Trần Kim Chi

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trần Kim Chi
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

1,The Muong earn their living by farming and raising animals.

2,They are in the habit of exercising after work.


I learnt to share housework with other members of the family when I was seven or eight. I always start the day by tidying up my bed. Then I prepare breakfast for me and my brother. I usually help prepare dinner or do the washing afterwards. At the weekend, I usually spend an hour cleaning and tidying up my room and collecting dirty clothes of the whole family for washing. I sometimes do other work like planting vegetables or flowers on the top open floor of our house with my mother, repairing our bikes with my father, or repainting the gate. I think doing housework together connects our family’s members.

I learnt to share housework with other members of the family when I was seven or eight. I always start the day by tidying up my bed. Then I prepare breakfast for me and my brother. I usually help prepare dinner or do the washing afterwards. At the weekend, I usually spend an hour cleaning and tidying up my room and collecting dirty clothes of the whole family for washing. I sometimes do other work like planting vegetables or flowers on the top open floor of our house with my mother, repairing our bikes with my father, or repainting the gate. I think doing housework together connects our family’s members.

Câu 1.Bài thơ "Đề đền Sầm Nghi Đống" của Hồ Xuân Hương là sự kết hợp độc đáo giữa thái độ trân trọng, xót thương vị anh hùng dân tộc Sầm Nghi Đống cùng sự phẫn uất, khinh bỉ với triều đình phong kiến bạc nhược, thể hiện qua hình ảnh "Sầm Nghi Đống" (tên ông) đối lập với hình ảnh "Sầm Nghi Đống" (tượng ông) được khắc họa bằng nét vẽ vụng về, làm mất đi vẻ trang nghiêm, cho thấy nỗi lòng yêu nước, căm hờn của nữ sĩ trước cảnh nước mất nhà tan, đất trời "đứng" mà không "chịu" nổi, kết thúc bằng lời cảm thán, tiếc nuối cho người anh hùng và khát khao một thời đại vẻ vang, xứng đáng với công lao của ông. 

Câu 2."Con người có tổ có tông, như cây có cội như sông có nguồn." Đúng thật, mỗi chúng ta may mắn được sinh ra và lớn lên trong thời đại bình yên như hiện nay. Vì vậy, chúng ta cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với đất nước trong bối cảnh hiện tại.

Trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay đối với đất nước dân tộc là nhận thức về tầm quan trọng của chính bản thân mình trong quá trình xây dựng và phát triển quê hương. Chúng ta cần có những hành động thiết thực để rèn luyện bản thân và đóng góp những điều tốt đẹp nhất cho đất nước, tổ quốc. Sống có trách nhiệm còn đòi hỏi chúng ta phải sống với tình yêu thương dành cho mọi người xung quanh, với tinh thần đoàn kết, sẵn sàng chia sẻ và giúp đỡ những người gặp khó khăn. Chúng ta hãy cùng nhau đoàn kết vì một đất nước vững mạnh, một xã hội giàu tình yêu thương.

Sống cống hiến sẽ giúp mỗi người trở nên tốt hơn, bởi khi chúng ta nhận thức được vai trò và trách nhiệm của bản thân, chúng ta sẽ có hành động đúng đắn để xây dựng cuộc sống của mình. Đồng thời, việc sống có trách nhiệm sẽ lan tỏa những giá trị tích cực ra xã hội, giúp cho xã hội ngày càng tốt đẹp và văn minh hơn.

Với tư cách là học sinh, chúng ta là những người chủ nhân tương lai của đất nước, chúng ta cần nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của việc sống cống hiến. Chúng ta cần hoàn thiện bản thân theo hướng tích cực, rèn luyện đạo đức và trau dồi kiến thức, nhằm trở thành những người trụ cột của đất nước. Mỗi ngày, hãy cố gắng từng chút một, và chúng ta sẽ trở nên tốt hơn.

Thời gian là một tài nguyên quý giá, mặc dù tưởng chừng vô hạn nhưng thực tế lại có hạn. Hãy sống trọn vẹn từng giây phút, và trở thành những người có ích cho xã hội.

