Hoàng Quốc Nam
Giới thiệu về bản thân
Câu 1: Luận đề của văn bản: về chi tiết cái bóng trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương.
Câu 2:
Theo tác giả, tình huống truyện độc đáo trong chuyện là tình huống: sau khi đi lính về người chồng om ấp đứa con lại thấy nó bảo: “Ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia, chỉ nín thin thít” liền nổi cơn ghen không nghe ai giải thích.
Câu 3:
Tác giả nhắc lại tình huống chuyện ở phần mở đầu nhằm mục đích giới thiệu chi tiết tác giả đang bàn luận là "cái bóng" - nguyên nhân của tình huống chuyện được nêu ở phần mở đầu.
Câu 4:
_ Chi tiết chủ quan: Tuy nhiên, để tình huống ấy diễn ra một cách tự nhiên, hợp lí, người kể chuyện đã khéo léo cài đặt sẵn một chi tiết hết sức tự nhiên, một chi tiết lấy ra từ chính đời sống thường ngày.
_ Chi tiết khách quan: Đó là chi tiết lấy từ “trò chơi soi bóng trên tường”
-> Ý kiến chủ quan trong văn bản được tác giả nêu ra để trình bày quan điểm, suy nghĩ của bản thân về chi tiết "cái bóng" rồi nêu lên ý kiến khách quan trong "Chuyện người con gái Nam Xương" để làm rõ ý kiến của mình và làm tăng tính thuyết phục cho ú kiến của bản thân.
Câu 5:
Người viết cho rằng cái bóng là 1 chi tiết nghệ thuật đặc sắc vì: nó là "một chi tiết hết sức tự nhiên, một chi tiết lấy ra từ chính đời sống thường ngày" nên Vũ Nương " vì muốn con luôn cảm thấy người cha vẫn có mặt ở nhà, và để tự an ủi mình, thấy mình với chồng vẫn luôn bên nhau như hình với bóng, nên người vợ đã chỉ vào cái bóng của mình mà nói với con rằng đó là cha của Đản - tên của đứa con" nhưng đó là nguồn cơn cho sự tan nát hạnh phúc trong đời Vũ Nương.
Câu 1 :
Nhân vật Đạm Tiên trong Truyện Kiều có số phận đáng thương, cũng là kiếp “hồng nhan bạc mệnh” mà Nguyễn Du vô cùng xót thương. Lúc còn trẻ, nàng nổi danh “tài sắc”, tiếng vang khắp thiên hạ. Tuy nhiên, thân phận ca nhi trong xã hội xưa vốn thấp hèn, bị người đời coi thường, là món hàng mua vui cho nam nhân. Cũng có khách làng chơi mến vì tài sắc, tìm đến với mong muốn được yêu thương nàng. Nhưng thật đáng tiếc, mệnh nàng ngắn ngủi, chưa kịp đón nhận hạnh phúc đã đoản mệnh, khiến cho người khách khóc than, tiếc nuối vì mối tình “vô duyên”. Người tri kỉ chỉ có thể an táng nàng chu đáo nhất. Nhưng càng đáng thương hơn khi phần mộ của nàng kể từ đó về sau không ai trông coi, chăm sóc, thành ngôi mộ vô chủ. Linh hồn nàng hẳn là cô đơn, đau đớn lắm! Đại thi hào Nguyễn Du xót thương cho thân phận người mệnh bạc nên đã dành cho nàng những hình ảnh thơ trang trọng nhất: hồng nhan, gãy cành thiên hương, trâm gãy, bình rơi; nếp tử, xe châu….. Đó là tấm lòng nhân đạo cao cả của Nguyễn Du, không chỉ thương cho người sống mà còn thương cho cả những linh hồn đã khuất.
Câu 2:
Trong thời đại công nghệ phát triển như hiện nay, mạng xã hội đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống, đặc biệt là với thanh thiếu niên. Đây là nơi để các bạn trẻ giao lưu, học hỏi và giải trí. Tuy nhiên, việc lạm dụng mạng xã hội đang ngày càng trở nên phổ biến và để lại nhiều hậu quả tiêu cực. Trước thực trạng đáng lo ngại này, chúng ta cần có những giải pháp phù hợp để khắc phục, giúp giới trẻ sử dụng mạng xã hội một cách thông minh và lành mạnh.
Lạm dụng mạng xã hội là khi thanh thiếu niên sử dụng quá mức, mất kiểm soát về thời gian và mục đích. Nhiều bạn trẻ dành phần lớn thời gian trong ngày để lướt Facebook, xem TikTok, nhắn tin qua Messenger… dẫn đến bỏ bê việc học, giảm tương tác với gia đình và bạn bè ngoài đời thật. Có bạn còn thức khuya, dậy muộn, sa sút sức khỏe và tinh thần chỉ vì không rời khỏi màn hình điện thoại. Một số bạn khác lại bị ảnh hưởng tâm lý khi so sánh bản thân với người khác, hoặc bị cuốn vào các nội dung độc hại, tiêu cực trên mạng xã hội.
