộc lộ lối sống vô cảm, thờ ơ trước những vấn đề của cộng đồng và nỗi đau của người khác. Thực trạng ấy đặt ra nhiều suy nghĩ và trở thành vấn đề đáng quan tâm trong đời sống xã hội hiện nay
Tình trạng vô cảm của giới trẻ thể hiện ở việc thiếu sự quan tâm, sẻ chia với những người xung quanh. Nhiều bạn chỉ chú ý đến lợi ích cá nhân, sống khép kín trong thế giới riêng của mình mà không để tâm đến cảm xúc hay hoàn cảnh của người khác. Khi chứng kiến những điều không may xảy ra, thay vì đồng cảm và giúp đỡ, họ chọn cách đứng ngoài, coi đó là chuyện không liên quan. Lâu dần, sự thờ ơ ấy làm con người trở nên lạnh lùng, mất đi những rung động nhân văn vốn có. Nguyên nhân của hiện tượng vô cảm bắt nguồn từ nhiều phía. Nhịp sống hiện đại với áp lực học tập và công việc khiến người trẻ dễ rơi vào trạng thái mệt mỏi, chỉ nghĩ cho bản thân. Bên cạnh đó, việc lạm dụng công nghệ và mạng xã hội khiến các mối quan hệ ngoài đời bị xem nhẹ, cảm xúc thật dần bị thay thế bằng những phản ứng hời hợt. Sự thiếu định hướng đúng đắn trong giáo dục về đạo đức và lối sống cũng góp phần làm cho một bộ phận giới trẻ không nhận thức đầy đủ giá trị của lòng nhân ái. Nếu tình trạng vô cảm tiếp tục kéo dài, xã hội sẽ trở nên lạnh lẽo, con người xa cách nhau hơn, những giá trị tốt đẹp dễ bị phai nhạt. Vì vậy, mỗi bạn trẻ cần tự ý thức rèn luyện nhân cách, biết quan tâm, yêu thương và sống có trách nhiệm với cộng đồng. Chỉ khi lòng nhân ái được nuôi dưỡng, giới trẻ mới thực sự trở thành lực lượng góp phần xây dựng một xã hội văn minh, nhân văn và giàu tình người.
Câu 1.
Đoạn trích trên tái hiện lại sự việc: Quận công Trịnh Duy Sản ra sức khuyên vua Lê Tương Dực tỉnh ngộ, rời xa sắc dục và dừng việc xây dựng Cửu Trùng Đài.
Câu 2.
Lời độc thoại được thể hiện qua lời thoại của vua Lê Tương Dực: Lão gàn quái! hoặc Có việc gì khẩn cấp?.
Câu 3.
- HS chỉ ra những chỉ dẫn sân khấu của vua Lê Tương Dực: cau mặt, nghĩ một lúc, nhìn Trịnh Duy Sản một cách giận dữ, rút kiếm.
- HS nhận xét, đánh giá những chỉ dẫn sân khấu của vua Lê Tương Dực:
+ Có tác dụng mô tả chân thực, cụ thể rõ nét hơn về nhân vật Lê Tương Dực.
+ Thể hiện rõ diễn biến tâm lí của vua Lê Tương Dực trước những lời can gián của Trịnh Duy Sản (đi từ không ưa đến tức giận đến mức như muốn giết chết Trịnh Duy Sản).
Câu 4.
- HS xác định được biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn: Liệt kê: Kinh Bắc thì có Thôn Duy Nhạc, Ngô Văn Tổng. Đất Sơn Tây thì có Trần Tuân; Tam Đảo thì có Phùng Chương. Chúng dấy binh làm loạn, giết cả quan lại triều đình, hãm hiếp dân đen, đốt phá làng mạc. Dân gian không được an cư lạc nghiệp, ruộng nương bỏ hoang, cửi canh xao nhãng, cực khổ không biết thế nào mà kể cho hết. Tiếng oán thán nổi lên đầy trời.
- HS phân tích được tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong đoạn văn: Khắc họa chân thực, cụ thể bối cảnh loạn lạc của đất nước ta lúc bấy giờ: Những cuộc khởi nghĩa xảy ra khắp nơi, nhân dân đói kém, loạn lạc, lầm than, bị hãm hiếp,...
Câu 5.
