Hoàng Hào Hiệp
Giới thiệu về bản thân
BÀI LÀM Hoàng Trung Thông là nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ ông giản dị, mộc mạc mà giàu cảm xúc. Bài thơ "Bộ đội về làng" sáng tác năm 1949, trong kháng chiến chống Pháp, đã khắc họa sinh động tình quân dân như cá với nước. Bài thơ vừa là bức tranh làng quê thời chiến, vừa là khúc ca về tình người. . Chủ đề của bài thơ: Tình quân dân thắm thiết trong kháng chiến Chủ đề xuyên suốt tác phẩm là vẻ đẹp của tình đoàn kết quân dân. Bài thơ ghi lại khoảnh khắc bộ đội về đóng quân tại một làng quê. Từ khung cảnh ban đầu còn bỡ ngỡ, xa lạ, chỉ sau một đêm, tình cảm đã trở nên gắn bó, thân thương. Mở đầu là không khí làng quê đón bộ đội: "Các anh về mái ấm nhà vui Tiếng hát câu cười rộn ràng xóm nhỏ" Bộ đội về mang theo niềm vui, sức sống mới cho làng. Hình ảnh "mái ấm nhà vui" đã nói lên sự tiếp đón nồng hậu của nhân dân. Họ xem bộ đội như con em trong nhà. Tình cảm ấy được vun đắp qua những hành động bình dị: cùng nhau xay lúa, giã gạo, các anh dạy chữ cho em nhỏ, kể chuyện chiến đấu cho bà con nghe. Đêm khuya, tiếng hát của anh bộ đội hòa với tiếng mõ, tiếng chày: "Tiếng hát át tiếng bom rền Tiếng cười át tiếng súng vang" Chiến tranh khốc liệt nhưng không thể át được tình người. Đỉnh cao của tình cảm là lúc chia tay. Dân làng lưu luyến, bịn rịn: "Mẹ già bịn rịn áo nâu Thương anh bộ đội đêm thâu lạnh lùng". Các anh đi rồi, nhưng để lại trong lòng dân làng nỗi nhớ và niềm tin. Như vậy, chủ đề của bài thơ chính là ngợi ca tình quân dân gắn bó, thủy chung – một sức mạnh làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến. Để làm nổi bật chủ đề, Hoàng Trung Thông đã sử dụng nhiều nét nghệ thuật đặc sắc như: Thể thơ và giọng điệu Bài thơ viết bằng thể thơ tự do, câu dài ngắn linh hoạt, phù hợp với mạch cảm xúc tự nhiên. Giọng thơ tâm tình, thủ thỉ như lời kể, tạo cảm giác gần gũi. Nhịp thơ khi rộn ràng lúc bộ đội về, khi trầm lắng lúc chia tay.
Hình ảnh thơ bình dị, giàu sức gợi Tác giả chọn những chi tiết đời thường: "mái ấm nhà vui", "chõng tre", "bếp lửa", "áo nâu". Đây là chất liệu của làng quê Việt Nam, không mỹ lệ hóa nhưng lại chạm đến trái tim. Hình ảnh "Các anh đi Lòng dân ở lại" rất cô đúc, khẳng định sự gắn bó máu thịt. Nghệ thuật đối lập và điệp ngữ Nhà thơ dùng phép đối lập "tiếng hát át tiếng bom rền" để khẳng định sức mạnh của lạc quan cách mạng. Điệp từ "các anh" được lặp lại nhiều lần vừa thể hiện sự trân trọng, vừa tạo âm hưởng ngân vang, như tiếng gọi thân thương Ngôn ngữ mộc mạc, giàu tính khẩu ngữ Lời thơ như lời ăn tiếng nói hàng ngày: "mẹ già", "em nhỏ", "bà con xóm nhỏ". Cách xưng hô "các anh – em" tạo không khí gia đình. Chính sự giản dị ấy làm nên chất trữ tình đằm thắm. Tóm lại, _Bộ đội về làng_ thành công nhờ sự hòa quyện giữa nội dung và nghệ thuật. Chủ đề tình quân dân được thể hiện qua những hình ảnh, ngôn từ bình dị mà sâu sắc. Bài thơ không chỉ là ký ức một thời khói lửa, mà còn nhắc thế hệ hôm nay về cội nguồn sức mạnh dân tộc: khi quân với dân một ý chí, không kẻ thù nào ngăn được bước ta đi. Với chưa đầy 600 chữ, Hoàng Trung Thông đã tạc nên một tượng đài tinh thần bất diệt.