Thực tế cho thấy, việc lạm dụng mạng xã hội gây ra nhiều tác động nghiêm trọng. Về sức khỏe, nó làm giảm thị lực, rối loạn giấc ngủ, ảnh hưởng đến thể chất. Về tinh thần, người dùng dễ rơi vào trạng thái mệt mỏi, mất tập trung, tự ti, thậm chí trầm cảm. Đặc biệt, việc dành quá nhiều thời gian cho thế giới ảo khiến các bạn xa rời cuộc sống thật, giảm kỹ năng giao tiếp và mất đi sự kết nối với gia đình, bạn bè. Tình trạng này nếu kéo dài sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phát triển toàn diện của thanh thiếu niên.
Nguyên nhân của tình trạng này đến từ cả bản thân người dùng và môi trường xung quanh. Nhiều bạn chưa ý thức được những tác hại của việc lạm dụng mạng xã hội, sử dụng chỉ để giải trí mà không có mục tiêu cụ thể. Gia đình và nhà trường đôi khi còn lơ là, chưa quan tâm đúng mức, chưa có định hướng rõ ràng cho con em mình. Bên cạnh đó, mạng xã hội với thiết kế hấp dẫn, liên tục cập nhật nội dung mới đã khiến người dùng bị cuốn vào và khó dứt ra.
Để khắc phục tình trạng này, cần có sự phối hợp giữa cá nhân, gia đình, nhà trường và xã hội. Trước hết, thanh thiếu niên cần tự điều chỉnh thời gian sử dụng mạng xã hội, đặt ra giới hạn rõ ràng mỗi ngày, đồng thời tích cực tham gia các hoạt động thực tế như thể thao, đọc sách, giao lưu bạn bè. Gia đình cần quan tâm, chia sẻ, đồng hành cùng con, tạo điều kiện cho con được vui chơi và phát triển trong môi trường lành mạnh. Nhà trường nên tăng cường giáo dục kỹ năng sống, tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề về mạng xã hội để học sinh hiểu và biết cách bảo vệ bản thân. Cuối cùng, các cơ quan chức năng cũng cần kiểm soát nội dung xấu độc trên mạng, phát triển các nền tảng giáo dục số bổ ích và an toàn hơn cho giới trẻ.
Tóm lại, mạng xã hội là công cụ hữu ích nếu được sử dụng đúng cách, nhưng cũng có thể trở thành con dao hai lưỡi nếu chúng ta lạm dụng và lệ thuộc vào nó. Thanh thiếu niên hôm nay chính là chủ nhân tương lai của đất nước. Vì vậy, việc sử dụng mạng xã hội một cách thông minh, có kiểm soát không chỉ giúp các bạn phát triển toàn diện mà còn xây dựng một thế hệ trẻ bản lĩnh, sáng tạo và trách nhiệm.
Câu 1: thể thơ lục bát
Câu 4: Trước hoàn cảnh của Đạm Tiên, Thúy Kiều đã có tâm trạng và cảm xúc:
Xót thương cho số phận hẩm hiu, bất hạnh của Đạm Tiên, thể hiện qua câu: "Đau đớn thay, phận đàn bà! Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung." Đồng cảm sâu sắc với kiếp hồng nhan bạc mệnh, nhận ra sự mong manh của thân phận phụ nữ trong xã hội phong kiến.
Điều này cho thấy Thúy Kiều là một người con gái giàu lòng nhân ái, nhạy cảm và thấu hiểu nỗi đau của người khác. Tâm hồn nàng tinh tế, biết trân trọng tài sắc, nhưng cũng đầy trăn trở về kiếp người. Đây chính là tiền đề cho sự hi sinh và bi kịch trong cuộc đời nàng sau này.
Câu 3: Hệ thống từ láy trong văn bản như: sè sè, dàu dàu, lạnh ngắt, lờ mờ, đầm đầm được tác giả sử dụng một cách tinh tế, mang các đặc điểm:
Gợi tả cụ thể và sinh động không gian, thời gian, trạng thái cảm xúc. Tăng cường sắc thái biểu cảm, nhấn mạnh sự nhỏ bé, mong manh và bi thương. Tạo nhịp điệu trầm buồn, phù hợp với chủ đề bi kịch của nhân vật Đạm Tiên.
Câu 2: kiểu lời thoại : độc thoại
Câu 5:
Từ nội dung bài đọc hiểu em rút ra bài học cho bản thân là
- Trân trọng phụ nữ , yêu thương họ .
- Không được làm phụ nữ mình thương buồn
- Vì :
+ Phụ nữ là để yêu thương
+ Họ luôn hết mình chăm sóc hạnh phúc gia đình
+ Họ luôn là người thiệt thòi cho nên chúng ta phải trân trọng yêu quý để họ cảm thấy an tâm
Câu 1 :
Lý Hữu Chi là nhân vật trung tâm trong truyện, được xây dựng như một biểu tượng của sự tha hóa quyền lực và lòng tham vô độ. Từ một người làm ruộng, nhờ tài năng và sức khỏe, ông được tiến cử làm tướng quân. Tuy nhiên, khi có quyền lực, Hữu Chi trở nên độc ác, tham lam, coi thường đạo lý, đàn áp dân lành, sống xa hoa, hưởng lạc. Dù được cảnh báo bởi thầy tướng số, ông vẫn cố chấp, không chịu sửa đổi. Sự tàn bạo của ông khiến mẹ ông phải đau lòng và nguyền rủa. Sau khi chết, linh hồn ông bị trừng phạt khủng khiếp ở Minh Ti, thể hiện rõ quan niệm nhân quả trong văn học dân gian. Nhân vật Hữu Chi là lời cảnh tỉnh sâu sắc về hậu quả của việc sống trái đạo lý, tham lam và độc ác, đồng thời thể hiện sự nghiêm minh của đạo trời.
