Vi Thị Thanh Tâm

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Vi Thị Thanh Tâm
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Bài văn: Kể lại chuyến tham quan khu di tích lịch sử Thành Cổ Loa

 

    Mỗi dịp Tết đến, gia đình em thường dành một ngày để đi thăm thú, vừa du xuân vừa tìm hiểu về những địa danh lịch sử của đất nước. Tết năm ngoái, chúng em đã có chuyến tham quan Thành Cổ Loa – một di tích lịch sử nổi tiếng ở ngoại thành Hà Nội. Mục đích của chuyến đi không chỉ là để nghỉ ngơi, vui chơi, mà quan trọng hơn là giúp chúng em hiểu sâu sắc hơn về quá khứ dân tộc, kết nối với truyền thống, văn hóa, nâng cao niềm tự hào, và coi đây như một phương tiện trực quan sinh động để giáo dục thế hệ trẻ về lịch sử cũng như vai trò của cha ông đi trước.

     Buổi sáng hôm ấy, khi sương còn giăng nhẹ trên những cánh đồng, cả gia đình em lên đường. Xe chạy qua những con đường ngoại ô rợp bóng tre xanh, tiếng cười nói ríu rít vang trong xe tạo nên một không khí náo nức, háo hức. Em bồi hồi chờ đợi giây phút được đặt chân đến mảnh đất đã gắn liền với truyền thuyết An Dương Vương và câu chuyện bi thương về Mị Châu – Trọng Thủy.

     Cổ Loa hiện ra trước mắt em với vẻ cổ kính và uy nghi. Những vòng thành đất cao lớn, uốn lượn nhiều lớp, khiến em ngỡ như một con rồng khổng lồ đang trườn mình bảo vệ kinh đô xưa. Đường đi quanh co, lối vào rợp bóng cây, không gian vừa hùng vĩ vừa tĩnh lặng, như chứa đựng cả nghìn năm lịch sử. Em cảm thấy mình thật nhỏ bé, nhưng đồng thời cũng vô cùng tự hào khi được tận mắt chiêm ngưỡng một công trình vĩ đại của dân tộc.

     Đến đền thờ An Dương Vương, em thấy khói hương nghi ngút, không khí trang nghiêm. Tượng vua ngồi uy nghi, ánh mắt hiền từ nhưng xa xăm, như đang nhìn về một thời đã qua. Người hướng dẫn kể cho chúng em nghe về việc xây thành, chế nỏ thần, rồi những biến cố đau thương khi nước mất nhà tan. Nghe đến đoạn An Dương Vương phải ôm nỗi hận, rút gươm xuống biển, em bỗng rùng mình và thấy tim mình quặn lại. Qua đó, em càng thấm thía bài học lịch sử: phải luôn cảnh giác, phải biết giữ gìn và bảo vệ non sông bằng cả trí tuệ lẫn lòng trung thành.

     Sau khi dâng nén hương thành kính, gia đình em dạo quanh các vòng thành. Trên cao nhìn xuống, làng quê yên bình trải dài với những cánh đồng lúa xanh mơn mởn, xa xa là những mái nhà nhỏ bé, khói lam chiều bảng lảng. Cảnh vật vừa nên thơ, vừa tràn đầy sức sống, khiến em nghĩ: nơi từng diễn ra bao cuộc chiến hào hùng nay đã trở thành chốn yên bình cho bao thế hệ. Đó chính là minh chứng cho sự bất khuất, trường tồn của dân tộc Việt.

     Chuyến đi khép lại khi ánh chiều buông nhẹ trên lũy tre. Trên đường về, em vẫn còn lưu luyến, trong lòng ngổn ngang bao cảm xúc. Em vui vì được cùng gia đình du xuân, nhưng cũng bồi hồi, xúc động trước những giá trị lịch sử thiêng liêng mà Thành Cổ Loa lưu giữ. Chuyến tham quan ấy như một sợi dây vô hình kết nối em với cha ông, khơi dậy trong em niềm tự hào dân tộc và trách nhiệm gìn giữ di sản quý báu cho mai sau.

     Thành Cổ Loa không chỉ là một khu di tích cổ kính, mà còn là biểu tượng của trí tuệ, của lòng yêu nước và cả những bài học sâu sắc để lại cho hậu thế. Mỗi lần nhớ về chuyến đi, em lại tự hứa sẽ học tập, rèn luyện tốt hơn để mai này góp phần bảo vệ, xây dựng đất nước – để những thành lũy, những giá trị lịch sử và văn hóa của dân tộc luôn trường tồn cùng thời gian.

Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú ĐL.
Câu 2.
Những hình ảnh thiên nhiên được nhắc đến trong bốn dòng thơ đầu: hoè lục đùn đùn; thạch lựu phun thức đỏ; hồng liên trì tiễn mùi hương.
Câu 3.
– Biện pháp đảo ngữ: từ “lao xao”, “dắng dỏi” được đảo lên đầu các dòng thơ “Lao xao chợ cá làng ngư phủ,/ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.”.

– Tác dụng:

+ Tạo nhạc điệu, gợi sự lên sự sôi nổi của đời sống.

+ Nhấn mạnh âm thanh sống động trong cuộc sống của con người.

+ Làm nổi bật bức tranh sinh động của ngày hè.
Câu 4.
Trong hai dòng thơ cuối, tác giả đã bộc lộ tình cảm, cảm xúc:
– Niềm mong ước được hòa bình để nhân dân sống yên vui, hạnh phúc và ấm no.
– Tình yêu thương nhân dân: ước muốn “dân giàu đủ khắp đòi phương” cho thấy tác giả không chỉ lo cho bản thân mình mà còn nghĩ đến đời sống nhân dân.
– Gửi gắm khát vọng nhân văn “lấy dân làm gốc”, mong mỏi hạnh phúc chung cho xã hội.
Câu 5.
– Chủ đề của bài thơ: Ca ngợi vẻ đẹp rực rỡ của thiên nhiên ngày hè và thể hiện tấm lòng yêu dân, lo cho dân của Nguyễn Trãi.
– Căn cứ để xác định chủ đề:
+ Nhan đề của văn bản: “Cảnh ngày hè”.
+ Các từ ngữ miêu tả khung cảnh thiên nhiên và tình cảm, cảm xúc của tác giả.
Câu 6.
Mỗi ngày trôi qua, ta cần học cách trân trọng những điều giản dị quanh mình như tiếng chim hót, làn gió mát hay ánh nắng ban mai. Chính từ những điều nhỏ bé ấy, niềm vui và hạnh phúc được nuôi dưỡng trong tâm hồn. Dù trong học tập hay lao động, ta hãy luôn giữ tinh thân lạc quan, để cuộc sống trở nên ý nghĩa hơn. Bên cạnh đó, sống chan hòa với thiên nhiên giúp ta cảm nhận sâu sắc hơn vẻ đẹp của đất trời. Mỗi hành động nhỏ như trồng cây, tiết kiệm nước hay giữ gìn không gian xanh đều góp phần làm đẹp môi trường. Khi biết yêu thiên nhiên và cuộc sống quanh mình, ta sẽ thấy lòng bình yên và tràn đầy năng lượng sống.