BÀI LÀM Hoàng Trung Thông là nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ ông giản dị, mộc mạc mà giàu cảm xúc. Bài thơ "Bộ đội về làng" sáng tác năm 1949, trong kháng chiến chống Pháp, đã khắc họa sinh động tình quân dân như cá với nước. Bài thơ vừa là bức tranh làng quê thời chiến, vừa là khúc ca về tình người. . Chủ đề của bài thơ: Tình quân dân thắm thiết trong kháng chiến Chủ đề xuyên suốt tác phẩm là vẻ đẹp của tình đoàn kết quân dân. Bài thơ ghi lại khoảnh khắc bộ đội về đóng quân tại một làng quê. Từ khung cảnh ban đầu còn bỡ ngỡ, xa lạ, chỉ sau một đêm, tình cảm đã trở nên gắn bó, thân thương. Mở đầu là không khí làng quê đón bộ đội: "Các anh về mái ấm nhà vui Tiếng hát câu cười rộn ràng xóm nhỏ" Bộ đội về mang theo niềm vui, sức sống mới cho làng. Hình ảnh "mái ấm nhà vui" đã nói lên sự tiếp đón nồng hậu của nhân dân. Họ xem bộ đội như con em trong nhà. Tình cảm ấy được vun đắp qua những hành động bình dị: cùng nhau xay lúa, giã gạo, các anh dạy chữ cho em nhỏ, kể chuyện chiến đấu cho bà con nghe. Đêm khuya, tiếng hát của anh bộ đội hòa với tiếng mõ, tiếng chày: "Tiếng hát át tiếng bom rền Tiếng cười át tiếng súng vang" Chiến tranh khốc liệt nhưng không thể át được tình người. Đỉnh cao của tình cảm là lúc chia tay. Dân làng lưu luyến, bịn rịn: "Mẹ già bịn rịn áo nâu Thương anh bộ đội đêm thâu lạnh lùng". Các anh đi rồi, nhưng để lại trong lòng dân làng nỗi nhớ và niềm tin. Như vậy, chủ đề của bài thơ chính là ngợi ca tình quân dân gắn bó, thủy chung – một sức mạnh làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến. Để làm nổi bật chủ đề, Hoàng Trung Thông đã sử dụng nhiều nét nghệ thuật đặc sắc như: Thể thơ và giọng điệu Bài thơ viết bằng thể thơ tự do, câu dài ngắn linh hoạt, phù hợp với mạch cảm xúc tự nhiên. Giọng thơ tâm tình, thủ thỉ như lời kể, tạo cảm giác gần gũi. Nhịp thơ khi rộn ràng lúc bộ đội về, khi trầm lắng lúc chia tay.
Hình ảnh thơ bình dị, giàu sức gợi Tác giả chọn những chi tiết đời thường: "mái ấm nhà vui", "chõng tre", "bếp lửa", "áo nâu". Đây là chất liệu của làng quê Việt Nam, không mỹ lệ hóa nhưng lại chạm đến trái tim. Hình ảnh "Các anh đi Lòng dân ở lại" rất cô đúc, khẳng định sự gắn bó máu thịt. Nghệ thuật đối lập và điệp ngữ Nhà thơ dùng phép đối lập "tiếng hát át tiếng bom rền" để khẳng định sức mạnh của lạc quan cách mạng. Điệp từ "các anh" được lặp lại nhiều lần vừa thể hiện sự trân trọng, vừa tạo âm hưởng ngân vang, như tiếng gọi thân thương Ngôn ngữ mộc mạc, giàu tính khẩu ngữ Lời thơ như lời ăn tiếng nói hàng ngày: "mẹ già", "em nhỏ", "bà con xóm nhỏ". Cách xưng hô "các anh – em" tạo không khí gia đình. Chính sự giản dị ấy làm nên chất trữ tình đằm thắm. Tóm lại, _Bộ đội về làng_ thành công nhờ sự hòa quyện giữa nội dung và nghệ thuật. Chủ đề tình quân dân được thể hiện qua những hình ảnh, ngôn từ bình dị mà sâu sắc. Bài thơ không chỉ là ký ức một thời khói lửa, mà còn nhắc thế hệ hôm nay về cội nguồn sức mạnh dân tộc: khi quân với dân một ý chí, không kẻ thù nào ngăn được bước ta đi. Với chưa đầy 600 chữ, Hoàng Trung Thông đã tạc nên một tượng đài tinh thần bất diệt.