Câu2 :
Lòng tham là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự suy đồi đạo đức và nhiều hệ lụy trong xã hội. Trong “Chuyện Lý tướng quân”, nhân vật Hữu Chi vì tham lam vô độ, không biết điểm dừng mà gây ra bao tội ác, cuối cùng phải chịu hình phạt đau đớn nơi âm phủ. Câu chuyện là lời cảnh tỉnh về tác hại khôn lường của lòng tham.
Trong đời sống hiện đại, lòng tham thể hiện qua nhiều hình thức: tham tiền bạc, địa vị, danh vọng, hay thậm chí là điểm số trong học tập. Người tham lam vật chất có thể vơ vét, lừa đảo, gây tổn hại cho người khác. Học sinh vì muốn đạt điểm cao mà gian lận trong thi cử, làm mất đi giá trị thực của tri thức. Lòng tham khiến con người trở nên ích kỷ, vô cảm, đánh mất nhân cách và lòng nhân ái.
Để hạn chế và loại bỏ lòng tham, cần giáo dục đạo đức từ sớm, đề cao lối sống giản dị, biết đủ và biết chia sẻ. Gia đình, nhà trường và xã hội cần phối hợp xây dựng môi trường sống lành mạnh, khuyến khích sự trung thực, nhân hậu. Mỗi cá nhân cần tự rèn luyện bản thân, biết điểm dừng, sống có trách nhiệm và hướng thiện.
Lòng tham nếu không được kiểm soát sẽ trở thành ngọn lửa thiêu rụi nhân cách. Hãy sống biết đủ, biết yêu thương để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn
Câu 1 : truyện truyền kì
Câu 2 : ngôi thứ 3
Câu 3 : +Lý Hữu Chi
+ Tham lam, dâm dục, cậy quyền lực , bắt nạt người vô tội
Câu 4 : đêm hôm đó, Thúc Khoản được đón xuống dưới Minh Ti, chứng kiến cảnh xét tội của các linh hồn. Thúc Khoản được tận mắt chứng kiến các phán quan tâu bày tội trạng, công lao của những người ấy. Người làm việc ác bị định tội, người hành thiện tích đức thì được làm tiên hoặc được cho chuyển kiếp vào nhà có phúc, hưởng lộc ba đời,… Đến lượt Hữu Chi, vì những tội ác chồng chất mà hắn đã từng gây ra, hắn đã bị trừng trị bằng những hình phạt vô cùng đau khổ: Lấy nước sôi rửa ruột để trị cái tội ghẹo vợ người, lấy truỳ thủ moi ruột để lòng tham không nổi lên nữa, bị đày vào ngục Cửu U lấy dây da chét lấy đầu, lấy dùi lửa đóng vào chân, bị chim cắt mổ vào ngực, bị rắn độc cắn vào bụng, trầm luân kiếp kiếp. Thúc Khoản chứng kiến hết thảy, giật mình tỉnh dậy ở cõi thực.
Câu 5 : tham lam , độc ác sẽ bị luật nhân quả
Bài học là :
+ Không nên bắt nạt mọi người
+ Luôn giúp đỡ khi mọi người gặp khó khăn
Truyện "Từ Thức Lấy Vợ Tiên" truyền tải thông điệp sâu sắc về sự khác biệt giữa thế giới thực và thế giới mơ mộng. Vì khi Từ Thức chọn sống cùng nàng tiên trong một thế giới huyền ảo, anh đã quên mất thực tại và những giá trị thiết thực trong cuộc sống của mình. Dù cuộc sống lãng mạn của thế giới tiên có vẻ hấp dẫn, nhưng nó không thể thay thế cho những giá trị và trách nhiệm thực tế. Khi trở về với thế giới thực, Từ Thức nhận ra rằng mình đã bỏ lỡ nhiều điều quý giá, chứng tỏ rằng thực tại có những giá trị không thể thay thế. Câu chuyện nhấn mạnh rằng chúng ta nên trân trọng và chấp nhận thực tại, không để những mộng mơ làm mờ nhạt giá trị của cuộc sống thực.
