Chu Hải Băng
Giới thiệu về bản thân
Nhân dịp kỉ niệm ngày thành lập trường, lớp em được tham gia một chuyến tham quan về nguồn đầy ý nghĩa. Điểm đến của chúng em là Khu di tích K9 – Đá Chông và khu du lịch Suối Tiên. Đây là chuyến đi để lại trong em nhiều cảm xúc sâu sắc và những bài học quý giá.
Buổi sáng hôm ấy, trời trong xanh và mát mẻ. Từ rất sớm, ai nấy đều có mặt ở sân trường với gương mặt rạng rỡ, háo hức. Khi chiếc xe bắt đầu lăn bánh, cả lớp em như vỡ òa trong niềm vui. Tiếng nói cười rộn rã, những bài hát vang lên khiến không khí trên xe thật sôi động. Sau hơn một giờ di chuyển, xe dừng lại ở Khu di tích K9 – Đá Chông, nằm bên dòng sông Đà hiền hòa, thơ mộng.
Ngay khi đặt chân đến nơi, em cảm nhận được không khí trang nghiêm và thiêng liêng của một địa điểm lịch sử. Đây là nơi mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng làm việc và nghỉ ngơi trong những năm kháng chiến. Chúng em được hướng dẫn viên kể lại những câu chuyện giản dị mà cảm động về cuộc sống của Bác: chiếc giường tre nhỏ, bộ ấm chén đã cũ, chiếc áo kaki quen thuộc... Tất cả đều thể hiện rõ tinh thần giản dị, thanh cao và lòng yêu nước bao la của Người. Khi đứng trước bàn thờ Bác, em cảm thấy vô cùng xúc động. Chúng em cùng nhau dâng hương tưởng niệm, hứa sẽ cố gắng học tập và rèn luyện thật tốt để xứng đáng với công lao của Bác.
Rời K9, đoàn chúng em tiếp tục hành trình đến khu du lịch Suối Tiên. Con đường quanh co dẫn đến Suối Tiên thật đẹp, hai bên là những rặng cây xanh mát và tiếng suối róc rách chảy không ngừng. Đến nơi, chúng em như được hòa mình vào thiên nhiên tươi đẹp. Dòng suối trong veo, mát lạnh uốn lượn giữa những tảng đá lớn, tạo nên khung cảnh vừa hoang sơ vừa thơ mộng. Chúng em cùng nhau ngâm chân dưới suối, nghe tiếng nước chảy và tiếng chim hót, cảm thấy tâm hồn thật thư thái, nhẹ nhõm.
Sau bữa trưa vui vẻ bên bạn bè và thầy cô, lớp em tham gia nhiều trò chơi tập thể như kéo co, nhảy bao bố, hát tập thể… Tiếng cười vang khắp núi rừng. Mọi người ai cũng đều vui vẻ, gắn kết hơn và có thêm thật nhiều kỷ niệm đẹp.
Khi mặt trời dần khuất sau rặng núi, chuyến đi cũng khép lại. Trên đường trở về, ai nấy đều mệt nhưng vẫn nở nụ cười hạnh phúc. Em ngồi bên cửa sổ xe, ngắm cảnh hoàng hôn và thầm nghĩ: chuyến đi hôm nay không chỉ giúp em hiểu thêm về lịch sử dân tộc, về tấm gương vĩ đại của Bác Hồ, mà còn khiến em biết trân trọng hơn những giây phút yên bình, biết yêu thiên nhiên và quê hương mình hơn.
Đó là một chuyến đi thật đáng nhớ, để lại trong em nhiều ấn tượng khó phai — vừa thiêng liêng, vừa vui tươi, giúp em trưởng thành hơn trong nhận thức và tình cảm.
Nhân dịp kỉ niệm ngày thành lập trường, lớp em được tham gia một chuyến tham quan về nguồn đầy ý nghĩa. Điểm đến của chúng em là Khu di tích K9 – Đá Chông và khu du lịch Suối Tiên. Đây là chuyến đi để lại trong em nhiều cảm xúc sâu sắc và những bài học quý giá.
