Lã Tiến Dũng

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lã Tiến Dũng
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1. Đạm Tiên hiện lên trong đoạn trích là một hình ảnh điển hình của “hồng nhan bạc phận”: nàng sở hữu vẻ đẹp, tài năng được ca ngợi (“Nổi danh tài sắc một thì”), nhưng đồng thời số phận mong manh, dễ bị lung lay (“Phận hồng nhan có mong manh”), cuộc đời nàng trở nên cô đơn, lặng lẽ khi không còn chỗ dựa. Hình ảnh buồng trống, dấu xe ngựa rêu lờ mờ xanh, lời than khôn xiết đầy tiếc thương đều khắc họa hoàn cảnh bị lãng quên và nỗi bi thương. Tác giả còn dùng nhiều từ láy, hình ảnh gợi cảm để nhấn mạnh sự tàn phai, hoa rụng và sự bấp bênh của phận người đẹp. Như vậy, Đạm Tiên vừa là biểu tượng của vẻ đẹp văn chương vừa là hình ảnh bi kịch cho cái “mỏng manh” của số phận phụ nữ trong xã hội phong kiến, khiến người đọc vừa thương vừa xót.


Câu 2 Trong thời đại công nghệ, mạng xã hội đem lại nhiều tiện ích: cung cấp thông tin, kết nối bạn bè, hỗ trợ học tập. Tuy nhiên, việc lạm dụng mạng xã hội khiến không ít học sinh sa đà, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập và đời sống xã hội.

Trước hết, sử dụng quá nhiều mạng xã hội làm giảm thời gian học tập, dễ xao nhãng vì thông báo, video giải trí; dẫn tới kết quả học tập sa sút. Thứ hai, thói quen này làm giảm khả năng giao tiếp trực tiếp, khiến nhiều em e dè, thiếu kỹ năng ứng xử nơi công cộng. Cuối cùng, nếu không chọn lọc thông tin, học sinh có thể tiếp nhận tin giả, nội dung tiêu cực ảnh hưởng đến tư tưởng, hành vi. Để khắc phục, cần có biện pháp từ gia đình, nhà trường và bản thân. Gia đình nên quản lý thời gian sử dụng thiết bị của con, khuyến khích hoạt động ngoài trời, trò chuyện trực tiếp. Nhà trường cần có chương trình giáo dục kĩ năng số, hướng dẫn sử dụng mạng xã hội an toàn và có lợi cho học tập; đồng thời tổ chức các hoạt động tập thể thu hút học sinh tham gia. Bản thân mỗi học sinh cần tự giác thiết lập giờ học cố định, tắt thông báo khi học, chọn lọc nội dung và biết dùng mạng xã hội như công cụ hỗ trợ chứ không phải để giải trí vô tội vạ. Ngoài ra, có thể sử dụng ứng dụng quản lý thời gian để kiểm soát màn hình.

Tóm lại, mạng xã hội là công cụ hữu ích nếu biết sử dụng hợp lý.Việc kết hợp quản lý từ gia đình – nhà trường – bản thân sẽ giúp học sinh tận dụng ưu điểm của mạng xã hội mà tránh được hệ lụy xấu, giữ cân bằng giữa học tập và giải trí.

Câu 1. Văn bản được viết theo thể thơ lục bát


Câu 2. Kiểu lời thoại của nhân vật trong hai dòng thơ : Đây là lời dẫn trực tiếp ,có dấu ngoặc kép, trích dẫn lời nói , kiểu lời thoại trực tiếp, biểu hiện sự thán phục,thắc mắc, chất giọng của người kể/nhân vật khi nhận xét.


Câu 3. Nhận xét về hệ thống từ láy được tác giả sử dụng trong văn bản:


Trong đoạn trích có nhiều từ láy như “sè sè”, “dầu dẫu”, “xôn xao”, “rêu lờ mờ”… Từ láy được dùng phong phú, tạo âm điệu mềm mại, nhịp điệu du dương, kết hợp với hình ảnh gợi cảm khiến câu thơ vừa giàu nhạc tính vừa giàu sức gợi. Từ láy giúp miêu tả cảnh vật và tâm trạng , làm cho cảnh buồn, cô đơn, phai nhạt hiện rõ hơn, đồng thời nhấn mạnh tính mong manh, bẽ bàng của số phận người phụ nữ.


