Ong Thị Thanh Trúc
Giới thiệu về bản thân
1.Nghĩa tường minh (nghĩa đen): "Mảnh giấy làm nền thân giáp bảng": Tấm thân của con rối (tiến sĩ giấy) được làm từ một tờ giấy. "Giáp bảng" là danh hiệu cao nhất trong thi cử ngày xưa, ở đây dùng để chỉ tấm bằng Tiến sĩ. "Nét son điểm rõ mặt Văn khôi": Những đường nét vẽ bằng son (màu đỏ) trên mặt giấy đã tạo hình cho khuôn mặt của "ông tiến sĩ", "Văn khôi" là người đỗ đầu, đứng đầu trong khoa cử. Tóm lại: Tường minh là miêu tả một món đồ chơi trẻ con, một hình nộm làm bằng giấy, có đủ nét "giáp bảng" và "văn khôi" như thật.
2. Nghĩa hàm ẩn (nghĩa bóng): Phê phán thực trạng xã hội: Tác giả (Nguyễn Khuyến) mượn hình ảnh tiến sĩ giấy để châm biếm sâu cay chế độ thi cử suy đốn, nơi danh hiệu cao quý bị mua bán, coi thường. Những "ông tiến sĩ" thực chất có thể chỉ là những kẻ "giấy". Chê bai những kẻ giả dối: Những kẻ dù có được "giấy" (bằng cấp, danh vị) nhưng không có tài năng thực sự, chỉ là "nét son" (vẻ ngoài hào nhoáng) che đậy sự trống rỗng bên trong, không xứng đáng với danh hiệu "Văn khôi". Nỗi u uẩn: Phản ánh nỗi buồn, sự bất lực của nhà thơ trước thực trạng xã hội phong kiến suy tàn, nền học vấn bị vẩn đục, và sự coi nhẹ giá trị tri thức đích thực, theo bài thơ Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến.
Hồ Chí Minh không chỉ là một vị lãnh tụ của dân tộc Việt Nam, mà còn là một tác giả lớn. Một trong những tác phẩm tiêu biểu phải kể đến tập thơ “Nhật kí trong tù”. Nổi bật trong tập thơ là bài Lai Tân. Lai Tân được Bác sáng tác trong quá trình chuyển lao từ Thiên Giang đến Liễu Châu thuộc Quảng Tây (Trung Quốc). Sống trong hoàn cảnh tù đày, Bác đã hiểu rõ hơn những sự thật về bộ máy chính quyền của Trung Quốc lúc bấy giờ: Những câu thơ mở đầu khắc họa bộ máy chính quyền của Lai Tân lúc bấy giờ vô cùng sinh động, chân thực: “Giam phòng ban trưởng thiên thiên đổ, Cảnh trưởng tham thôn giải phạm tiền; Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự,” ( Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc Giải người, cảnh trưởng kiếm ăn quanh Chong đèn huyện trưởng làm công việc) Tác giả chỉ điểm danh những chức vụ gắn với trọng trách xã hội trong bộ máy công quyền. Họ là những người thực thi pháp luật, chăm lo cho nhân dân và đóng vai trò giữ gìn trật tự cho xã hội. Ba nhân vật xuất hiện trong bài thơ là “ban trưởng, cảnh trưởng và huyện trưởng”. Mỗi người đều xuất hiện với một công việc riêng. Tưởng chừng như họ phải làm những công việc chăm lo cho nhân dân, đất nước. Nhưng không, ban trưởng nhà giam thì ngày ngày đánh bạc, cảnh trường thì tìm cách bóc lột các tù nhân, còn huyện trưởng thì chìm đắm trong thuốc phiện. Những hành vi xấu xa đã vạch rõ bộ mặt thật của bộ máy chính quyền, sự thối nát của xã hội phong kiến Trung Quốc. Bác còn sử dụng phép liệt kê tăng tiến, từ chức quan nhỏ cho đến lớn, để khẳng định rằng bộ máy chính quyền thối nát từ trên xuống dưới, chức càng cao càng hủ bại”. Câu thơ cuối là một lời nhận xét nhưng lại bộc lộ thái độ đầy mỉa mai, châm biếm: “Lai Tân y cựu thái bình yên” (Trời đất Lai Tân vẫn Thái Bình) Bộ máy chính quyền thối nát như vậy, mà Lai Tân vẫn “thái bình”. Điều này thật mâu thuẫn. Lời nhận xét thật nhẹ nhàng, nhưng cũng đầy châm biếm, mỉa mai. Cái xã hội như vậy mà sao nhìn bên ngoài lại thật thái bình. Nhưng đó chỉ là sự bình yên được che đậy khéo léo.. Thế mới thấy rằng, bài thơ mang tính trào phúng, gợi ra tiếng cười mỉa mai, chua chát. Lai Tân mang một tiếng cười trào phúng độc đáo, thú vị củaHồ Chí Minh đã khắc họa vô cùng chân thực, sinh động hiện thực bộ máy chính quyền của Trung Quốc lúc bấy giờ.