Buổi sáng hôm ấy, trời trong xanh và mát mẻ. Từ rất sớm, ai nấy đều có mặt ở sân trường với gương mặt rạng rỡ, háo hức. Khi chiếc xe bắt đầu lăn bánh, cả lớp em như vỡ òa trong niềm vui. Tiếng nói cười rộn rã, những bài hát vang lên khiến không khí trên xe thật sôi động. Sau hơn một giờ di chuyển, xe dừng lại ở Khu di tích K9 – Đá Chông, nằm bên dòng sông Đà hiền hòa, thơ mộng.
Ngay khi đặt chân đến nơi, em cảm nhận được không khí trang nghiêm và thiêng liêng của một địa điểm lịch sử. Đây là nơi mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng làm việc và nghỉ ngơi trong những năm kháng chiến. Chúng em được hướng dẫn viên kể lại những câu chuyện giản dị mà cảm động về cuộc sống của Bác: chiếc giường tre nhỏ, bộ ấm chén đã cũ, chiếc áo kaki quen thuộc... Tất cả đều thể hiện rõ tinh thần giản dị, thanh cao và lòng yêu nước bao la của Người. Khi đứng trước bàn thờ Bác, em cảm thấy vô cùng xúc động. Chúng em cùng nhau dâng hương tưởng niệm, hứa sẽ cố gắng học tập và rèn luyện thật tốt để xứng đáng với công lao của Bác.
Rời K9, đoàn chúng em tiếp tục hành trình đến khu du lịch Suối Tiên. Con đường quanh co dẫn đến Suối Tiên thật đẹp, hai bên là những rặng cây xanh mát và tiếng suối róc rách chảy không ngừng. Đến nơi, chúng em như được hòa mình vào thiên nhiên tươi đẹp. Dòng suối trong veo, mát lạnh uốn lượn giữa những tảng đá lớn, tạo nên khung cảnh vừa hoang sơ vừa thơ mộng. Chúng em cùng nhau ngâm chân dưới suối, nghe tiếng nước chảy và tiếng chim hót, cảm thấy tâm hồn thật thư thái, nhẹ nhõm.
Sau bữa trưa vui vẻ bên bạn bè và thầy cô, lớp em tham gia nhiều trò chơi tập thể như kéo co, nhảy bao bố, hát tập thể… Tiếng cười vang khắp núi rừng. Mọi người ai cũng đều vui vẻ, gắn kết hơn và có thêm thật nhiều kỷ niệm đẹp.
Khi mặt trời dần khuất sau rặng núi, chuyến đi cũng khép lại. Trên đường trở về, ai nấy đều mệt nhưng vẫn nở nụ cười hạnh phúc. Em ngồi bên cửa sổ xe, ngắm cảnh hoàng hôn và thầm nghĩ: chuyến đi hôm nay không chỉ giúp em hiểu thêm về lịch sử dân tộc, về tấm gương vĩ đại của Bác Hồ, mà còn khiến em biết trân trọng hơn những giây phút yên bình, biết yêu thiên nhiên và quê hương mình hơn.
Đó là một chuyến đi thật đáng nhớ, để lại trong em nhiều ấn tượng khó phai — vừa thiêng liêng, vừa vui tươi, giúp em trưởng thành hơn trong nhận thức và tình cảm.
Bài 1 :Bài thơ “Cảnh ngày hè” được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú
Bài 2 : Những hình ảnh thiên nhiên được nhắc đến trong bốn dòng thơ đầu là:
Hoa lựu đỏ, lá hòe xanh, tiếng chim hót, chợ cá lao xao, ve kêu dắng dỏi — tất cả tạo nên bức tranh mùa hè rực rỡ, sinh động và tràn đầy sức sống.
Câu 3:
Biện pháp đảo ngữ trong hai câu:
“Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.”
có tác dụng là nhấn mạnh âm thanh sống động của cuộc sống lao động và thiên nhiên mùa hè, làm cho bức tranh ngày hè trở nên có hồn, vui tươi, náo nức hơn, đồng thời thể hiện tâm hồn yêu đời, gắn bó với dân gian của Nguyễn Trãi.
Câu 4
Trong hai dòng thơ cuối, tác giả bộc lộ tấm lòng yêu nước, thương dân sâu sắc và ước muốn cho nhân dân được sống no đủ, hạnh phúc, thái bình.