Câu 1.Bài thơ "Đề đền Sầm Nghi Đống" của Hồ Xuân Hương là sự kết hợp độc đáo giữa thái độ trân trọng, xót thương vị anh hùng dân tộc Sầm Nghi Đống cùng sự phẫn uất, khinh bỉ với triều đình phong kiến bạc nhược, thể hiện qua hình ảnh "Sầm Nghi Đống" (tên ông) đối lập với hình ảnh "Sầm Nghi Đống" (tượng ông) được khắc họa bằng nét vẽ vụng về, làm mất đi vẻ trang nghiêm, cho thấy nỗi lòng yêu nước, căm hờn của nữ sĩ trước cảnh nước mất nhà tan, đất trời "đứng" mà không "chịu" nổi, kết thúc bằng lời cảm thán, tiếc nuối cho người anh hùng và khát khao một thời đại vẻ vang, xứng đáng với công lao của ông. 

Câu 2."Con người có tổ có tông, như cây có cội như sông có nguồn." Đúng thật, mỗi chúng ta may mắn được sinh ra và lớn lên trong thời đại bình yên như hiện nay. Vì vậy, chúng ta cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với đất nước trong bối cảnh hiện tại.

Trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay đối với đất nước dân tộc là nhận thức về tầm quan trọng của chính bản thân mình trong quá trình xây dựng và phát triển quê hương. Chúng ta cần có những hành động thiết thực để rèn luyện bản thân và đóng góp những điều tốt đẹp nhất cho đất nước, tổ quốc. Sống có trách nhiệm còn đòi hỏi chúng ta phải sống với tình yêu thương dành cho mọi người xung quanh, với tinh thần đoàn kết, sẵn sàng chia sẻ và giúp đỡ những người gặp khó khăn. Chúng ta hãy cùng nhau đoàn kết vì một đất nước vững mạnh, một xã hội giàu tình yêu thương.

Sống cống hiến sẽ giúp mỗi người trở nên tốt hơn, bởi khi chúng ta nhận thức được vai trò và trách nhiệm của bản thân, chúng ta sẽ có hành động đúng đắn để xây dựng cuộc sống của mình. Đồng thời, việc sống có trách nhiệm sẽ lan tỏa những giá trị tích cực ra xã hội, giúp cho xã hội ngày càng tốt đẹp và văn minh hơn.

Với tư cách là học sinh, chúng ta là những người chủ nhân tương lai của đất nước, chúng ta cần nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của việc sống cống hiến. Chúng ta cần hoàn thiện bản thân theo hướng tích cực, rèn luyện đạo đức và trau dồi kiến thức, nhằm trở thành những người trụ cột của đất nước. Mỗi ngày, hãy cố gắng từng chút một, và chúng ta sẽ trở nên tốt hơn.

Thời gian là một tài nguyên quý giá, mặc dù tưởng chừng vô hạn nhưng thực tế lại có hạn. Hãy sống trọn vẹn từng giây phút, và trở thành những người có ích cho xã hội.

Trong nhịp sống hiện đại, khi thời gian trở thành yếu tố quyết định sự thành công, việc sử dụng thời gian hiệu quả là vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, một thực trạng đáng lo ngại đang diễn ra trong giới trẻ hiện nay là thói quen trì hoãn – luôn chần chừ, để mọi việc “ngày mai làm cũng được”. Sự trì hoãn không chỉ ảnh hưởng đến kết quả học tập, công việc mà còn tác động tiêu cực đến tương lai của mỗi người.

Trì hoãn là hành vi cố tình kéo dài hoặc né tránh việc cần làm dù biết rõ hậu quả của việc không hoàn thành đúng thời hạn. Trong giới trẻ, sự trì hoãn thể hiện rất phổ biến: học sinh để bài tập đến sát hạn mới làm, sinh viên học “nước đến chân mới nhảy”, nhiều bạn trẻ trì hoãn việc rèn luyện bản thân, học kỹ năng mới hay theo đuổi ước mơ của mình. Ban đầu, sự trì hoãn có vẻ vô hại, nhưng lâu dần lại trở thành thói quen khó bỏ.