Văn học thế kỉ XVIII là văn học của những tiếng nói cảm thương, cảm thông cho số phận bất hạnh của người phụ nữ. Ngoài kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du ta cũng không thể không nhắc đến tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn. Tác phẩm là tiếng lòng thiết tha, thổn thức của người phụ nữ khi có chồng phải ra chiến trận. Tâm trạng của nhân vật được thể hiện rõ nhất qua đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ. Theo các cứ liệu lịch sử, vào đầu đời vua Lê Hiển Tông, có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra quanh kinh thành Thăng Long. Triều đình phải cất quân ra trận, nhiều trai tráng phải từ giã gia đình, người thân ra trận. Có bao nhiêu những chàng trai lên đường thì có bấy nhiêu người phụ nữ, người vợ ở nhà trong nhớ thương, buồn tủi. Tác giả Đặng Trần Côn đồng cảm với nỗi niềm của người phụ nữ để nói lên nỗi lòng của họ. Trích đoạn được trích từ câu 193 đến câu 216 diễn tả tâm trạng của người chinh phụ khi phải xa chồng, thế giới tâm trạng đó được thể hiện qua rất nhiều cung bậc cảm xúc, tình cảm khác nhau. Trước hết tâm trạng bồn chồn lo lắng, nhớ thương của nhân vật được thể hiện trong các hành động lặp đi lặp lại nhiều lần: Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước. Bước chân chậm chạp, nặng trĩu tâm trạng, trong đó chất chứa biết bao nỗi niềm chán ngán của người chinh phụ. Bước chân này khác với bước chân của nàng Kiều khi tìm đến tình yêu: Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình. Người chinh phụ hết đứng lên lại ngồi xuống, tâm trạng nàng thấp thỏm, bất an bởi lo lắng cho sinh mệnh của chồng ở nơi chiến trường đầy nguy hiểm. Tâm trạng bất an ấy còn thể hiện qua hành động: Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen, nàng hết buông rèm xuống nàng lại cuốn rèm lên, dường như đó là hành động vô thức, nàng làm không chủ động làm mà trong vô thức thực hiện hành động để vơi bớt nỗi âu lo. Hết ngắm ra ngoài bức rèm để mong chờ tin tức tốt lành lại thẫn thờ quay vào đối diện với ngọn đèn đơn độc. Trong nỗi bồn chồn ấy còn là cả nỗi nhớ, thao thức, mong ngóng chồng quay trở về. Trong văn học, ngọn đèn thường được sử dụng để nói về nỗi nhớ mong, thao thức, ta đã biết đến qua bài ca dao: Đèn thương nhớ ai/ Mà đèn không tắt. Hay trong Chuyện người con gái Nam Xương, người vợ nhớ chồng nên đêm đêm chỉ bóng mình trên tường nói với con đó là bố. Hành động đó cũng thể hiện nỗi nhớ thương. Đây là hình ảnh xuất hiện nhiều trong văn học, và trong tác phẩm người chinh phụ cũng lấy ngọn đèn để thể hiện nỗi nhớ thương. Trong căn phòng trống vắng, quạnh hiu, chỉ có cây đèn là người bạn để chia sẻ mỗi nỗi lòng với người chinh phụ. Vì vô tri vô giác nên chinh phụ rất đau khổ nhận ra rằng “Đèn có biết dường bằng chẳng biết”. Nàng càng thấm thía hơn nỗi cô đơn cùng cực của chính mình. Để nhấn mạnh hơn nữa vào tình cảnh tội nghiệp của mình, hình ảnh Hoa đèn kia với bóng người khá thương, hoa đèn là tàn kết lại đầu sợi bấc đèn cháy đỏ như hoa đèn, là dấu hiệu khi dầu hao, bấc hỏng. Chứng tỏ người chinh phụ đã thao thức rất nhiều đêm, triền miên, khắc khoải, mong nhớ về chồng. Không gian bên ngoài làm cho nỗi cô đơn của người chinh phụ được khắc họa rõ nét hơn, tiếng gà eo óc cho thấy âm thanh thê lương, khắc khoải. Kết hợp với từ láy phất phơ cho thấy nhịp điệu buồn tẻ, chậm rãi, cho thấy tâm trạng ngao ngán của người chinh phụ. Hai hình ảnh tương hỗ để diễn tả sự thao thức triền miên, khắc khoải của chinh phụ trong cô đơn, lê loi. Từ đó người chinh phụ cảm nhận thấm thía nỗi cô đơn hơn bao giờ hết: Khắc giờ đằng đẵng như niên/ Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa, thời gian trôi qua rất nặng nề, vô vị. Cách đo đếm thời gian trong tâm trạng buồn chán cũng được Nguyễn Du nói đến: Sầu đong càng lắc càng đầy/ Ba thu dọn lại một ngày dài ghê. Mối sầu trải dài mênh mông đến không cùng. Dùng biện pháp so sánh để diễn tả cụ thể tâm trạng của chinh phụ để thấy nỗi buồn mênh mông. Nỗi cô đơn bủa vây, người chinh phụ gắng gượng, tìm mọi cách để trốn chạy nỗi cô đơn. Nàng đốt hương để tìm lại sự thanh thản trong tâm hồn, nhưng hồn đà mê mải, người chinh phụ càng chìm đắm hơn trong nỗi phiền muộn. Nàng