Câu 5
Chủ đề của bài thơ: Ca ngợi vẻ đẹp rực rỡ, đầy sức sống của cảnh ngày hè và thể hiện tấm lòng yêu đời, yêu dân, yêu thiên nhiên, khát vọng vì cuộc sống hạnh phúc của nhân dân.
→ Căn cứ để xác định là: hình ảnh thiên nhiên tươi sáng trong phần đầu và niềm mong ước cho dân giàu, nước mạnh trong hai câu cuối.
Câu 6
Từ niềm vui giản dị mà Nguyễn Trãi tìm thấy trong thiên nhiên ngày hè, em học được rằng niềm hạnh phúc thật sự không nhất thiết phải đến từ những điều lớn lao, mà có thể xuất phát từ những điều bình dị quanh ta: tiếng chim, cơn gió, nắng vàng hay một buổi chiều yên ả. Em cần giữ tinh thần lạc quan, biết yêu quý thiên nhiên, trân trọng cuộc sống, để mỗi ngày trôi qua đều trở nên ý nghĩa và vui tươi hơn.
Bài thơ “Bạn đến chơi nhà” là một trong những tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Khuyến, thể hiện tình bạn chân thành, mộc mạc nhưng sâu sắc giữa những con người cùng chí hướng. Qua những vần thơ giản dị, tác giả đã khắc họa một bức tranh nông thôn bình dị, đồng thời bộc lộ tâm hồn thanh cao và lối sống chan hòa của mình.
Về nội dung, bài thơ nói về một cuộc viếng thăm giản dị giữa hai người bạn. Mở đầu bài thơ, Nguyễn Khuyến vui mừng đón bạn: “Đã bấy lâu nay bác tới nhà”. Niềm vui gặp gỡ ấy được thể hiện một cách tự nhiên, thân tình. Tuy nhiên, hàng loạt câu thơ sau lại liệt kê những “khó khăn” trong việc tiếp đãi bạn: “Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa / Ao sâu nước cả, khôn chài cá…”. Tác giả dường như chẳng có gì để đãi khách – không người giúp, không vật dụng, cũng chẳng có trầu, có cá. Nhưng chính trong cái “không có gì” ấy lại hiện lên một cái “có” lớn nhất: tình bạn chân thành, không vụ lợi. Câu kết “Bác đến chơi đây, ta với ta” là điểm sáng của bài thơ, thể hiện niềm vui giản dị, đậm nghĩa tri âm tri kỷ – chỉ cần có bạn là đủ.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật chặt chẽ nhưng lời thơ lại tự nhiên, dân dã, đậm phong vị làng quê Bắc Bộ. Biện pháp liệt kê, tăng cấp trong các câu thơ giữa góp phần làm nổi bật hoàn cảnh nghèo nhưng vui, đơn sơ mà không thiếu tình người. Giọng điệu hóm hỉnh, dí dỏm và ngôn từ gần gũi, bình dân đã tạo nên nét duyên riêng cho thơ Nguyễn Khuyến – một nét đẹp của văn học trung đại Việt Nam.
Tóm lại, “Bạn đến chơi nhà” là một bài thơ đặc sắc, thể hiện tình bạn chân thành, thuần khiết, đồng thời phản ánh tâm hồn thanh cao, giản dị của Nguyễn Khuyến. Dù cuộc sống còn thiếu thốn, tình bạn vẫn là điều quý giá nhất, giúp con người cảm thấy ấm áp và hạnh phúc giữa cuộc đời.
Sống hòa hợp với thiên nhiên giúp con người cảm nhận được vẻ đẹp và sự bình yên của cuộc sống. Khi con người gắn bó với đồng ruộng, cây cỏ, mưa xuân như trong bài thơ “Chiều xuân ở thôn Trừng Mại”, ta thấy lòng trở nên thanh thản và vui tươi hơn. Thiên nhiên không chỉ nuôi dưỡng cuộc sống vật chất mà còn nuôi dưỡng tâm hồn con người, giúp ta biết yêu lao động và trân trọng những giá trị giản dị. Sống hòa hợp với thiên nhiên cũng là cách để con người bảo vệ môi trường, giữ gìn nguồn sống cho mai sau. Vì thế, mỗi người cần biết yêu quý, chăm sóc và gìn giữ thiên nhiên quanh mình.