Câu 4 Thúy Kiều tỏ ra thương cảm, xót xa, đồng cảm sâu sắc với số phận Đạm Tiên (thán lên: “Đau đớn thay, phận đàn bà!”). Cảm xúc của Kiều cho thấy cô là người con gái đồng cảm, giàu lòng trắc ẩn, tinh tế và có nhân cách nhạy cảm — biết nhìn thấy nỗi khổ của người khác, dễ rung động trước bất hạnh, không chỉ nghĩ cho riêng mình.


Câu 5


Bài học rút ra: cần giữ lòng trắc ẩn, đồng cảm với người khác, không thờ ơ trước nỗi bất hạnh. Ngoài ra nên biết đề phòng, trân trọng giá trị đạo đức, trau dồi nhân cách để không vô tình làm tổn thương người khác. Vì văn bản nhắc ta thấy số phận con người mong manh và cần sự chia sẻ, thương yêu để bớt cô đơn.

câu 1:


Nhân vật bà má trong văn bản "Bà má Hậu Giang" là biểu tượng cho hình ảnh người phụ nữ Nam Bộ giàu lòng yêu nước, kiên cường và dũng cảm. Dù chỉ là một người nông dân bình dị, bà sẵn sàng nuôi giấu cán bộ cách mạng, che chở cho cách mạng trong muôn vàn hiểm nguy, trở thành chỗ dựa tinh thần vững chắc cho những người lính như một người mẹ thực thụ. Bà thể hiện sự hy sinh thầm lặng, cao cả, trở thành một biểu tượng anh hùng của lòng yêu nước. Bà má đã gánh vác trách nhiệm nặng nề khi nuôi giấu cán bộ cách mạng, điều này đòi hỏi sự dũng cảm và khôn khéo tột bậc trong bối cảnh chiến tranh đầy hiểm nguy.Dù có đứng trước móng vuốt của kẻ thù nhưng bà vẫn không dao động,bà thà hy sinh bản thân còn hơn để bộ đôi rơi vào tay địch,chính câu thơ "Má có chết, một mình má chết " đã thể hiện rõ sự hy sinh cao cả của bà má.Bà không trốn chạy,bà còn gan dạ đứng lên chửi thẳng vào bọn địch,bà lên án và căm thù những tội ác mà bọn giặc làm với nhân dân "Cướp nước tao, cắt cổ dân tao!" .Không chỉ là người che chở, bà còn là chỗ dựa tinh thần, thể hiện tình thương yêu vô bờ bến, giống như một người mẹ thứ hai của những người lính cách mạng. Bà đã bày tỏ niềm tự hào trước sức mạnh của những người lính của dân tộc,bà khẳng định đó là sức mạnh mà bọn địch sẽ không bao giờ đấu lại được một đất nước nhỏ bé.Như vậy,bà má Hậu Giang không chỉ là một nhân vật cụ thể mà còn là hình ảnh tiêu biểu cho rất nhiều phụ nữ Việt Nam đã âm thầm hy sinh vì Tổ quốc, trở thành một biểu tượng anh hùng của lòng yêu nước.


câu 2:


Nhân vật bà má trong "Bà má Hậu Giang" thể hiện phẩm chất kiên cường, tình yêu nước sâu sắc, là tấm gương cho thế hệ trẻ về trách nhiệm đối với đất nước.