Em đồng ý với ý kiến cho rằng tiếng cười cũng có sức mạnh như một thứ vũ khí. Tiếng cười giúp con người nhận ra những điều chưa hay, chưa đẹp trong cuộc sống một cách nhẹ nhàng mà sâu sắc. Qua tiếng cười, ta có thể phê phán thói hư tật xấu mà ko cần lời lẽ nặng nề. Tiếng cười còn giúp con người giải tỏa căng thẳng, mang lại niềm vui và sự lạc quan. Vì vậy, tiếng cười có ý nghĩa rất lớn trong cuộc sống và trong văn học
Sắc thái của " thiếu phụ" trong câu "Chợt một thiếu phụ bước vào với một em bé với chín , mười tháng tuổi và một chú mèo con " là người phụ nữ trẻ đã có gia đình , mang sắc thái trang trọng , cổ kính , dịu dàng , kín đáo
Câu 1: Bài thơ '' Cảnh ngày hè '' được viết theo thể thơ Nôm Đường luật xen lục ngôn
Câu 2: Những hình ảnh thiên nhiên nào được nhắc đến trong bốn dòng thơ đầu là: cây hòe, cây thạch lựu, hương hoa sen
Câu 3: Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.
Biện pháp tu từ trong hai câu thơ trên là biện pháp tu từ đảo ngữ '' Lao xao '' và '' Dắng dỏi ''. Trước hết biện pháp tu từ '' Lao xao '' sử dụng âm thanh để tạo ra một hình ảnh sống động về sự hối hả, náo nhiệt của chợ cá. '' Lao xao '' tạo ra âm vang phản ánh sự xôn xao, huyên náo trong không khí của chợ cá, tạo nên một bức tranh sinh động về cuộc sống thường nhật tại làng ngư phủ. Còn biện pháp tu từ '' Dắng dỏi '' sử dụng hình ảnh về ánh sáng và không gian để tạo ra một cảm giác khô khan, cằn cỗi, nóng nực của một môi trường khắc nghiệt. '' Dắng dỏi '' mô tả ánh sáng chói chang, nóng bức của lầu tịch dương, tạo ra một bức tranh cảm xúc về cảnh khắc nghiệt của môi trường này, có thể là vùng đất nhiệt đới, nơi mà ánh nắng mặt trời gay gắt và khắc nghiệt
Câu 4: Trong hai câu thơ dòng cuối tác giả đã thể hiện ước mơ về một xã hội thái bình, thịnh trị, nhân dân no đủ, hạnh phúc. Đó là ước nguyện của một nhà yêu nước, nhần nhân đạo lớn, luôn mong muốn mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Đó cũng là khát vọng của nhân dân ta về một đấ nước hòa bình, độc lập, thịnh vượng
Câu 5: Chủ đề của bài thơ là tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu đời mãnh liệt và tấm lòng ái quốc, thương dân sâu sắc của Nguyễn Trãi. Em xác định được nhờ bức tranh thiên nhiên tươi sáng, đầy sức sống, ước mơ về một xã hội thái bình và tấm lòng '' đau đầu '' vì dân
Câu 6: Từ niềm vui giản dị mà Nguyễn Trãi tìm thấy trong thiên nhiên ngày hè, em rút ra được bài học cho bản thân trong việc giữ gìn tinh thần lạc quan, biết tận hưởng những điều bình dị quanh mình là để giữ cho tinh thần luôn phơi phới, điều quan trọng là phải biết mở lòng, quan sát và trân trọng những nét đẹp tuy nhỏ bé nhưng ý nghĩa trong cuộc sống hàng ngày, giống như cách nhà thơ đã cảm nhận vẻ đẹp của mùa hè qua những chi tiết giản đơn như tiếng ve, cơn gió hay sắc hoa. Việc biết ơn và tận hưởng những điều này sẽ giúp ta có cái nhìn tích cực hơn, vững vàng hơn trước những khó khắn
Bài thơ '' Bạn đến chơi nhà '' của nhà thơ Nguyễn Khuyến có những nét đặc sắc về nội dung và hình thức nghệ thuật như sau. Về nội dung, bài thơ ca ngợi về tình bạn chân thành, vĩnh cửu, thắm thiết, mộc mạc và thể hiện tâm hồn thanh cao, trong sáng của nhà thơ thông qua nghệ thuật trào phúng độc đáo. Về hình thức nghệ thuật, nhà thơ đã sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, kết hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ đời thường, tạo nên giọng điệu hóm hỉnh, nhẹ nhàng nhưng sâu sắc.
