Nguyễn Thị Kiều Trinh
Giới thiệu về bản thân
câu 1: thể thơ lục bát câu 2:lời thoại:lời dẫn trực tiếp câu 3:-từ láy +sè sè +dầu dầu +xôn xao +mong manh câu 4: -trước hoàn cảnh của đạm tiên,thúy kiều bày tỏ tâm trạng xót thương,cảm động =>qua đó thúy kiều là người con giá có tấm lòng nhân hậu,vị tha câu 5: -từ văn bản trên e rút ra bài học : +cần phải sống nhân ái,sẻ chia +biết đòng cảm với những mảnh đời bất hạn +trân trọng cuộc sống của chính mình
câu 1: thể thơ lục bát câu 2:lời thoại:lời dẫn trực tiếp câu 3:-từ láy +sè sè +dầu dầu +xôn xao +mong manh câu 4: -trước hoàn cảnh của đạm tiên,thúy kiều bày tỏ tâm trạng xót thương,cảm động =>qua đó thúy kiều là người con giá có tấm lòng nhân hậu,vị tha câu 5: -từ văn bản trên e rút ra bài học : +cần phải sống nhân ái,sẻ chia +biết đòng cảm với những mảnh đời bất hạn +trân trọng cuộc sống của chính mình
câu 1: thể thơ lục bát câu 2:lời thoại:lời dẫn trực tiếp câu 3:-từ láy +sè sè +dầu dầu +xôn xao +mong manh câu 4: -trước hoàn cảnh của đạm tiên,thúy kiều bày tỏ tâm trạng xót thương,cảm động =>qua đó thúy kiều là người con giá có tấm lòng nhân hậu,vị tha câu 5: -từ văn bản trên e rút ra bài học : +cần phải sống nhân ái,sẻ chia +biết đòng cảm với những mảnh đời bất hạn +trân trọng cuộc sống của chính mình
câu 1: thể thơ lục bát câu 2:lời thoại:lời dẫn trực tiếp câu 3:-từ láy +sè sè +dầu dầu +xôn xao +mong manh câu 4: -trước hoàn cảnh của đạm tiên,thúy kiều bày tỏ tâm trạng xót thương,cảm động =>qua đó thúy kiều là người con giá có tấm lòng nhân hậu,vị tha câu 5: -từ văn bản trên e rút ra bài học : +cần phải sống nhân ái,sẻ chia +biết đòng cảm với những mảnh đời bất hạn +trân trọng cuộc sống của chính mình
câu 1: thể thơ lục bát câu 2:lời thoại:lời dẫn trực tiếp câu 3:-từ láy +sè sè +dầu dầu +xôn xao +mong manh câu 4: -trước hoàn cảnh của đạm tiên,thúy kiều bày tỏ tâm trạng xót thương,cảm động =>qua đó thúy kiều là người con giá có tấm lòng nhân hậu,vị tha câu 5: -từ văn bản trên e rút ra bài học : +cần phải sống nhân ái,sẻ chia +biết đòng cảm với những mảnh đời bất hạn +trân trọng cuộc sống của chính mình
câu 1: thể thơ lục bát câu 2:lời thoại:lời dẫn trực tiếp câu 3:-từ láy +sè sè +dầu dầu +xôn xao +mong manh câu 4: -trước hoàn cảnh của đạm tiên,thúy kiều bày tỏ tâm trạng xót thương,cảm động =>qua đó thúy kiều là người con giá có tấm lòng nhân hậu,vị tha câu 5: -từ văn bản trên e rút ra bài học : +cần phải sống nhân ái,sẻ chia +biết đòng cảm với những mảnh đời bất hạn +trân trọng cuộc sống của chính mình
câu 1: thể thơ lục bát câu 2:lời thoại:lời dẫn trực tiếp câu 3:-từ láy +sè sè +dầu dầu +xôn xao +mong manh câu 4: -trước hoàn cảnh của đạm tiên,thúy kiều bày tỏ tâm trạng xót thương,cảm động =>qua đó thúy kiều là người con giá có tấm lòng nhân hậu,vị tha câu 5: -từ văn bản trên e rút ra bài học : +cần phải sống nhân ái,sẻ chia +biết đòng cảm với những mảnh đời bất hạn +trân trọng cuộc sống của chính mình
câu 1: thể thơ lục bát câu 2:lời thoại:lời dẫn trực tiếp câu 3:-từ láy +sè sè +dầu dầu +xôn xao +mong manh câu 4: -trước hoàn cảnh của đạm tiên,thúy kiều bày tỏ tâm trạng xót thương,cảm động =>qua đó thúy kiều là người con giá có tấm lòng nhân hậu,vị tha câu 5: -từ văn bản trên e rút ra bài học : +cần phải sống nhân ái,sẻ chia +biết đòng cảm với những mảnh đời bất hạn +trân trọng cuộc sống của chính mình
- Văn bản được viết theo thể song thất lục bát.
- "Trải mấy xuân tin đi tin lại, Tới xuân này tin hãy vắng không" là những dòng thơ thể hiện sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng đã kéo dài và không có kết quả.
- Hành động: Người chinh phụ làm ngẩn ngơ, bơ phờ tóc mai, thân thể gầy mòn (xiêm thắt), dạo hiên vắng thầm gieo từng bước, ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
- Nhận xét: Những hành động này cho thấy nỗi nhớ chồng đã chi phối hoàn toàn tâm trạng và cuộc sống của người chinh phụ, khiến nàng sống trong cô đơn, mệt mỏi và bi thương. Đây là những biểu hiện sinh động cho tài năng diễn tả nội tâm nhân vật của tác giả.