Đất nước loạn lạc, nhân dân khổ cực , vua ham ăn chơi
câu 1
Nhân vật Dung trong đoạn trích "Hai lần chết" của Thạch Lam là hiện thân cho bi kịch của người phụ nữ trong xã hội cũ, bị coi như một món hàng và bị tước đoạt quyền sống. Ngay từ đầu, số phận của Dung đã đầy cay đắng khi bị chính mẹ đẻ "bán" vào nhà giàu để lấy mấy trăm đồng bạc. Sống ở nhà chồng, Dung rơi vào cảnh "địa ngục trần gian": phải làm lụng cực nhọc "đầu tắt mặt tối", bị mẹ chồng đay nghiến, em chồng ghê gớm và người chồng nhu nhược, vô tâm. Nỗi đau khổ lớn nhất của Dung không chỉ là sự vắt kiệt sức lao động mà là sự cô độc tuyệt đối. Khi tìm đến sự che chở từ gia đình đẻ, nàng chỉ nhận lại sự hờ hững và những lời mắng nhiếc từ mẹ ruột. Sự bế tắc đẩy Dung đến bước đường cùng, nàng chọn cái chết như một sự "thoát nợ". Tuy nhiên, ngay cả khi được cứu sống, sự lạnh lùng và tàn nhẫn của mẹ chồng vẫn không hề thay đổi, khiến cái chết về mặt tâm hồn của Dung càng trở nên bi thảm hơn. Qua nhân vật Dung, Thạch Lam đã thể hiện niềm thương cảm sâu sắc trước thân phận nhỏ bé, đồng thời phê phán hủ tục và sự băng hoại đạo đức trong gia đình truyền thống.
câu 2
xã hội hiện đại, bình đẳng giới không còn là một khẩu hiệu xa vời mà đã trở thành mục tiêu sống còn để xây dựng một cộng đồng văn minh. Nó không chỉ đơn thuần là việc bảo vệ quyền lợi cho phái nữ, mà là cuộc cách mạng nhằm giải phóng tiềm năng của mọi cá nhân, không phân biệt giới tính. Bình đẳng giới là khi mọi người, dù là nam hay nữ, đều có quyền tiếp cận giáo dục, cơ hội nghề nghiệp và quyền tự quyết định cuộc đời mình. Một xã hội thực sự công bằng là nơi giới tính không còn là rào cản ngăn ai đó trở thành một phi hành gia, một kỹ sư hay một người nội trợ chuyên nghiệp. Khi chúng ta phá bỏ được những định kiến lỗi thời, chúng ta đang mở ra cánh cửa để những tài năng được tỏa sáng đúng chỗ. Thực tế, bình đẳng giới mang lại lợi ích cho tất cả mọi người. Đối với phụ nữ, đó là sự tự chủ và tôn nghiêm. Đối với nam giới, đó là sự giải thoát khỏi áp lực nặng nề của hình mẫu "trụ cột" duy nhất, cho phép họ được thể hiện cảm xúc và sẻ chia trách nhiệm gia đình. Khi cả hai phái cùng đứng trên một mặt bằng chung, sự thấu hiểu và gắn kết sẽ thay thế cho những mâu thuẫn và áp đặt. Tuy nhiên, con đường đi đến bình đẳng thực chất vẫn gặp nhiều trở ngại. Đó là sự chênh lệch về thu nhập, là những quy chuẩn ngầm định về "việc đàn ông" hay "chuyện đàn bà". Để thay đổi, chúng ta cần bắt đầu từ những hành động nhỏ nhất: giáo dục trẻ em về sự tôn trọng từ trong gia đình, khuyến khích phụ nữ làm chủ công nghệ và tạo ra những chính sách công bằng tại nơi làm việc. Tóm lại, bình đẳng giới chính là sự công bằng. Khi mỗi cá nhân được tạo điều kiện tốt nhất để phát triển theo năng lực thay vì giới tính, xã hội sẽ đạt được sự cân bằng và thịnh vượng. Hãy để giới tính chỉ là một đặc điểm tự nhiên, chứ không phải là một giới hạn cho những giấc mơ.
Câu 1.
Luận đề: Ý nghĩa của chi tiết cái bóng trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương.
Câu 2.