ức tranh thiên nhiên hiện lên thanh bình, tươi tắn và đậm sắc xuân của làng quê Việt Nam. Hình ảnh mưa phùn lất phất, mía nảy ngọn, khoai xanh cây gợi cảm giác ấm áp, sinh sôi của mùa xuân. Cảnh vật hòa quyện với con người lao động — người mặc áo ngắn giục trâu cày, nàng dâu gieo dưa, bà lão xới đậu — tạo nên một bức tranh sinh hoạt nông thôn yên ả, tràn đầy sức sống. Qua đây Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ vừa đẹp, vừa bình dị, đậm hương vị đồng quê và thể hiện niềm vui, sự thanh thản của người dân lao động trong khung cảnh mùa xuân yên bình.
Ai đó đã từng nói: "Truyện cổ tích là thế giới hiện thực biết ước mơ". Vâng, truyện cổ tích nói riêng và văn học dân gian Việt Nam nói chung là tiếng nói, là nỗi niềm, tiếng lòng của người bình dân trong xã hội cũ. Song những tiếng lòng ấy không hề ủy mị, không hề mềm yếu dẫu rằng nó được cất lên trong bùn đen cơ cực. "Tấm Cám" là một truyện cổ tích thể hiện rõ niềm lạc quan, niềm tin của nhân dân lao động. Tấm là nhân vật chính trong truyện hiện lên với số phận bất hạnh nhưng ngời sáng vẻ đẹp tâm hồn.
"Tấm Cám" là một truyện cổ tích thần kỳ. Truyện kể về cuộc đời số phận của Tấm - cô gái mồ côi, bất hạnh nhưng có phẩm chất tốt đẹp, trải qua nhiều gian nan cuối cùng được hưởng hạnh phúc. Thông qua số phận bất hạnh của Tấm, nhân dân gửi gắm ước mơ, khát vọng lí tưởng xã hội của mình về sự chiến thắng của cái thiện với cái ác.
Tấm là một cô gái có số phận bất hạnh. Tấm mồ côi từ nhỏ: "Tấm và Cám là hai chị em cùng cha khác mẹ. Tấm là con vợ cả, Cám là con vợ lẽ. Mẹ Tấm đã chết từ hồi Tấm còn bé. Sau đó mấy năm thì cha Tấm cũng chết. Tấm ở với dì ghẻ là mẹ của Cám". Tác giả dân gian đã đưa người đọc đến với số phận rất quen thuộc trong truyện cổ tích: đó là người mồ côi. Ở với dì ghẻ, Tấm phải sống một cuộc sống khổ cực, bị mẹ con Cám hành hạ. Tấm phải làm lụng suốt ngày đêm trong khi Cám thì thảnh thơi. Đâu chỉ có thế, Tấm còn bị Cám lừa lấy mất giỏ cá. Mất giỏ cá là Tấm mất đi phần thưởng của dì, mất đi cái yếm đẹp, mất đi tình yêu thương mà Tấm khao khát có được. Không chỉ có vậy, khi chỉ còn con cá bống bầu bạn, Tấm cũng bị mẹ con Cám bắt lấy và giết thịt. Cuộc đời Tấm dường như bị bủa vây trong sự hãm hại. Bống là con cá duy nhất còn sót lại trong giỏ cá. Bị lấy mất cá là Tấm mất đi người bạn ngày ngày tâm sự, sẻ chia, mất một niềm an ủi cuối cùng. Tấm là hiện thân của một cuộc đời đày đoạ, tước đoạt, một hình ảnh tiêu biểu cho những số phận thấp cổ bé họng, chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội phân chia giai cấp. Bởi vậy tiếng khóc tội nghiệp của Tấm mỗi khi bị chèn ép, áp bức có sức lay động mỗi trái tim nhân hậu, khơi dậy niềm cảm thông chia sẻ ở mọi người.