- Biện pháp tu từ: Nhân hóa
- Ví dụ: "Ngoài rèm, thước chẳng mách tin, Trong rèm dường đã có đèn biết chăng. Đèn có biết dường bằng chẳng biết, Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi."
- Tác dụng: Biện pháp nhân hóa "thước" và "đèn" làm cho các đồ vật vô tri trở nên có tâm hồn, có khả năng thấu hiểu và chia sẻ nỗi lòng của người chinh phụ. Điều này làm nổi bật sự cô đơn, hiu quạnh của nàng, đồng thời nhấn mạnh tình cảm thầm kín chỉ có bản thân nàng mới biết và cảm nhận được.
- Tâm trạng: Người chinh phụ thể hiện rõ tâm trạng cô đơn, nhớ nhung da diết, u sầu, bi thương và sự thất vọng, trông ngóng mỏi mòn.
- Suy nghĩ về cuộc sống hòa bình: Qua tâm trạng của người chinh phụ, ta nhận thức rõ giá trị của cuộc sống hòa bình. Hòa bình không chỉ là sự vắng bóng chiến tranh mà còn là sự đoàn tụ, sum họp, là cuộc sống đủ đầy, hạnh phúc của con người. Sự chia ly do chiến tranh gây ra là nỗi đau khổ, mất mát lớn lao, làm tan nát bao gia đình. Vì thế, chúng ta cần trân trọng, bảo vệ hòa bình và hiểu được những mất mát mà chiến tranh đã gây ra.
Câu 1:
Nhân vật người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm là hình ảnh tiêu biểu cho nỗi đau của người vợ có chồng ra trận trong thời loạn lạc. Qua từng câu thơ, nỗi cô đơn, buồn tủi và khao khát hạnh phúc lứa đôi hiện lên một cách sâu sắc. Chồng ra đi, người chinh phụ sống trong cảnh “phòng không”, lẻ loi, nhớ nhung da diết. Nàng không chỉ đau vì phải xa cách người thương mà còn vì nỗi lo lắng, thấp thỏm cho sự an nguy của chồng nơi chiến trường. Những hành động như “gảy đàn”, “thắp đèn”, “trông cửa” chỉ càng làm nổi bật nỗi nhớ và sự trống trải trong tâm hồn. Tâm trạng của nàng là sự giằng xé giữa bổn phận với đất nước và khát vọng hạnh phúc cá nhân. Thông qua hình ảnh người chinh phụ, tác giả không chỉ bày tỏ nỗi thương cảm với số phận người phụ nữ trong chiến tranh mà còn ngầm lên án những cuộc chiến phi nghĩa, đẩy con người vào cảnh chia lìa, đau khổ. Nhân vật người chinh phụ vì vậy trở thành biểu tượng cho nỗi đau thầm lặng và phẩm chất thủy chung của người phụ nữ xưa.
Câu 2:
Khi đọc Chinh phụ ngâm, ta không chỉ cảm nhận được nỗi cô đơn của người vợ có chồng ra trận mà còn thấy rõ những mất mát, đau thương mà chiến tranh để lại cho con người. Hình ảnh người chinh phụ ngày ngày ngóng trông chồng giữa chốn khuê phòng lạnh lẽo là minh chứng rõ nét cho bi kịch chia lìa mà chiến tranh gây nên. Không chỉ có sự xa cách, chiến tranh còn gieo rắc cái chết, tàn phá hạnh phúc và để lại những vết thương không thể xóa nhòa trong lòng người.
Chiến tranh là kẻ thù lớn nhất của hòa bình, là nguyên nhân sâu xa của đau thương và chia cắt. Bao nhiêu người con đã ngã xuống nơi chiến trường, bao nhiêu mái ấm tan vỡ, bao nhiêu bà mẹ, người vợ, đứa trẻ sống trong nước mắt và hy vọng mỏi mòn. Không chỉ trong văn chương mà cả trong lịch sử dân tộc và thế giới, chiến tranh luôn để lại những hậu quả nặng nề về thể xác lẫn tinh thần. Nó không chỉ tàn phá làng mạc, thành phố mà còn cướp đi những giá trị nhân văn cao đẹp của con người: tình yêu, lòng nhân ái, hạnh phúc và sự bình yên.
Ngày hôm nay, chúng ta may mắn được sống trong hòa bình – thành quả của biết bao máu xương, hy sinh của cha ông. Vì vậy, thế hệ trẻ càng cần phải ý thức sâu sắc về giá trị của cuộc sống hòa bình và trách nhiệm giữ gìn nó. Trân trọng hòa bình không chỉ là biết ơn quá khứ mà còn là hành động thiết thực trong hiện tại: sống nhân ái, học tập, lao động, cống hiến để xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ và không còn chỗ cho bạo lực hay hận thù. Mỗi người trẻ cần trở thành một "chiến sĩ" gìn giữ hòa bình – bằng tri thức, bằng tình yêu thương, bằng sự tỉnh táo trước cái xấu, cái ác, và bằng tiếng nói phản đối mọi hành vi chia rẽ, kỳ thị hay kích động chiến tranh.
Chiến tranh là bài học đau đớn của nhân loại, còn hòa bình là khát vọng ngàn đời của con người. Bởi thế, chỉ khi biết trân trọng sự yên bình đang có, thế hệ trẻ hôm nay mới thực sự xứng đáng với sự hy sinh của cha ông và góp phần gìn giữ một tương lai không còn bóng dáng chiến tranh.