BÀI LÀM Trong những hiện tượng tự nhiên, cầu vồng luôn khiến em cảm thấy thú vị nhất. Đó là dải sáng bảy màu cong cong xuất hiện trên bầu trời sau mỗi cơn mưa, khi nắng vừa hửng lên. Về bản chất, cầu vồng là hiện tượng quang học do sự khúc xạ, phản xạ và tán sắc ánh sáng mặt trời qua các giọt nước trong không khí. Khi ánh sáng mặt trời chiếu vào một hạt mưa, nó sẽ bị khúc xạ đổi hướng khi đi vào giọt nước. Bên trong giọt nước, ánh sáng bị phản xạ một lần ở mặt sau, rồi lại khúc xạ lần nữa khi đi ra ngoài không khí. Vì ánh sáng trắng gồm 7 màu cơ bản, mỗi màu có bước sóng khác nhau nên bị bẻ cong với góc khác nhau. Kết quả là ánh sáng bị tách thành dải màu: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím. Hàng triệu giọt mưa cùng làm việc này một lúc nên mắt ta thấy cả một vòng cung rực rỡ. Không phải cứ mưa xong là có cầu vồng. Ta chỉ thấy được khi đứng quay lưng về phía mặt trời, còn trước mặt phải có màn mưa hoặc hơi nước. Góc giữa mắt người, giọt nước và mặt trời phải khoảng 42 độ. Vì vậy cầu vồng thường xuất hiện vào buổi sáng sớm hoặc chiều muộn, khi mặt trời không quá cao. Cầu vồng thực ra là một vòng tròn đầy đủ, nhưng đứng dưới mặt đất ta chỉ thấy nửa trên vì phần còn lại bị khuất. Nếu ngồi trên máy bay, ta có thể thấy cầu vồng hình tròn. Đôi khi còn có "cầu vồng đôi": vòng thứ hai mờ hơn, màu đảo ngược do ánh sáng phản xạ hai lần trong giọt nước. Mỗi người nhìn thấy một cầu vồng của riêng mình, vì mỗi người là đỉnh của một hình nón ánh sáng khác nhau Cầu vồng nhắc em rằng thiên nhiên luôn ẩn chứa những điều kỳ diệu được giải thích bằng khoa học. Hiểu được vì sao có cầu vồng không làm nó bớt đẹp, mà còn khiến ta trân trọng hơn khoảnh khắc ngắn ngủi đó sau cơn mưa.
câu1 Phương thức biểu đạt chính của văn bản là : thuyết minh
Câu2 trong văn bản 3 nhân vật chính trong bộ phim là:Rancho cùng hai người bạn thân Farhan và Raju
Câu 3
Bộ phim này "Ba chàng ngốc" đã đạt được những thành tích nổi bật là :Ba chàng ngốc đã được đông đảo khán giả khen ngợi và thành công rực rỡ về mặt thương mại tại thời điểm công chiếu. Đây là bộ phim điện ảnh có doanh thu cao nhất trong tuần mở màn tại Ấn Độ tính đến thời điểm đó và nắm giữ kỷ lục phim Bollywood sinh lời lớn nhất trong tuần ra mắt. Không chỉ là bộ phim bom tấn được đón nhận tại quê nhà, Ba chàng ngốc còn gặt hái nhiều thành tích khi công chiếu tại thị trường Đông Á, đặc biệt ở Nhật Bản và Trung Quốc. Phim đoạt Giải thưởng Lớn (Grand Prize) tại lễ trao giải Video Yasan Awards của Nhật, đồng thời còn giành đề cử cho Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất của giải Viện Hàn lâm Nhật Bản và Phim nước ngoài hay nhất tại Liên hoan phim quốc tế Bắc Kinh của Trung Quốc.