Qua đó,thế hệ trẻ chúng ta cũng cần phải nhận thức được trách nhiệm của mình đối với vận mệnh của dân tộc. Thế hệ trẻ có trách nhiệm xây dựng và phát triển đất nước trong thời bình. Nhân vật bà má đã hy sinh, góp phần tạo nên hòa bình, vì vậy, thế hệ trẻ cần sống sao cho xứng đáng, bằng cách không ngừng học tập, rèn luyện và cống hiến. Thấu hiểu những hy sinh của cha ông để trân trọng hòa bình hiện tại và có trách nhiệm bảo vệ nó trong tương lai. Điều này không chỉ là lòng biết ơn mà còn là hành động thiết thực để đất nước mãi vững bền. Chúng ta phải tích cực rèn luyện,tiếp thu tri thức mới, rèn luyện tư duy sáng tạo để làm chủ khoa học - công nghệ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội.Đồng thời,giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, nói không với những lối sống lệch lạc, thiếu văn hóa.Bởi xã hội ngày càng phát triển ,ta lại càng có nhiều cơ hội đi ra nước ngoài,vậy tại sao không nhân cơ hội này để giới thiệu văn hóa và bản sắc của dân tộc,để làm chúng phong phú và độc đáo hơn trong mắt bạn bè quốc tế.bên cạnh đó,phải tham gia các hoạt động xã hội, bảo vệ môi trường, thể hiện lối sống nhân ái,tử tế; tổ chức thêm các buổi từ thiện,"lá lành đùm lá rách"để giúp đỡ cho những hoàn cảnh khó khăn góp phần phát triển đất nước ngày càng phát triển.

Thuở xưa,cha ông ta có truyền thống đoàn kết,bởi chỉ có đoàn kết thì tất cả mới đồng lòng cùng nhau chống lại kẻ địch,vì vậy chúng ta là thế hệ con cháu sau này,chúng ta phải luôn giữ gìn tinh thần đồng lòng,giữ vững sức mạnh đại đoàn kết dân tộc,có như vậy đất nước mới giàu mạnh,cuộc sống nhân dân mới ấm no.

câu 1: văn bản viết theo thể thơ song thất lục bát


câu 2:Sự viêc: khi bà má hậu giang đang thổi cơm cho bộ đội ta thì bất chợt có giặc đến lục soát,nó nghi ngờ bà nuôi du kích ,đe dọa đến sự sống của bà,nhưng đứng trước lưỡi gươm của kẻ địch,bà má vẫn luôn kiên cường,sẵn sàng hy sinh bản thân để giữ an toàn cho các chú bộ đội.


câu 3:-những hành động chỉ sự độc ác của tên giặc:


+ đạp rơi liếp mành.


+Đốc gươm dài tuốt vỏ


+Trừng trừng trông ngược trông xuôi


+đứng ngõ trừng trừng


+giậm gót giày


+Lưỡi gươm lạnh toát kề hông


+Cướp nước


+cắt cổ dân


câu 4:-biện pháp tu từ so sánh: "con " với "rừng đước mạnh" qua từ 'như"


- tác dụng: +làm cho câu thơ sinh động,hấp dẫn,tăng sức gợi hình gợi cảm


+nhấn mạnh lòng dũng cảm,kiền cường,tinh thần bất khuất của người anh hùng tring chiến tranh-'con tao"


+qua đó ,tác giả ca ngợi tinh thần mạnh mẽ,không ngại hy sinh bản thân mình vì đất nước,căm thù kẻ địch của người lính việt nam


câu 5:Qua hình tượng "bà má", em suy ngẫm về tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên cường và bất khuất của dân tộc ta, được thể hiện qua sự hy sinh thầm lặng, đức hy sinh cao cả và ý chí bám trụ quê hương. Tinh thần ấy không phân biệt giới tính hay tuổi tác, mà được hun đúc từ truyền thống dân tộc, biến những hình ảnh giản dị thành biểu tượng của lòng yêu nước mãnh liệt, quyết tâm bảo vệ Tổ quốc. Dù trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, bà má vẫn vững vàng bám trụ nơi quê nhà, không rời bỏ mảnh đất quê hương. Các hành động như "lượm củi khô", "một mình má, một nồi to" cho thấy người mẹ Việt Nam đã hy sinh và chịu đựng mọi gian khó, đắng cay để nuôi dưỡng thế hệ sau và góp phần vào cuộc đấu tranh.Hình ảnh bà má trở thành biểu tượng cho lòng yêu nước sâu sắc, là điểm tựa tinh thần vững chắc, thể hiện ý chí quật cường và tình cảm gắn bó với đất nước.