- Tình huống truyện độc đáo: Người chồng sau bao năm đi lính theo lệnh của triều đình, may mắn thoát chết trở về, những mong được ôm ấp đứa con thì đứa con lại kể về người cha của mình ở nhà, khiến cho Trương Sinh nghi ngờ vợ.
- Chi tiết cái bóng chính là yếu tố quan trọng làm nên tình huống đầy bi kịch này.
Câu 3.
Mục đích của việc người viết nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu văn bản là để dẫn dắt, tạo đòn bẩy cho việc tập trung phân tích chi tiết cái bóng.
Câu 4.
- Chi tiết khách quan: Ngày xưa chưa có tivi, đến cả “rối hình" cũng không có, tối tối con cái thường quây quần quanh cha mẹ, ông bà, chơi trò soi bóng trên tường, nhờ ánh sáng ngọn đèn dầu, mỡ.
- Chi tiết chủ quan: Có lẽ vì muốn con luôn luôn cảm thấy người cha vẫn có mặt ở nhà, và để tự an ủi mình, thấy mình với chồng vẫn luôn bên nhau như hình với bóng, nên người vợ đã chỉ vào cái bóng của mình mà nói với con rằng đó là cha của Đản - tên của đứa con.
- Mối quan hệ giữa hai cách trình bày trên trong văn bản:
+ Phần trình bày ý kiến khách quan là cơ sở để dẫn dắt tới ý kiến chủ quan của người viết, tạo nên sự thuyết phục cho ý kiến chủ quan.
+ Phần trình bày ý kiến chủ quan giúp người viết thể hiện rõ được ý kiến, quan điểm của mình trong quá trình đọc hiểu tác phẩm, góp phần làm rõ luận đề của bài viết, tạo nên sự thống nhất giữa nhan đề và nội dung bài viết, tạo nên sức thuyết phục lớn đối với người đọc.
Câu 5.
Người viết cho rằng chi tiết cái bóng là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc vì:
- Nó bắt nguồn từ một trò chơi dân gian, hết sức phổ biến, gần gũi với nhân dân.
- Nó thể hiện tình yêu của Vũ Nương dành cho con, cho chồng.
=> Người kể chuyện đã khéo léo đẩy một trò chơi dân gian lên làm một cái cớ để xây dựng một tình huống truyện độc đáo, góp phần bộc lộ sâu sắc chủ đề, tư tưởng của tác phẩm - lên án thói ghen tuông mù quáng như một căn bệnh truyền đời của nhân loại.
Câu 1 Nhân vật Đạm Tiên trong đoạn trích Truyện Kiều của Nguyễn Du là hình ảnh gợi lên số phận đau thương của người phụ nữ tài sắc trong xã hội phong kiến. Đạm Tiên từng là một ca nhi nổi danh tài sắc một thời, “nổi danh tài sắc một thì”, được nhiều người ngưỡng mộ, yêu thương. Thế nhưng, cuộc đời nàng lại ngắn ngủi và bạc bẽo. Khi chết đi, mộ phần của Đạm Tiên trở nên hoang lạnh, vô chủ, “sè sè nấm đất bên đàng”, “áy mồ vô chủ ai mà viếng thăm”, cho thấy sự lãng quên phũ phàng của cuộc đời đối với một kiếp người từng rực rỡ. Qua hình ảnh ấy, Nguyễn Du bày tỏ niềm xót thương sâu sắc trước thân phận mong manh, bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội cũ: lúc sống thì bị vùi dập, khi chết cũng không được yên ổn. Đạm Tiên không chỉ là một con người cụ thể mà còn mang ý nghĩa biểu tượng, dự báo cho số phận đầy sóng gió của Thúy Kiều sau này. Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, giọng thơ thương cảm, Nguyễn Du đã khắc họa thành công hình ảnh Đạm Tiên như một lời tố cáo xã hội phong kiến tàn nhẫn và là tiếng lòng nhân đạo sâu sắc của nhà thơ