Việc tác giả giới thiệu thành tích rồi mới tóm tắt nội dung và phân tích ý nghĩa của bộ phim có tác dụng là: 1. Tạo uy tín và sự chú ý Những kỷ lục, doanh thu khủng chứng minh ngay đây là tác phẩm lớn, buộc người đọc phải nghiêm túc. Nó trả lời cho câu hỏi "Vì sao phải quan tâm đến phim này?". 2. Kích thích tò mò, định hướng đọcKhi biết phim dài gần 3 tiếng, không kỹ xảo mà vẫn phá đảo phòng vé, người đọc sẽ vào phần tóm tắt với mục đích "tìm nguyên nhân thành công". Cách đọc sẽ chủ động hơn. 3. Làm đòn bẩy cho phần ý nghĩa Thành tích chính là bằng chứng thực tế cho thông điệp của phim. Khi phân tích câu "hãy theo đuổi đam mê, thành công sẽ theo đuổi bạn", việc bộ phim thật sự thành công vang dội khiến bài học đó có sức thuyết phục gấp nhiều lần.
Câu4Mục đích của văn bản "Những điều thú vị về bộ phim "Ba chàng ngốc" sẽ làm bạn có cái nhìn khác về điện ảnh Ấn Độ" là : 1. Thay đổi định kiến về phim Ấn Độ Tiêu đề đã nói thẳng: "làm bạn có cái nhìn khác". Nhiều người Việt hay nghĩ phim Ấn Độ chỉ có múa hát, dài dòng, phi logic. Văn bản dùng 3 chàng ngốc làm dẫn chứng để phá bỏ định kiến đó, chứng minh điện ảnh Ấn Độ cũng có phim kịch bản chặt chẽ, thông điệp sâu sắc, thành công toàn cầu.
2. Giới thiệu và thu hút người xem đến với phim Bằng cách nêu ra "những điều thú vị" - thành tích phòng vé, kỷ lục, ảnh hưởng xã hội, hậu trường hay, tác giả đang "PR" cho bộ phim. Mục đích là khiến người chưa xem sẽ tò mò muốn xem, người xem rồi sẽ muốn xem lại với góc nhìn mới. 3. Dùng một bộ phim để nâng tầm cả nền điện ảnh Thay vì nói chung chung "phim Ấn Độ hay lắm", tác giả lấy 3 chàng ngốc làm trường hợp điển hình. Khi người đọc công nhận 3 chàng ngốc xuất sắc, họ sẽ dễ dàng mở lòng hơn với các phim Ấn Độ khác. Đây là cách "lấy điểm để diện
văn bản, em rút ra bài học trong cách ứng xử với bạn bè là:
Từ _Ba chàng ngốc_, em rút ra bài học trong cách ứng xử với bạn bè: Tôn trọng đam mê của nhau Như Rancho ủng hộ Farhan theo nhiếp ảnh, đừng ép bạn sống theo ý mình. Có mặt lúc bạn khó khănRaju được hai bạn cứu khi tuyệt vọng, tình bạn thật là không bỏ rơi nhau lúc hoạn nạn.Thẳng thắn nhưng chân thành Dám nói thật để bạn tốt lên, chứ không xu nịnh. Rancho luôn chỉ ra cái sai của hệ thống và của bạn mình Cùng nhau trưởng thành Bạn bè là để giúp nhau trở thành phiên bản tốt hơn, chứ không kéo nhau đi xuống
Đúng con c
Nước có nhiều tính chất quan trọng:
1. *Tính chất vật lý*:
- Không màu, không mùi, không vị.