Nguyên nhân của sự trì hoãn xuất phát từ nhiều phía. Trước hết là do tâm lý lười biếng, ngại khó, thích hưởng thụ hơn nỗ lực. Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội, trò chơi điện tử, các nội dung giải trí nhanh khiến giới trẻ dễ bị cuốn vào thế giới ảo và quên đi trách nhiệm thực tế. Ngoài ra, không ít bạn trẻ thiếu mục tiêu rõ ràng, thiếu kỹ năng quản lý thời gian, dẫn đến việc không biết bắt đầu từ đâu và lựa chọn trì hoãn như một cách trốn tránh áp lực.

Hậu quả của sự trì hoãn là vô cùng nghiêm trọng. Trước hết, nó làm giảm hiệu quả học tập và công việc, khiến kết quả không đạt như mong muốn. Sự trì hoãn còn gây ra tâm lý căng thẳng, lo âu khi thời hạn đến gần nhưng công việc vẫn chưa hoàn thành. Về lâu dài, thói quen này khiến giới trẻ đánh mất nhiều cơ hội, trở nên thiếu kỷ luật, thiếu bản lĩnh và khó thành công trong cuộc sống. Một người quen trì hoãn hôm nay rất dễ trở thành người nuối tiếc ngày mai.Để khắc phục sự trì hoãn, mỗi bạn trẻ cần nhận thức rõ tác hại của thói quen này và chủ động thay đổi bản thân. Trước hết, cần xác định mục tiêu rõ ràng cho học tập và cuộc sống, từ đó tạo động lực hành động. Việc lập kế hoạch cụ thể, chia nhỏ công việc và hoàn thành từng bước sẽ giúp giảm cảm giác áp lực. Bên cạnh đó, giới trẻ cần rèn luyện tính kỷ luật, biết kiểm soát thời gian sử dụng mạng xã hội và các hình thức giải trí. Gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần đồng hành, định hướng và tạo môi trường tích cực để giúp giới trẻ phát triển toàn diện.

Tóm lại, sự trì hoãn là một “kẻ thù thầm lặng” đang cản bước thành công của nhiều bạn trẻ hiện nay. Nhận ra, đối mặt và vượt qua sự trì hoãn chính là cách để giới trẻ làm chủ thời gian, làm chủ bản thân và xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn.

gợi cho thế hệ học sinh,sinh viên về trách nghiệm nhìn nhận lại thực tại dũng cảm nhìn thẳng vào tình hình của đất nước phê phán sự trì trệ lố lăng và đặc biệt là tự vấn để hành động cống hiến bằng tài năng trí tuệ không chấp nhận thân phận lô lệ tinh thần,phải vươn lên vực dậy đất nước giống như lời kêu gọi ngoảnh cổ mà trong cảnh nước nhà

Trong hai câu thơ "Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng, Nét son điểm rõ mặt văn khôi" (của Nguyễn Khuyến), nghĩa tường minh nói về tấm thẻ ghi tên người đỗ khoa bảng được làm bằng giấy, có nét son đánh dấu. Nghĩa hàm ẩn là lời phê phán sâu sắc, mỉa mai chế độ khoa cử mục nát thời Nguyễn Khuyến, nơi danh vị cao quý (tiến sĩ) chỉ còn là hình thức trống rỗng, mua bán được, thể hiện sự vô dụng và nhơ nhuốc của những kẻ "tiến sĩ giấy". 

Trần Tế Xương cay nhất là chuyện thi cử. Tài giỏi như ông mà phải đến lần thi thứ tám mới đậu vét được cái tú tài. Mà Tú tài thời đó thì được tiếng là “ông Tú” nhưng chỉ được “làm quan tại gia”, “ăn lương vợ”. Nhưng không được thênh thênh trên đường hoạn lộ chưa hẳn đã là rủi, thì ông Tú Xương làm thơ, làm thi sĩ, thành thi hào! Bài thơ “Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu” là một đòn trời giáng của Tú Xương vào chế độ thi cử mạt vận, hổ lốn, ô nhục của thời thực dân mới đặt chân cai trị đất nước ta.