Câu 2 Trong thời đại công nghệ số phát triển mạnh mẽ, mạng xã hội đã trở thành một phần quen thuộc trong đời sống của học sinh hiện nay. Tuy nhiên, việc sử dụng mạng xã hội quá nhiều, thiếu kiểm soát đang khiến không ít học sinh sa sút trong học tập và thiếu trách nhiệm trong cuộc sống. Vì vậy, vấn đề làm thế nào để sử dụng mạng xã hội một cách lành mạnh và hiệu quả cần được quan tâm đúng mức. Trước hết, mạng xã hội là các nền tảng trực tuyến giúp con người giao tiếp, chia sẻ thông tin, hình ảnh và kết nối với nhau. Nếu biết sử dụng hợp lý, mạng xã hội có thể hỗ trợ học tập, mở rộng hiểu biết và rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy nhiều học sinh lạm dụng mạng xã hội. Không ít bạn dành hàng giờ để lướt mạng, xem video giải trí, chơi game, bỏ bê việc học và các hoạt động cần thiết khác. Thậm chí, có học sinh còn sống ảo, chạy theo lượt thích, lượt xem mà quên đi trách nhiệm của bản thân. Nguyên nhân của tình trạng này trước hết xuất phát từ ý thức tự quản lý của học sinh còn hạn chế. Bên cạnh đó, sự hấp dẫn của mạng xã hội cùng với việc gia đình, nhà trường chưa quản lý chặt chẽ cũng khiến học sinh dễ sa đà vào thế giới ảo. Hậu quả của việc lạm dụng mạng xã hội là kết quả học tập giảm sút, sức khỏe tinh thần bị ảnh hưởng, học sinh trở nên thụ động, thiếu kỹ năng giao tiếp và thiếu trách nhiệm với bản thân cũng như gia đình. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng mạng xã hội cũng mang lại nhiều lợi ích nếu được sử dụng đúng cách. Vấn đề không nằm ở mạng xã hội mà nằm ở cách con người sử dụng nó. Để sử dụng mạng xã hội lành mạnh và hiệu quả, trước hết bản thân học sinh cần biết tự kiểm soát thời gian, xác định rõ mục đích sử dụng và ưu tiên học tập. Gia đình cần quan tâm, nhắc nhở, định hướng con em sử dụng mạng xã hội đúng đắn. Nhà trường và xã hội cần tăng cường giáo dục kỹ năng sử dụng mạng an toàn, lành mạnh cho học sinh. Từ đó, mỗi học sinh cần rút ra bài học cho bản thân: phải biết làm chủ công nghệ, sống có trách nhiệm, không để mạng xã hội chi phối cuộc sống và tương lai của mình. Tóm lại, mạng xã hội là con dao hai lưỡi. Chỉ khi sử dụng đúng cách, có ý thức và trách nhiệm, học sinh mới có thể biến mạng xã hội thành công cụ hữu ích, góp phần học tập tốt và hoàn thiện nhân cách
Câu 1.
Thể thơ: Lục bát.
Câu 2.
– Lời thoại của nhân vật: “Sao trong tiết thanh minh/ Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?”.
– Kiểu lời thoại: Lời đối thoại.
Câu 3.
– các từ láy được tác giả sử dụng trong văn bản: Sè sè, dàu dàu, xôn xao, mong manh, đầm đầm.
– Việc sử dụng nhiều từ láy (cả từ láy tượng hình và tượng thanh) có tác dụng khắc hoạ chân thực, sinh động những đối tượng, sự việc được khắc hoạ trong văn bản; đồng thời tạo âm hưởng nhịp nhàng, dễ nhớ cho văn bản.
Câu 4.
– tâm trạng, cảm xúc của nàng Kiều trước hoàn cảnh của Đạm Tiên: Đau lòng, xót thương cho số phận của Đạm Tiên.
– nhân vật Thuý Kiều: Nàng là người con gái nhân hậu. Trước hoàn cảnh của Đạm Tiên, nàng không chỉ đồng cảm với cảnh ảm đạm, lạnh lẽo nhang khói của nấm mồ Đạm Tiên khi không người thăm nom, săn sóc; mà nàng còn khóc thương cho thân phận những người phụ nữ tài hoa, bạc mệnh trong xã hội của nàng.
Câu5
-Từ nội dung của văn bản ở phần đọc hiểu, em rút ra được bài học về lòng nhân ái và sự đồng cảm, sự sẻ chia. Vì, việc Thúy Kiều thương xót đạm tiên cho thấy giá trị của sự đồng cảm, nhân hậu trong cuộc sống.