Nhờ Bụt, Tấm từ một cô gái mồ côi đã trở thành hoàng hậu. Bụt xuất hiện mỗi khi Tấm khóc, buồn tủi cần sự an ủi, giúp đỡ. Tấm bị mất chiếc yếm đỏ, Bụt cho hi vọng là con cá bống. Tấm bị mất cá bống, Bụt lại cho hi vọng. Tấm không được đi xem hội, Bụt cho một cho đàn chim sẻ đến giúp để đi hội làng gặp nhà vua. Lúc đi hội, Tấm làm rơi giày. Chính chiếc giày giúp Tấm gặp lại được vua trở thành hoàng hậu. Đó chính là ước mơ của người xưa về một sự đổi đời trở thành hoàng hậu, bước lên ngôi vị tối cao, là ước mơ, khát vọng lớn lao của người dân bị đè nén, áp bức. Hạnh phúc ấy chỉ dành cho những con người hiền lành, lương thiện.
Tấm là một con người sẵn sàng đấu tranh để giành lại hạnh phúc cho chính mình. Thông qua các cuộc đấu tranh của Tấm, nhân dân lao động gửi gắm niềm tin, ước muốn về khát khao đổi đời,về cuộc chiến thắng của cái thiện trước cái ác. Tấm phải nhiều lần hóa thân: Tấm bị giết hóa thành chim Vàng Anh, Vàng Anh bị giết mọc lên cây xoan đào, xoan đào bị chặt, Tấm hóa khung cửi, khung cửi bị đốt, Tấm hóa quả thị, từ quả thị Tấm bước ra làm người. Cuộc đấu tranh giành lại quyền sống của Tấm là vô cùng gian nan, quyết liệt, không khoan nhượng. Cuộc đấu tranh cho thấy cái ác luôn hiện hữu, luôn xuất hiện đầy ắp hành hạ cái thiện. Khi Tấm trở thành hoàng hậu, mẹ con Cám vẫn đeo bám tiêu diệt Tấm tới cùng. Sự đày đoạ của Tấm đã đến tận cùng, bị tước đoạt cả hạnh phúc lẫn tính mạng.
Lần hóa thân cuối cùng, cô Tấm bước ra làm người đã gửi gắm những quan niệm về hạnh phúc. Có lẽ hạnh phúc nơi trần thế mới là hạnh phúc đích thực và đáng trân trọng. Hạnh phúc giữa cuộc sống đời thực, được bên cạnh những người mình thương yêu. Đặc biệt, để có được hạnh phúc ấy, Tấm đã phải đấu tranh rất nhiều lần. Nếu như lúc trước lúc khó khăn, đau khổ, Tấm có Bụt hiện ra giúp đỡ thì lúc này đây, Tấm chủ động đấu tranh giành lấy hạnh phúc cho mình. Gửi hồn mình vào chim Vàng Anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị,... sau bao lần hóa thân, bị hãm hại, Tấm trở lại làm người. Tấm lại trở về là Tấm - một hoàng hậu xinh đẹp. Nhưng hạnh phúc sẽ chẳng bền lâu khi cái ác chưa bị diệt trừ tận gốc. Tấm tự tay trừng trị mẹ con Cám, để mẹ con cám phải nhận cái kết thích đáng. Nhân dân đã đứng về phía Tấm, công lý đứng về phía Tấm, hạnh phúc lại trở về bên cô Tấm nết na.
"Tấm Cám" là một truyện cổ tích mà ở đó mà không hề thấy người nông dân bi quan. Cái hiện thực với xã hội bất công vẫn cứ hiện ra thông qua số phận của nhân vật Tấm nhưng cũng qua nhân vật Tấm, nhân dân gửi gắm những ước mơ, khát vọng về cuộc sống hạnh phúc, được thể hiện bằng cốt truyện chặt chẽ, có sự tham gia của các yếu tố thần kì tạo hấp dẫn cho truyện. Thông qua nhân vật Tấm, người đọc hiểu được những ước mơ, khát vọng mà nhân dân gửi gắm, ta thấy được sự đấu tranh của tầng lớp thấp cổ bé họng trong xã hội xưa.
Trải qua biết bao thăng trầm lịch sử, văn học dân gian đã và mãi có chỗ đứng trong lòng bạn đọc và có giá trị sâu sắc trong kho tàng văn học Việt Nam nói chung. Bởi thông qua văn học dân gian, người đọc hiểu được đời sống cũng như tâm tư tình cảm người nông dân xưa, càng thêm trân trọng hơn kho tàng văn học dân gian Việt Nam.