Là sĩ tử, cũng là nạn nhân trong kì thi Hương năm Đinh Dậu (1897), tại Nam Định, Trần Tế Xương tận mắt chứng kiến sự suy đồi của Nho học, đau lòng trước nỗi ô nhục của tài tử văn nhân đất Bắc. Cho nên mở đầu bài thơ, tác giả đã phê phán sâu sắc nhà nước thực dân phong kiến thời bấy giờ:

“Nhà nước ba năm mở một khoa

Trường Nam thi lẫn với trường Hà”

Tác giả nói “nhà nước” một cách trang trọng như vậy nếu những việc làm của “nhà nước” mà tô't đẹp thì là ngợi ca, còn nếu nói đến những việc làm của “nhà nước” không ra gì thì là “hạ bệ”. Rõ ràng là Tú Xương đã “hạ bệ” cái “nhà nước” thực dân phong kiến đó bằng sự kiện “ba năm mở một khoa”. Dưới sự cai trị của “nhà nước” thực dân, đạo học (chữ Nho) đã mạt vận. “nhà nước” chỉ mở kì thi cầm chừng, hổ lốn, mất hết vẻ trang nghiêm của kỳ thi quốc gia: “Trường Nam thi lẫn với trường Hà”. Sợ mất an ninh ở Hà Nội, “nhà nước” thực dân đã lừa sĩ tử Hà Nội xuống Nam Định “thi lẫn” với sĩ tử trường Nam. Chỉ một từ “lẫn”, Tú Xương phơi bày cả sự đổ nát của kỳ thi quốc gia và phê phán “nhà nước” vô trách nhiệm.

Sang hai câu thực, sĩ tử và quan trường được nhà thơ Tú Xương biếm họa rất tài tình:

“Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ

Ậm ọe quan trường miệng thét loa”

Tú Xương có biệt tài mà Nguyễn Công Hoan tôn như “thần thơ thánh chữ” là chỉ trong một chữ đã lột tả được thần thái của sự vật. Chỉ một từ “lôi thôi” được đảo ra phía trước, nhấn mạnh là hình ảnh của sĩ tử bị chìm trong sự nhếch nhác. Sĩ tử mà bút mực đâu không thấy, chỉ nổi bật lủng lẳng một cái lọ (vì đường xa, phải đeo theo lọ nước uống). Hàng ngàn “sĩ tử vai đeo lọ” thì lôi thôi thật, là bức tranh biếm họa để đời về anh học trò đi thi trong thời buổi thực dân nhố nhăng. Còn quan trường thì “ậm ọe” giọng như mửa. Sĩ tử thì đông vì dồn cả hai trường thi lại nên quan trường phải “thét loa” lại còn lên giọng đe nẹt sĩ tử nên thành ra “ậm ọe” tởm lợm thật đáng ghét. Thái độ trào lộng của nhà thơ thật rõ ràng. Đối với “sĩ tử”, Tú Xương thấy nhếch nhác đáng thương; đối với “quan trường”, Tú Xương khinh ghét ra mặt. Quan trường của một kì thi quốc gia bát nháo mà còn “ậm ọe” không biết nhục.

Tú Xương còn ghi lại một hiện tượng chưa từng thấy trong lịch sử thi cử của nước nhà là “khoa thi Đinh Dậu”, có cả Tây đầm nhốn nháo ở trường thi:

“Cờ cắm rợp trời quan sứ đến

Váy lê phết đất mụ đầm ra”

“Cờ cắm” hay “Lọng cắm”? Sách giáo khoa hiện hành chép là “Cờ cắm”, có chú thích là: có bản chép: “Lọng cắm”. Thơ Tú Xương gần với thơ ca dân gian, nhà thơ sáng tác không in ấn, không xuất bản, người đời nghe rồi ghi lại nên dễ “tam sao thất bản”. Trong những trường hợp có dị bản như thế này thì buộc người đọc, người nghiên cứu phải lựa chọn. Người soạn sách giáo khoa chọn “cờ cắm” để đối với “váy lê” ở câu dưới cho thật độc. “Cờ” mà đối với “váy” độc quá! Theo tôi, “lọng cắm” hay hơn:

“Lọng cắm rợp trời quan sứ đến”