câu 1:


Đoạn trích khắc họa tâm trạng của người chinh phụ là sự chờ đợi mòn mỏi, nỗi cô đơn, bi thương và day dứt triền miên. Nỗi mong nhớ chồng được thể hiện qua các hành động và suy nghĩ đầy tâm trạng: khi thì hy vọng, ngóng trông vô vọng, khi thì lại chìm vào nỗi sầu uất nghẹn. Nhiều năm tháng trôi qua, người chinh phụ liên tục chờ đợi tin tức từ chồng, "trải mấy xuân tin đi tin lại. Đến xuân này, sự chờ đợi trở nên vô vọng khi "tin hãy vắng không". Nàng miêu tả chi tiết cảnh chờ mong và sự thất vọng khi "thấy nhạn luống tưởng thư phong", "nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng" rồi lại "gió tây nổi khôn đường hồng tiện", "xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa". Cảnh vật xung quanh như đang làm nổi bật nỗi cô đơn của nàng: "trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ", "trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai", "lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi". "Thấy nhạn luống tưởng thư phong" và "nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng" thể hiện hy vọng mong manh về tin tức chồng, nhưng lại nhanh chóng chuyển sang sự lo lắng, thất vọng khi "gió tây nổi khôn đường hồng tiện", "xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa".Mọi hoạt động của nàng đều thấm đẫm nỗi buồn. Nàng "thẫn thờ như không" khi không có tin tức, tóc mai rối bời, xiêm áo thắt "lệch làn". Nàng "ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen" thể hiện tâm trạng bồn chồn, lo lắng, "lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi".


Dù đã "gieo bói tiền, tin dở còn ngờ", mọi thứ đều không mang lại kết quả. Cuộc sống đơn độc, xa cách với chồng khiến nàng cảm thấy lạnh lẽo, xót xa. Những hình ảnh như "Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ", "Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai" thể hiện sự cô đơn, tuyệt vọng dâng cao trong lòng người chinh phụ. Dù nàng có làm mọi thứ để vơi đi nỗi buồn, nhưng tất cả chỉ khiến nỗi cô đơn càng ngày càng lớn.Nàng như lạc giữa cuộc đời, bơ phờ, ngẩn ngơ, không tìm thấy đường đi cho mình. Dù có ai hiểu hay không, nỗi lòng của nàng vẫn chỉ là "bi thiết mà thôi".


câu 2


Đoạn trích từ "Chinh Phụ Ngâm" cho thấy rõ nỗi đau, sự cô đơn và mất mát mà chiến tranh gây ra cho con người, đặc biệt là người phụ nữ ở hậu phương.

Người chinh phụ phải chịu đựng nỗi cô đơn, mòn mỏi trong chờ đợi tin tức chồng nơi biên ải xa xôi. Nỗi nhớ chồng day dứt, dai dẳng, khiến cuộc sống của nàng trở nên trống rỗng, vô nghĩa, mất đi sự tươi trẻ và niềm vui cuộc sống.Sự chia ly do chiến tranh gây ra đẩy người chồng ra chiến trường, còn người vợ ở nhà lại phải đối mặt với nỗi nhớ thương, lo lắng, và sự cô đơn.Cuộc chiến không chỉ gây ra sự chia ly mà còn cướp đi sinh mạng của bao người, để lại những vết thương sâu sắc trong lòng mỗi người, mỗi gia đình và xã hội.Từ hình ảnh người chinh phụ mỏi mòn chờ đợi trong cô đơn, chúng ta cần nhận thức rõ trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc trân trọng hòa bình.Trước hết chúng ta phải hiểu được giá trị của nó. Hòa bình là nền tảng để con người có thể sống, làm việc, và xây dựng cuộc sống tốt đẹp.Thế hệ trẻ cần tích cực tham gia vào các hoạt động bảo vệ hòa bình, như tham gia các phong trào, hoạt động cộng đồng, tình nguyện.Thế hệ trẻ cần có ý thức xây dựng một xã hội hòa bình, văn minh, và phát triển. Điều này bao gồm việc tôn trọng sự khác biệt, không phân biệt đối xử, và chung tay xây dựng một xã hội công bằng và nhân ái.Cuộc sống hòa bình không chỉ được tạo dựng bằng sức mạnh của quân đội mà còn được tạo dựng bằng những giá trị văn hóa. Thế hệ trẻ cần trân trọng và bảo vệ những giá trị văn hóa, như lòng yêu nước, tình yêu quê hương, và tình yêu thương đồng bào.