Bài thơ '' Bạn đến chơi nhà '' của nhà thơ Nguyễn Khuyến có những nét đặc sắc về nội dung và hình thức nghệ thuật như sau. Về nội dung, bài thơ ca ngợi về tình bạn chân thành, vĩnh cửu, thắm thiết, mộc mạc và thể hiện tâm hồn thanh cao, trong sáng của nhà thơ thông qua nghệ thuật trào phúng độc đáo. Về hình thức nghệ thuật, nhà thơ đã sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, kết hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ đời thường, tạo nên giọng điệu hóm hỉnh, nhẹ nhàng nhưng sâu sắc.
Bài thơ '' Bạn đến chơi nhà '' của nhà thơ Nguyễn Khuyến có những nét đặc sắc về nội dung và hình thức nghệ thuật như sau. Về nội dung, bài thơ ca ngợi về tình bạn chân thành, vĩnh cửu, thắm thiết, mộc mạc và thể hiện tâm hồn thanh cao, trong sáng của nhà thơ thông qua nghệ thuật trào phúng độc đáo. Về hình thức nghệ thuật, nhà thơ đã sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, kết hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ đời thường, tạo nên giọng điệu hóm hỉnh, nhẹ nhàng nhưng sâu sắc.
Nguyễn Quang Thiều là một nhà văn nổi tiếng với nhiều tác phẩm truyện, trong đó có Bầy chim chìa vôi, truyện ngắn tiêu biểu khắc họa nhân vật Mon - một cậu bé giàu tình yêu thương.
Trong truyện, chúng ta được nghe về cuộc trò chuyện của hai anh em Mon và Mên. Lúc gần hai giờ sáng, Mon tỉnh dậy và thấy rằng cơn mưa lớn đang làm nước sông dâng lên nhanh chóng. Cậu lo lắng cho bầy chim chìa vôi đang sống ở bãi sông. Sau khi trò chuyện một lúc, Mon đã đề xuất với Mên rằng họ sẽ chèo xuồng qua sông vào giữa đêm để cứu bầy chim non và đưa chúng lên bờ. Khi đến đích, cả hai đã nhìn thấy những con chim bé bỏng và ướt át bất ngờ bay lên từ dòng nước, gợi lên trong lòng hai người một loạt cảm xúc khó tả và rất xúc động.
Nhân vật Mon trong truyện được miêu tả là một cậu bé tốt bụng. Vì lo cho bầy chim chìa vôi mà cậu không thể ngủ được. Lúc hai giờ sáng, Mon tỉnh dậy và đánh thức anh trai là Mên. Cậu liên tục hỏi Mên những câu hỏi như: mưa có to không, nước sông có lên cao không, bãi cát giữa sông có ngập chưa, bầy chim còn ở đấy không... Những câu hỏi liên tục này cho thấy sự lo lắng của Mon. Cuối cùng, cậu nói với anh trai: “Em sợ những con chim chìa vôi non bị chết đuối mất”. Điều này cho thấy Mon đang rất quan tâm và lo lắng cho sự an toàn của những con chim non. Thậm chí, cậu còn hỏi Mên tại sao những con chim này lại chọn làm tổ trên bãi cát giữa sông thay vì tìm một nơi an toàn hơn trong đêm mưa bão.
Dù đã cố gắng nằm xuống để ngủ nhưng Mon vẫn không thể chìm vào giấc ngủ. Cậu bắt đầu gọi anh trai của mình, nói lên sự lo lắng của mình và quyết định rằng cậu phải đưa đàn chim chìa vôi vào bờ. Quyết định này cho thấy Mon là một cậu bé mạnh mẽ, quyết tâm và không thể bỏ qua sự an toàn của đàn chim. Đây không phải là quyết định của Mên mà là quyết định của Mon dựa trên những nỗi lo lắng của mình.
Qua nhân vật Mon, tác giả Nguyễn Quang Thiều đã gửi gắm thông điệp sâu sắc về tình yêu thiên nhiên, yêu thương, trân trọng sự sống dành cho loài vật.