Quan sứ (công sứ Nam Định Lơ Nooc Măng, đèn dự lễ xướng danh khoa thi Hương hẳn là phải có “lọng cắm rợp trời” mà “lọng cắm” thì mới “rợp trời”. Còn vế đối “Lọng cắm rợp trời” với “váy lê phết đất” cũng chỉnh quá, mà độc địa không kém. Lọng là cái che trên đầu “quan sứ” mà lại đôi với “váy” là cái che dưới mông “mụ đầm”! “Quan sứ” đến”, “mụ đầm ra”, chúng nó “đến”, nó “ra” như thế thì nhục quá, không chịu được, Tú Xương đã chơi một đòn trí mạng vào bọn Tây đầm thực dân nhốn nháo vào cái thời buổi nhố nhăng! Tú Xương ác khẩu trong cách đối chữ đôi câu, cái tôn nghiêm đem đọ với những cái không tiện hô đúng tên thật, ông lợm sự sông, ông cho lộn tùng phèo cả đi. Nghĩ về người quan văn người quan võ thời nhí nhố ấy, ông đem cái võng (võng điểu võng thắm) ra mà đối với cái khố dây (khố đỏ khố xanh). Tường thuật việc trường thi chữ nho có Tây đến ra bài, ông đem cái lọng quan sứ mà đối với cái váy mụ đầm, đem cái đít vịt bà đầm ra đối với cái đầu rồng một ông cử dốt đang lạy tạ mũ áo vua ban... (Nguyễn Tuân).

Kết thúc bài thơ, tác giả chuyển từ giọng điệu trào lộng sang giọng điệu trữ tình thâm trầm. Tú Xương đau lòng nhắn nhủ với “nhân tài đất Bắc”:

“Nhân tài đất Bắc nào ai đó

Ngoảnh cổ mà trông lại nước nhà”

Giọng trữ tình thấm thìa ấy như có sự cộng hưởng của giọng điệu trữ tình đầy nhiệt huyết của các nhà ái quốc đầu thế kỷ như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng... Tất nhiên trong giọng điệu chung của những tấm lòng ái quốc ấy, ta vẫn nhận ra sắc thái riêng của Tú Xương. Khi thì xót xa thổn thức “Nhân tài đất Bắc nào ai đó”, khi thì kiêu bạc trịch thượng “Ngoảnh cổ mà trông lại nước nhà”. Không dễ gì mà hạ một chữ “ngoảnh cổ” như vậy đối với giới trí thức Bắc Hà. Phải có chân tài và quan trọng hơn nữa là phải có tấm lòng đối với đất nước, với dân tộc thì nhân tài đất Bắc mới tâm phục. Đúng là tâm sự yêu nước thổn thức của Tú Xương là vật bảo chứng cho những gì là lộng ngôn của nhà thơ:

“Trời không chớp bể chẳng mưa nguồn

Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn”

(Đêm hè)

Dưới mắt Tú Xương, sự suy đồi của đạo học (chữ nho) là một hiện tượng của sự mất nước, của sự nô lệ. Với Tú Xương, nỗi nhục trong “Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu” là nỗi nhục mất nước! “Theo tôi nghĩ, thơ là ảnh, là nhân ảnh, thơ cũng ở loại cụ thể hữu hình. Nhưng nó khác với cái cụ thể của văn. Cũng mọc lên từ cái đông tài liệu thực tế, nhưng từ một cái hữu hình nó thức dậy được những vô hình bao la, từ một cái điểm nhất định mà nó mở được ra một cái diện không gian, thời gian trong đó nhịp mãi lên một tấm lòng sứ điệp” (Nguyễn Tuân).

“Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu” của Trần Tế Xương là “sử thi” về đời sống nhà nho lúc Tây sang. Đạo học suy đồi, thi cử bát nháo hố’ lốn, sĩ tử mất hết nhuệ khí, quan trường mất hết nhân cách. Bọn thực dân nghênh ngang đến trường thi là một nỗi ô nhục của nhân tài đất Bắc. Nỗi đau của nhà thơ đã làm thức tỉnh tầng lớp trí thức đương thời.

Nghệ thuật trào lộng và trữ tình của Tú Xương đều sâu sắc, thấm thía. Đối với sĩ tử, nhà thơ thương mà cười, đối với quan trường, nhà thơ căm ghét mà châm biếm, đối với bọn thực dân, nhà thơ căm thù mà đả kích, hạ nhục. Từ ngữ, hình ảnh, âm điệu, bút pháp của bài thơ bộc lộ tài hoa của một hồn thơ lỗi lạc. Đúng như lời ngợi ca của Yên Đổ:

“Kia ai chín suối xương không nát

Có lẽ nghìn thu tiếng vẫn còn”

Em đồng ý với ý kiến này .