Như vậy,để có được cuộc sống hào bình như ngày hôm nay,ông cha ta đã phải đánh đổi rất nhiều xương máu,vì vậy chúng ta là thế hệ sau được hưởng trái ngọt,chúng ta phải biết trân trong,bảo vệ và phát triển đất nước ngay càng vươn cao mạnh mẽ hơn nữa.

câu 1:thể thơ song thất lục bát


câu 2:d(òng thơ chỉ sự mong mỏi,ngóng trông tin chồng của người chinh phụ:


-Gió tây nổi khôn đường hồng tiện(


-Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa.



-Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài.


- Đề chữ gấm phong thôi lại mở,


-Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai


-Trâm cài xiêm thắt thẹn thùng


-Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước


- Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.


câu 3:nghĩ về người chồng đang chiến đấu nơi xa,người chinh phụ đã


-Thấy nhạn luống tưởng thư phong


-Đề chữ gấm phong thôi lại mở


-Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa


-Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước


=>qua đó,những hành động ấy chỉ sự mong mỏi,lo lắng về người chồng đang hy sinh trên chiến trường khốc liệt,một nỗi nhớ nhung,cô đơn sâu sắc của người chinh phụ khi chồng đi xa


câu 4:-biện pháp tu từ nhân hóa:Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ


-tác dụng:


+làm cho câu thơ trở nên sinh động ,hấp dẫn,gần gũi với con người


+nhấn mạnh tâm trạng của người chinh phụ khiến quang cảnh xung quanh cũng buồn theo,bầu trời cũng như một con người đang đăn chiêu,suy tư ngẩn ngơ vì nỗi nhớ người ở xa


+qua đó,tác giả thể hiện tâm trạng trống rỗng,bâng khuâng của người chinh phụ,một nỗi nhớ tha thiết,mong ước được gặp lại chồng của người chinh phụ


câu 5:-trong đoạn thơ,người chinh phụ thể hiện tâm trạng nhớ thương, chờ đợi, cô đơn, buồn tủi và thất vọng, vì chồng đi xa biền biệt, tin tức ngày càng ít dần


-Qua tâm trạng của người chinh phụ, ta thấy rõ chiến tranh đã lấy đi hạnh phúc sum họp gia đình. Hòa bình là nơi chồng vợ có thể đoàn viên, người vợ không phải lo lắng, người chồng không phải xa nhà.


-giá trị của cuộc sống hòa bình bây giờ là vô cùng to lớn,nơi những niềm vui đơn giản như đọc sách, nghe nhạc, chuyện trò cùng nhau được trọn vẹn


-Nỗi nhớ thương, tình yêu lứa đôi của người chinh phụ được thể hiện sâu sắc trong cảnh chia ly, chiến tranh.Hòa bình cho phép tình yêu được nuôi dưỡng và phát triển, không bị đè nén bởi khổ đau


-Vì vậy, phải trân trọng, giữ gìn hòa bình, bảo vệ sự bình yên và hạnh phúc của mỗi gia đình.

câu 1:


Nhân vật Lý Hữu Chi (Lý Tướng Quân) trong truyện là hình tượng tiêu biểu cho sự tha hóa của kẻ nắm quyền trong xã hội phong kiến loạn lạc. Ban đầu, Hữu Chi được biết đến là một người có sức khỏe, giỏi đánh trận, có công giúp nước, nhưng khi đạt đến quyền vị cao, bản chất tàn bạo và tham lam của hắn bộc lộ rõ rệt.Hữu Chi trở nên ngạo mạn, cậy quyền làm càn: hắn khinh thường người hiền, hãm hại người vô tội, ham mê sắc dục, tích trữ của cải bằng cách chiếm đoạt đất đai. Hắn thậm chí còn bỏ ngoài tai mọi cảnh báo của đạo sĩ về luật nhân quả, thể hiện sự mê muội đến mức không thể cứu vãn. Sự trừng phạt cuối cùng ở cõi âm—bị tra khảo, đánh đập và mổ bụng—là kết cục tất yếu cho lối sống bạo ngược của hắn.Vậy nên, ta nới thấy luật nhân quả ở đời sẽ không chừ một ai,chúng ta làm gì thì sẽ nhận lại kết cục y như vậy.Nếu ta làm sia nhưng biết quay đầu,hối cải sớm thì mọi chuyện sẽ không quá nghiêm trọng,nhưng nếu ta không chịu hối cỉa mà còn tiếp tục phạm sia lầm như Lý Hữu Chi trong câu chuyện,chúng ta sẽ gặp kết cục y nhu vậy.Qua đó,tác giả không chỉ khắc họa một cá nhân độc ác mà còn gián tiếp phê phán tầng lớp thống trị mục nát đương thời, những kẻ đã lợi dụng công lao và quyền thế để làm điều ác, khẳng định rằng tội ác không thể dung thứ và nhất định sẽ bị luật pháp của trời đất trừng trị.


câu 2


Lý Hữu Chi, vị tướng tài trong truyện cổ, cuối cùng đã phải nhận sự trừng phạt đau đớn không phải vì yếu kém mà vì lòng tham vô độ, không biết điểm dừng. Câu chuyện ấy như một lời cảnh tỉnh vượt thời gian: Tham vọng là động lực, nhưng lòng tham lại là chất độc, gặm nhấm nhân cách và hủy hoại cả cuộc đời.

Trong đời sống hiện đại, lòng tham biểu hiện dưới nhiều hình thức tinh vi và gây ra những tác hại khôn lường.Tác hại đầu tiên và trực tiếp nhất của lòng tham là sự biến chất về nhân cách và mất mát về tinh thần. Một người tham lam luôn sống trong trạng thái bất mãn, lo âu vì cảm thấy mình chưa bao giờ "đủ." Tham lam vật chất khiến người ta ra sức vơ vét, không từ thủ đoạn, biến mình thành nô lệ của tiền bạc và quyền lực, đánh mất đi sự thanh thản và danh dự. Sự ích kỷ, tham lam trong học tập cũng không kém phần tai hại. Việc gian lận để đạt điểm cao chỉ tạo ra một thành tích giả tạo, bóp méo giá trị của tri thức, làm suy yếu nền tảng đạo đức của người học và tạo ra sự bất công lớn đối với những người nỗ lực chân chính. Nếu không kiểm soát, lòng tham sẽ đẩy con người vào vòng xoáy tội lỗi và sự trừng phạt, như cách Lý Hữu Chi đã phải chịu đựng.Để hạn chế và loại bỏ thói xấu nguy hiểm này, cần có sự kết hợp giữa ý thức tự thân và hành động xã hội.Thứ nhất, tu dưỡng nội tâm bằng triết lý "biết đủ." Đây là biện pháp gốc rễ. Con người cần học cách trân trọng những gì mình đang có, thực hành lòng biết ơn để thay thế sự khao khát vô tận bằng sự thỏa mãn hiện tại. Việc đặt ra các mục tiêu đạo đức và cống hiến thay vì chỉ tập trung vào lợi ích cá nhân sẽ giúp chuyển hóa tham vọng thành năng lượng tích cực.Thứ hai, tăng cường giáo dục về giá trị và đạo đức. Từ gia đình đến nhà trường và xã hội, cần chú trọng bồi dưỡng tính trung thực, liêm chính và tinh thần công bằng. Những câu chuyện như Lý Hữu Chi hay các tấm gương sống tử tế cần được lan tỏa để hình thành hệ giá trị đúng đắn cho thế hệ trẻ.Thứ ba, xây dựng hệ thống pháp luật và giám sát nghiêm minh. Với những biểu hiện tham lam gây hại cho xã hội, đặc biệt là tham nhũng và gian lận có tổ chức, cần có sự trừng phạt thích đáng để tạo tính răn đe. Sự minh bạch trong quản lý và thi cử là bức tường thép ngăn chặn cơ hội phát sinh lòng tham.Tóm lại, lòng tham là một loại "ung nhọt" làm hỏng nhân cách và gây hỗn loạn xã hội.