-Sống có trách nhiệm và biết trân trọng cuộc sống, thời gian hiện tại. Vì, số phận đạm Tiên dù tài hoa nhưng lại quá ngắn ngủi và bi thương. Điều này nhắc nhở chúng ta về sự mong manh của cuộc đời, cần sống có ý nghĩa hơn.
Đoạn trích trên là một trong những đoạn thơ đặc sắc của tác phẩm Chinh phụ ngâm, thể hiện sâu sắc nỗi cô đơn, buồn tủi và khát khao sum họp của người chinh phụ có chồng ra trận nơi biên ải. Trong cảnh đêm khuya tĩnh mịch, từng bước chân, từng ánh đèn, bóng hoa cũng trở thành nhân chứng cho nỗi lòng quạnh hiu, khắc khoải. Hình ảnh “gà eo óc gáy”, “hương gượng đốt”, “gương gượng soi”, “sắt cầm gượng gảy” như khắc họa rõ nét sự mỏi mòn, chán chường và đau đớn đến tuyệt vọng của người phụ nữ đang sống trong nỗi nhớ thương. Về nghệ thuật, đoạn thơ được viết theo thể song thất lục bát, có nhạc tính du dương, trầm buồn, phù hợp với dòng cảm xúc u uẩn, dằng dặc của người chinh phụ. Việc sử dụng dày đặc những từ láy như “eo óc”, “thầm gieo”, “phất phơ”, biện pháp điệp từ, điệp cấu trúc như “gượng đốt”, “gượng soi”, “gượng gảy” đã góp phần tạo nên âm hưởng não nề, lay động lòng người. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình cũng được tác giả vận dụng tinh tế, khiến cảnh vật như mang linh hồn, cùng đồng cảm với nỗi đau nhân thế. Qua đó, đoạn thơ không chỉ thể hiện tiếng lòng của người phụ nữ thời chiến mà còn là bản nhạc buồn giàu giá trị nhân đạo, cho thấy niềm cảm thông sâu sắc với những thân phận nhỏ bé giữa cuộc đời đầy chia ly, mất mát.
- Chúng ta là con người trần thế dù có được sống nơi tiên cảnh cũng không thoát được nỗi nhớ quê hương
- Cuộc đời con người không tồn tại vĩnh viễn mà chỉ là khoảng thời gian hữu hạn, chúng ta cũng không được hưởng đặc ân vô biên từ tạo hóa.
- Chúng ta không thể tham lam, không thể có tất cả, khi ta không chấp nhận bằng lòng ta sẽ mất hết.
- Lựa chọn của Từ Thức ở cuối đoạn trích: Chọn vào núi, xa rời cuộc sống trần gian.
- Lí giải: Từ Thức trở nên lạc lõng bơ vơ khi chàng không còn thuộc về chốn thần tiên cũng không còn hợp với cõi nhân gian. Chính vì vậy ra đi là cách tốt nhất cho chàng.
Vì \(A B C D\) là hình bình hành nên ta có:
+ Hai đường chéo \(A C\) và \(B D\) cắt nhau tại \(O\) nên \(O A = O C\), \(O B = O D\).
+ \(A B\) // \(C D\) nên \(A M\) // \(C N\) suy ra \(\hat{O A M} = \hat{O C N}\) (hai góc so le trong).
Xét \(\Delta O A M\) và \(\Delta \&\text{nbsp}; O C N\) có:
$\widehat{O A M} = \widehat{O C N} (chứng minh trên)
\(O A = O C\) (chứng minh trên)
\(\hat{A O M} \&\text{nbsp}; =\)\widehat{C O N} (hai góc đối đỉnh)
Do đó \(\Delta \&\text{nbsp}; O A M = \Delta \&\text{nbsp}; O C N\) (g.c.g).
Suy ra \(A M = C N\) (hai cạnh tương ứng).
Mặt khác, \(A B = C D\) (chứng minh trên);
\(A B = A M + B M\); \(C D = C N + D N\).
Suy ra \(B M = D N\).
Xét tứ giác \(M B N D\) có:
\(B M\) // \(D N\) (vì \(A B\) // \(C D\))
\(B M = D N\) (chứng minh trên)
Do đó, tứ giác \(M B N D\) là hình bình hành.