- Có thể tồn tại ở ba trạng thái: rắn (băng), lỏng (nước), khí (hơi nước).
- Điểm sôi: 100°C, điểm đông: 0°C.
2. *Tính chất hóa học*:
- Là dung môi phổ biến, hòa tan nhiều chất.
- Có khả năng phản ứng với nhiều chất, như kim loại kiềm, kiềm thổ.
3. *Tính chất sinh học*:
- Thành phần chính của cơ thể sống, chiếm khoảng 70% khối lượng cơ thể người.
- Cần thiết cho quá trình trao đổi chất và duy trì sự sống.
Nước đóng vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực, từ sinh học đến công nghiệp và môi trường. Bạn muốn biết thêm về ứng dụng của nước không?
6 nha bạn
Xét tam giác \(A B C\) có hai đường trung tuyến \(B M\) và \(C N\) cắt nhau tại \(G\) (giả thiết) nên \(G\) là trọng tâm của \(\Delta A B C\).
Suy ra \(G M = \frac{G B}{2}\); \(G N = \frac{G C}{2}\) (tính chất trọng tâm của tam giác) (1)
Mà \(P\) là trung điểm của \(G B\) (giả thiết) nên \(G P = P B = \frac{G B}{2}\) (2)
\(Q\) là trung điểm của \(G C\) (giả thiết) nên \(G Q = Q C = \frac{G C}{2}\) (3)
Từ (1), (2) và (3) suy ra \(G M = G P\) vàvà \(G N = G Q\) (chứng minh trên)
Do đó tứ giác \(P Q M N\) có hai đường chéo \(M P\) và \(N Q\) cắt nhau tại trung điểm \(G\) của mỗi đường nên là hình bình hành.
Vì ABCD là hình bình hành nên AB = CD; AB // CD.
Mà hai điểm B, C lần lượt là trung điểm AE, DF.
Suy ra AE = DF; AB = BE = CD = CF.
Tứ giác AEFD có AE // DF (vì AB // CD); AE = DF (chứng minh trên).
Do đó tứ giác AEFD là hình bình hành.
Tứ giác ABFC có AB // CF (vì AB // CD); AB = CF (chứng minh trên).
Do đó tứ giác ABFC là hình bình hành.
b) Vì hình bình hành AEFD có hai đường chéo AF và DE nên chúng cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường, ta gọi giao điểm đó là O.
Hình bình hành AEFD có hai đường chéo AF và BC.
Mà O là trung điểm của AF.Suy ra O cũng là trung điểm của BC.
Vậy các trung điểm của ba đoạn thẳng AF, DE, BC trùng nhau.
Do \(A B C D\) là hình bình hành nên \(A D\) // \(B C\) và \(A D = B C\).
Do \(A D\) // \(B C\) nên \(\hat{A D B} \&\text{nbsp}; = \hat{C B D}\) (so le trong)
Xét \(\Delta A D H\) và \(\Delta C B K\) có:
\(\hat{A H D} \&\text{nbsp}; = \hat{C K B} = 9 0^{\circ}\);
\(A D = B C\) (chứng minh trên);
\(\hat{A D H} \&\text{nbsp}; = \hat{C B K}\) (do \(\hat{A D B} \&\text{nbsp}; = \hat{C B D}\)).
Do đó \(\Delta \&\text{nbsp}; A D H = \Delta \&\text{nbsp}; C B K\) (cạnh huyền – góc nhọn).
Suy ra \(A H = C K\) (hai cạnh tương ứng).
Ta có \(A H \bot \&\text{nbsp}; D B\) và \(C K \bot \&\text{nbsp}; D B\) nên \(A H\) // \(C K\).là hình bình hành (câu a) nên hai đường chéo \(A C\) và \(H K\) cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường.
Mà \(I\) là trung điểm của \(H K\) (giả thiết) nên \(I\) là trung điểm của \(A C\).
Do \(A B C D\) là hình bình hành nên hai đường chéo \(A C\) và \(B D\) cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường.
Mà \(I\) là trung điểm của \(A C\) nên \(I\) là trung điểm của \(B D\), hay \(I B = I D\).