lấy gương soi, để tìm thú vui trong việc chỉnh trang nhan sắc, nhưng khi soi gương lại phải đối mặt với sự cô đơn, lẻ loi, hơn nữa nàng lại nhận ra sự tàn phai của tuổi thanh xuân. Khiến nước mắt ngày càng chan chứa, nỗi đau khổ lại càng ngập đầy hơn, nàng thấm thía nỗi cô đơn, tuổi thanh xuân tàn phai trong cô đơn sầu muộn. Nàng gượng đánh đàn nhưng khi chạm đến nàng lại tự ý thức về tình cảnh của mình, nàng thấy tủi thân trước những biểu tượng đôi lứa, ẩn chứa trong các nhạc cụ : Đàn sắt, đàn cầm: gảy hòa âm với nhau được ví cảnh vợ chồng hòa thuận. Dây uyên: dây đàn uyên ương – biểu tượng cho lứa đôi gắn bó, hòa hợp. Phím đàn loan phượng – biểu tượng của lứa đôi gắn bó. Tất cả các nhạc cụ để có đôi có lứa, chỉ có mình mình cô đơn, lẻ bóng. Thậm chí nỗi cô đơn đã khiến nàng lo lắng, sợ hãi chơi đàn dây sẽ bị đứt, phím đàn bị chùng, đó là những biểu hiện không may mắn của đôi lứa. Nàng tìm đến những nhạc cụ nhưng lại không chạy trốn được nỗi cô đơn. Chinh phụ cố gắng tìm quên bằng cách tìm đến những thú vui nhưng càng tìm quên lại càng đối diện với bi kịch của mình, càng đau khổ hơn bao giờ hết. Nàng tìm đến thiên nhiên, nhưng thiên nhiên lại cho thấy khoảng cách vời vợi giữa nàng và chồng. Non Yên – nơi chiến trận ngoài biên ải xa xôi, khoảng cách xa vời khôn thấu. Nàng tìm cách để vượt qua khoảng cách, gửi lại tất cả những nhớ nhung cho chồng bằng ngọn gió đông, nhưng đây chỉ là giải pháp tưởng tượng, không thể thực hiện. Nàng lại phải đối mặt với thực tại, thấm thía với bi kịch của mình: cảnh xung quanh hiện hữu trước mắt, sương khuya lạnh lẽo, tiếng trùng rả rích trong đêm. Cảnh tượng thê lương, ảm đạm, đang bủa vây lấy người chinh phụ, nàng sống trong đau đớn, nhớ thương. Đoạn trích đã cho thấy nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tài tình. Tâm lí người chinh phụ được miêu tả ở nhiều cung bậc khác nhau thông qua hành động và ngoại cảnh. Thể thơ song thất lục bát cùng hệ thống từ láy giàu giá trị gợi hình, gợi cảm đã diễn tả thế giới nội tâm phong phú của nhân vật. Qua trích đoạn, Đặng Trần Côn đã diễn tả thành công những cung bậc, sắc thái khác nhau của người chinh phụ, nỗi cô đơn, buồn thương. Qua đó diễn tả khát khao hạnh phúc lứa đôi, đây là nét mới trong chủ nghĩa nhân đạo của ông. Đồng thời cũng là lời tố cáo mạnh mẽ, đanh thép chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã chia lìa hạnh phúc lứa đôi. Phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ - mẫu 3 Chinh phụ ngâm được tác giả Đặng Trần Côn sáng tác bằng chữ Hán vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII, thời kỳ vô cùng rối ren của xã hội phong kiến. Chiến tranh xảy ra liên miên hết Lê - Mạc đánh nhau đến Trịnh - Nguyễn phân tranh, đất nước chia làm hai nửa. Ngai vàng của nhà Lê mục ruỗng. Nông dân bất bình nổi dậy khởi nghĩa ở khắp nơi. Dân chúng sống trong cảnh loạn ly tán, cha mẹ xa con, vợ xa chồng. Văn học thời kì này tập trung phản ánh bản chất tàn bạo, phản động của giai cấp thống trị và nỗi đau khổ của những nạn nhân trong chế độ thối nát ấy. Tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra đời đã nhận được sự đồng cảm rộng rãi của tầng lớp Nho sĩ. Có nhiều người dịch tác phẩm này sang chữ Nôm, trong đó bản dịch của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm được đánh giá là hoàn hảo hơn cả bởi nó thể hiện gần như trọn vẹn giá trị nội dung và nghệ thuật của nguyên tác. Nội dung Chinh phụ ngâm phản ánh thái độ oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đặc biệt là đề cao quyền sống cùng khát vọng tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của con người. Đó là điều ít được nhắc đến trong thơ văn trước đây. Người chinh phụ vốn dòng dõi trâm anh. Nàng tiễn chồng ra trận với mong muốn chồng mình sẽ lập được công danh và trở về cùng với vinh hoa, phú quý. Nhưng ngay sau buổi tiễn đưa, nàng phải sống trong tình cảnh lẻ loi, ngày đêm xót xa lo lắng cho chồng. Thấm thía nỗi cô đơn, nàng nhận ra tuổi xuân của mình đang trôi qua vùn vụt và cảnh lứa đôi đoàn tụ hạnh phúc ngày càng trở nên xa vời. Vì vậy mà nàng rơi vào tâm trạng cô đơn, sầu khổ triền miên. Khúc ngâm thể hiện rất rõ tâm trạng ấy. Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (từ câu 193 đến câu 228) miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của tâm trạng cô đơn, buồn khổ ở người chinh phụ trẻ đang khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi. Sau buổi tiễn đưa, người chinh phụ trở về, tưởng tượng ra cảnh chiến trường đầy hiểm nguy, chết chóc mà xót xa, lo lắng cho chồng. Một lần nữa, nàng tự hỏi vì sao đôi lứa uyên ương lại phải chia lìa? Vì sao mình lại rơi vào tình cảnh lẻ loi? Bấy nhiêu câu hỏi đều không có lời đáp. Tâm trạng băn khoăn, day dứt của người chinh phụ được tác giả thể hiện sinh động bằng nghệ thuật miêu tả tâm lí tinh tế. Có thể nói, sầu và nhớ là cảm xúc chủ đạo trong đoạn thơ này. Trong phần đầu, hành động và tâm trạng của người chinh phụ đã được ngòi bút sắc sảo của tác giả khắc họa rõ nét: Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen. Ngoài rèm thước chẳng mách tin, Trong rèm dường đã có đèn biết chăng ? Đèn có biết dường bằng chẳng biết ? Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi. Buồn rầu nói chẳng nên lời, Hoa đèn kia với bóng người khá thương! Nàng lặng lẽ "dạo hiên vắng thầm gieo từng bước" trong nỗi cô đơn đang tràn ngập tâm hồn. Nhịp thơ chậm gợi cảm giác như thời gian ngưng đọng. Giữa không gian tịch mịch, tiếng bước chân như gieo vào lòng người âm thanh lẻ loi, cô độc. Nỗi nhớ nhung sầu muộn và khắc khoải mong chờ khiến bước chân người chinh phụ trở nên nặng trĩu. Nàng bồn chồn đứng ngồi không yên, hết buông rèm xuống rồi lại cuốn rèm lên, sốt ruột mong một tiếng chim thước báo tin vui mà chẳng thấy. Nàng khát khao có người đồng cảm và chia sẻ tâm tình. Không gian im ắng, chỉ có ngọn đèn đối diện với nàng. Lúc đầu, nàng tưởng như ngọn đèn biết tâm sự của mình, nhưng rồi lại nghĩ: Đèn có biết dường bằng chẳng biết, bởi nó là vật vô tri vô giác. Nhìn ngọn đèn chong suốt năm canh, dầu đã cạn, bấc đã tàn, nàng chợt liên tưởng đến tình cảnh của mình và trong lòng rưng rưng nỗi thương thân tủi phận: Hoa đèn kia với bóng người khá thương. Hình ảnh người chinh phụ thầm gieo từng bước ngoài hiên vắng và suốt năm canh ngồi một mình bên ngọn đèn chong, không biết san sẻ nỗi niềm tâm sự cùng ai đã miêu tả được tâm trạng cô đơn tột độ của người chinh phụ. Tác giả đặc tả cảm giác cô đơn của người chinh phụ trong tám câu thơ. Đó là cảm giác lúc nào và ở đâu cũng thấy lẻ loi: ban ngày, ban đêm, ngoài hiên vắng, trong phòng lạnh... Nỗi cô đơn tràn ngập không gian và kéo dài vô tận theo thời gian luôn đeo đẳng, ám ảnh nàng. Cảnh vật xung quanh không thể san sẻ mà ngược lại như cộng hưởng với nỗi sầu miên man của người chinh phụ, khiến nàng càng đớn đau, sầu tủi: Gà eo óc gáy sương năm trống, Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên. Khắc giờ đằng đẵng như niên, Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa. Tiếng gà gáy báo sáng làm tăng thêm vẻ tĩnh mịch, vắng lặng. Những cây hòe phất phơ rủ bóng gợi cảm giác buồn bã, u sầu. Giữa không gian ấy, người chinh phụ cảm thấy mình nhỏ bé, cô độc biết chừng nào! Ở các khổ thơ tiếp theo, nỗi ai oán hiện rõ trong từng chữ, từng câu, dù tác giả không hề nhắc đến hai chữ chiến tranh: Hương gượng đốt hồn đà mê mải, Gương gượng soi lệ lại châu chan. Sắt cầm gượng gảy ngón đàn, Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng. Người chinh phụ cố gắng tìm mọi cách để vượt ra khỏi vòng vây của cảm giác cô đơn đáng sợ nhưng vẫn không sao thoát nổi. Nàng gắng gượng điểm phấn tô son và dạo đàn cho khuây khoả nhưng càng lún sâu hơn vào sự tuyệt vọng. Chạm đến đâu cũng là chạm vào nỗi đau, chạm vào tình cảnh lẻ loi đơn chiếc. Khi "hương gượng đốt" thì hồn nàng lại chìm đắm vào nỗi thấp thỏm lo âu. Lúc "gương gượng soi" thì nàng lại không cầm được nước mắt bởi vì nhớ gương này mình cùng chồng đã từng chung bóng, bởi vì phải đối diện với hình ảnh đang tàn phai xuân sắc của mình. Nàng cố gảy khúc đàn loan phượng sum vầy thì lại chạnh lòng vì tình cảnh vợ chồng đang chia ra đôi ngả, đầy những dự cảm chẳng lành : Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng. Rốt cuộc, người chinh phụ đành ngẩn ngơ trở về với nỗi cô đơn đang chất ngất trong lòng mình vậy. Sắt cầm, uyên ương, loan phụng là những hình ảnh ước lệ tượng trưng cho tình