Bài học từ Lý Hữu Chi nhắc nhở chúng ta rằng chỉ khi kiểm soát được dục vọng cá nhân và hướng đến giá trị chân thật, con người mới có thể tìm thấy hạnh phúc bền vững và xây dựng một cuộc sống công bằng, lương thiện.

câu 1: thể loại :truyện truyền kỳ


câu 2:ngôi thứ 3


câu 3:-nhân vật chính là:Lý Hữu Chi


-nhân vật ấy được môt tả với nét tính cách:


+dữ tợn nhưng có sức khỏe


+giỏi đánh trận


-sau khi có quyền cao:


+dựa lũ trộm cướp như lòng ruột


+coi người nho sĩ như cừu thù


+thích sắc đẹp


+ham tiền tài


+tham lam không chán


câu 4:-chi tiết hoang đường,kỳ ảo:Sự xuất hiện của người bạn cũ đã mất là Nguyễn Quỳ, hồn ma này hiện về báo trước cái chết và sự trừng phạt sắp đến của Lý Tướng Quân.


-tác dụng:


+giúp câu chuyện trở nên lôi cuốn, thu hút người đọc bằng những sự kiện vượt ra ngoài thế giới thực.


+lời báo của Nguyễn Quỳ tạo ra sự căng thẳng, báo hiệu một tai họa sắp xảy đến, từ đó đẩy câu chuyện đến đỉnh điểm là cái chết và phiên tòa xử án ở cõi âm.


+Nguyễn Dữ phê phán sâu sắc tầng lớp quan lại, tướng lĩnh thời bấy giờ (như Lý Hữu Chi) đã lợi dụng quyền lực để hành ác, tàn sát dân lành và người vô tội.


câu 5:-ý nghĩa:Câu chuyện phơi bày bản chất thoái hóa, sa đọa của một bộ phận tướng lĩnh, quan lại trong xã hội phong kiến đương thời. Lý Hữu Chi ban đầu là người có công, nhưng khi có quyền lực và tiền tài đã trở nên kiêu ngạo, tàn ác, làm nhiều việc trái đạo lý: khinh người, chém giết vô tội vạ, tham lam chiếm đoạt.Qua nhân vật Lý, Nguyễn Dữ ngầm phê phán một xã hội loạn lạc, nơi kẻ có quyền thế có thể tha hồ cậy quyền ức hiếp dân lành, làm cho kỷ cương bị đảo lộn.Đồng thời,lời cảnh báo nghiêm khắc đối với những người đang nắm quyền, nhắc nhở họ phải biết tu nhân tích đức, nếu không sẽ phải nhận lấy hậu quả bi thảm.


-em rút ra bài học:


+ác giả ác báo:nếu ta làm một điều xấu,ta sẽ nhân lại hậu quả chính nó đem lại


+phải biết sống chan hào,yêu thương,đồng cảm với tất cả mọi người


+không ỷ lại mình có quyền thế mà bắt nạt những người nghèo khó,gian khổ

câu 1: thể loại :truyện truyền kỳ


câu 2:ngôi thứ 3


câu 3:-nhân vật chính là:Lý Hữu Chi


-nhân vật ấy được môt tả với nét tính cách:


+dữ tợn nhưng có sức khỏe


+giỏi đánh trận


-sau khi có quyền cao:


+dựa lũ trộm cướp như lòng ruột


+coi người nho sĩ như cừu thù


+thích sắc đẹp


+ham tiền tài


+tham lam không chán


câu 4:-chi tiết hoang đường,kỳ ảo:Sự xuất hiện của người bạn cũ đã mất là Nguyễn Quỳ, hồn ma này hiện về báo trước cái chết và sự trừng phạt sắp đến của Lý Tướng Quân.