yêu nam nữ, tình nghĩa vợ chồng. Nay vợ chồng xa cách, tất cả đều trở nên vô nghĩa. Dường như người chinh phụ không dám đụng tới bất cứ thứ gì vì chúng nhắc nhở tới những ngày đoàn tụ hạnh phúc đã qua và linh cảm đến sự chia lìa đôi lứa trong hiện tại. Tâm thế của nàng thật chông chênh, chơi vơi, khiến cho cuộc sống trở nên khổ sở, bất an. Mong chờ chồng trong nỗi sợ hãi và tuyệt vọng, nàng chỉ còn biết gửi nhớ thương theo ngọn gió: “Lòng này gửi gió đông có tiện Nghìn vàng xin gửi đến non Yên" Sau những day dứt của một trạng thái bế tắc cao độ, người chinh phụ chợt nảy ra một ý nghĩ rất chân thành mà cũng rất nên thơ: nhờ ngọn gió xuân gửi lòng mình tới người chồng ở chiến trường xa, đang đối đầu từng ngày từng giờ với cái chết để mong kiếm chút tước hầu. Chắc chắn, chàng cũng sống trong tâm trạng nhớ nhung mái ấm gia đinh cùng với bóng dáng thân yêu của người vợ trẻ: Non Yên dù chẳng tới miền, Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời. Không gian xa cách giữa hai đầu nỗi nhớ được tác giả so sánh với hình ảnh vũ trụ vô biên: Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời. Thăm thẳm nỗi nhớ người yêu, thăm thẳm con đường đến chỗ người yêu, thăm thẳm con đường lên trời. Câu thơ hàm súc về mặt ý nghĩa và cô đọng về mặt hình thức. Cách bộc lộ tâm trạng cá nhân trực tiếp như thế này cũng là điều mới mẻ, hiếm thấy trong văn chương nước ta thời trung đại: Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu, Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong. Hai câu thất ngôn chứa đựng sự tương phản sâu sắc tạo nên cảm giác xót xa, cay đắng. Đất trời thì bao la, bát ngát, không giới hạn, liệu có thấu nỗi đau đớn đang giày vò ghê gớm cõi lòng người chinh phụ hay chăng? Nói như người xưa: trời thì cao, đất thì dày, nỗi niềm uất ức biết kêu ai? Biết ngỏ cùng ai? Bởi vậy nên nó càng kết tụ, càng cuộn xoáy, gây nên nỗi đau đớn khôn nguôi: Cảnh buồn người thiết tha lòng, Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun. Giữa con người và cảnh vật dường như có sự tương đồng khiến cho nỗi sầu thương trở nên da diết, bất tận. Cảnh vật xung quanh người chinh phụ đã chuyển thành tâm cảnh bởi được nhìn qua đôi mắt đẫm lệ buồn thương. Sự giá lạnh của tâm hồn làm tăng thêm sự giá lạnh của cảnh vật. Cũng giọt sương ấy đọng trên cành cây, cũng tiếng trùng ấy rả rích trong đêm mưa gió, nhưng cảnh ấy tình này lại gợi nên bao sóng gió, bao nỗi đoạn trường trong lòng người chinh phụ. Tình cảnh ấy, tâm trạng ấy tự nó đã nói lên bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa kia. Ý thơ đi từ tình đến cảnh rồi lại từ cảnh trở về tình, cứ lặp đi lặp lại như vậy nhằm thể hiện rõ tình cảnh lẻ loi và tâm trạng cô đơn của người chinh phụ. Dù ở đâu, lúc nào, làm gì nàng cũng chỉ lầm lũi, vò võ một mình một bóng mà thôi! Bầu trời bát ngát không cùng và nỗi nhớ cũng không cùng, nhưng suy tưởng thì có hạn; người chinh phụ lại trở về với thực tế cuộc sống nghiệt ngã của mình. Ý thơ chuyển từ tình sang cảnh. Thiên nhiên lạnh lẽo như truyền, như ngấm cái lạnh lẽo đáng sợ vào tận tâm hồn người chinh phụ cô đơn: Sương như búa, bổ mòn gốc liễu, Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô. Hình như người chinh phụ đã thấm thía sức tàn phá ghê gớm của thời gian chờ đợi. Tuy nhiên đến câu: "Sâu tường kêu vắng chuông chùa nện khơi" thì không khí đã dễ chịu hơn, cũng bởi người chinh phụ chỉ mới thất vọng mà chưa tuyệt vọng. Tám câu cuối là bức tranh tả cảnh ngụ tình đặc sắc nhất trong Chinh phụ ngâm: Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc, Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên. Lá màn lay ngọn gió xuyên, Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm. Hoa dãi nguyệt, nguyệt in một tấm, Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông. Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng, Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau! Ý thơ đi từ tình đến cảnh rồi lại từ cảnh trở về tình, cứ dội qua dội lại như vậy nhằm thể hiện rõ tâm trạng ở đâu, lúc nào, làm gì... người chinh phụ cũng chỉ vò võ một mình một bóng mà thôi! Từ thuốc rất mạnh trong câu "một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên" báo hiệu chuyển sang một tâm trạng mới ở người chinh phụ. Cảnh hoa - nguyệt giao hoà khiến lòng người rạo rực, khao khát hạnh phúc lứa đôi. Những động từ dãi, lồng toát lên cái ý lứa đôi quấn quýt gần gũi, âu yếm nồng nàn mà vẫn tế nhị, kín đáo. Tác giả lựa chọn và dùng từ rất kĩ, rất đắt, đặc biệt là các tính từ là từ láy làm nổi bật tính chất của sự vật : eo óc, phất phơ, đằng đẵng, dằng dặc, mê mải, châu chan, thăm thẳm, đau đáu... Về nhạc điệu, tác giả đã khai thác và phát huy một cách tài tình âm hưởng trầm bổng, du dương của thể thơ song thất lục bát để diễn tả cảm xúc giống như những đợt sóng dạt dào trong tâm trạng người chinh phụ, hết nhớ lại thương, hết lo lắng lại trông mong, hết hi vọng lại tuyệt vọng... trong tình cảnh lẻ loi đơn chiếc. Bằng bút pháp nghệ thuật điêu luyện, tác giả đã diễn tả được những diễn biến phong phú, tinh vi các cung bậc tình cảm của người chinh phụ. Cảnh cũng như tình được miêu tả rất phù hợp với diễn biến của tâm trạng nhân vật. Thông qua tâm trạng đau buồn của người chinh phụ đang sống trong tình, cảnh lẻ loi vì chồng phải tham gia vào những cuộc tranh giành quyền lực của vua chúa, tác giả có chủ ý đề cao hạnh phúc lứa đôi và thể hiện thái độ bất bình, phản kháng đối với chiến tranh phi nghĩa. Tác phẩm Chinh phụ ngâm đã toát lên tư tưởng chủ đạo trong văn chương một thời, đó là tư tưởng đòi quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc rất chính đáng của con người. Phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ - mẫu 4 “Người lên ngựa, kẻ chia bào Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.” Văn học Việt Nam đã từng chứng kiến biết bao những cuộc chia li, tiễn biệt đầy lưu luyến như thế. Và ở thế kỉ thứ XVIII, “Chinh phụ ngâm” một tác phẩm lấy từ đề tài chia li trong chiến tranh đã của Đặng Trần Côn đã cho chúng ta thấy được một cuộc tiễn biệt thấm đẫm tâm trạng, đằng sau đó là nỗi đau người phụ nữ có chồng đi chinh chiến. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” đã làm nổi bật lên nỗi lẻ loi cô đơn cùng những nhớ mong, và có cả những khao khát hạnh phúc của người chinh phụ. Nhà văn Tô Hoài đã từng khẳng định: “Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời”. Thời đại của Đặng Trần Côn là thời kì mà chiến tranh các tập đoàn phong kiến diễn ra liên miên và phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra khắp nơi, nhà nhà sống trong cảnh loạn lạc, khói lửa, đâu đâu cũng thấy cảnh lầm than, tang tóc. Khi thời đại đưa cho ông một đề tài quen thuộc “hiện thực chiến tranh”, bằng cảm hứng nhân đạo của mình, Đặng Trần Côn đã chiếu ngòi bút của mình xuống những nỗi đau của người phụ nữ trong chiến tranh để cất lên tiếng nói của con người thời đại, tiếng nói oán ghét chiến tranh phi nghĩa, tiếng nói đòi quyền sống, quyền hạnh phúc qua khúc tự tình trường thiên “Chinh phụ ngâm”. Xuyên suốt toàn bộ tác phẩm, qua nỗi niềm của người chinh phụ có chồng ra trận, tác giả đã đã để cho người đọc cảm nhận nỗi đau thương trong chiến tranh của cả hai phía người ra trân và người ở lại. Nếu ở nơi chiến địa, chinh phu đang từng ngày từng giờ đối mặt với cái chết thì chinh phụ nơi quê nhà cũng đang mòn mỏi chờ đợi trong vô vọng, và chìm đắm trong muộn phiền. Ba sáu câu thơ trong đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” như tích tụ nỗi đau, nỗi nhớ thương và niềm khao khát hạnh phúc lứa ở tầng sâu nhất của tác phẩm. Mở đầu đoạn trích, tác giả đã khắc họa bức chân dung tâm trạng của người chinh phụ trong tình cảnh cô đơn, lẻ loi, ngày qua ngày mong ngóng tin chồng: Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen. Ngoài rèm thước chẳng mách tin, Trong rèm dường đã có đèn biết chăng ? Giữa một không gian tịch mịch “vắng” và “thưa”, người chinh phụ hiện lên như hiện thân của nỗi cô đơn. Nàng đi đi lại lại, những bước chân của nàng không phải là bước chân “xăm xăm” khi nghe thấy tiếng gọi của tình yêu, hạnh phúc của nàng Kiều mà những bước chân ấy gieo xuống từng bước như gieo vào lòng người đọc những thanh âm của sự lẻ loi cô độ
Chàng từ bỏ cuộc sống trần cõi , sống ẩn dật dể tránh sự đai khổ
Chàng từ bỏ cuộc sống trần cõi , sống ẩn dật dể tránh sự đai khổ
Chàng từ bỏ cuộc sống trần cõi , sống ẩn dật dể tránh sự đai khổ