-tác dụng:


+giúp câu chuyện trở nên lôi cuốn, thu hút người đọc bằng những sự kiện vượt ra ngoài thế giới thực.


+lời báo của Nguyễn Quỳ tạo ra sự căng thẳng, báo hiệu một tai họa sắp xảy đến, từ đó đẩy câu chuyện đến đỉnh điểm là cái chết và phiên tòa xử án ở cõi âm.


+Nguyễn Dữ phê phán sâu sắc tầng lớp quan lại, tướng lĩnh thời bấy giờ (như Lý Hữu Chi) đã lợi dụng quyền lực để hành ác, tàn sát dân lành và người vô tội.


câu 5:-ý nghĩa:Câu chuyện phơi bày bản chất thoái hóa, sa đọa của một bộ phận tướng lĩnh, quan lại trong xã hội phong kiến đương thời. Lý Hữu Chi ban đầu là người có công, nhưng khi có quyền lực và tiền tài đã trở nên kiêu ngạo, tàn ác, làm nhiều việc trái đạo lý: khinh người, chém giết vô tội vạ, tham lam chiếm đoạt.Qua nhân vật Lý, Nguyễn Dữ ngầm phê phán một xã hội loạn lạc, nơi kẻ có quyền thế có thể tha hồ cậy quyền ức hiếp dân lành, làm cho kỷ cương bị đảo lộn.Đồng thời,lời cảnh báo nghiêm khắc đối với những người đang nắm quyền, nhắc nhở họ phải biết tu nhân tích đức, nếu không sẽ phải nhận lấy hậu quả bi thảm.


-em rút ra bài học:


+ác giả ác báo:nếu ta làm một điều xấu,ta sẽ nhân lại hậu quả chính nó đem lại


+phải biết sống chan hào,yêu thương,đồng cảm với tất cả mọi người


+không ỷ lại mình có quyền thế mà bắt nạt những người nghèo khó,gian khổ

Trong văn học trung đại, để lên án sự suy tàn của xã hội phong kiến cũng như ngợi ca những khát khao niềm hạnh phúc của con người, nhiều thi nhân đã gửi gắm tâm sự, nỗi bất bình của mình vào các bài thơ, khúc ngâm.Và một trong số đó là “Chinh phụ ngâm.Đặc biệt là đoạn trích trên.Đoạn trích trên đã chạm đến trái tim người đọc khi tái hiện hoàn cảnh cô độc, nỗi nhớ thương da diết của người phụ nữ ước mơ niềm hạnh phúc đoàn tụ.

Chinh phụ ngâm được viết bằng chữ Hán, do tác giả Đặng Trần Côn sáng tác vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII. Đây là thời kì vô cùng rối ren của xã hội phong kiến. Chiến tranh xảy ra liên miên, hết Lê-Mạc đánh nhau đến Trịnh-Nguyễn phân tranh, đất nước chia làm hai nửa. Ngai vàng của nhà Lê mục ruỗng. Nông dân bất bình nổi dậy khởi nghĩa ở khắp nơi. Nhân dân sống trong cảnh loạn li nồi da nấu thịt, cha mẹ xa con, vợ xa chồng.Từ đó,tác giả đã viết ra tác phẩm ”Chinh phụ ngâm” phản ánh thái độ oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đặc biệt là đề cao quyền sống cùng khao khát tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của con người.

Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ viết về tình cảnh và tâm trạng người chinh phụ phải sống cô đơn, buồn khổ trong thời gian dài người chống đi đánh trận, không có tin tức, không rõ ngày quay trở về.Tình cảnh lẻ loi, nỗi cô đơn bủa vây của người chinh phụ, nỗi thương nhớ người chồng phương xa, sự khao khát niềm hạnh phúc lứa đôi… là những ý chính khi phân tích Chinh phụ ngâm.

Sau thời điểm tiễn chồng ra trận, người chinh phụ bơ vơ chốn khuê phòng vắng lặng, lạnh lẽo, nỗi khổ tâm của nàng được bộc lộ qua hành động và ngoại cảnh:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?”

Người chinh phụ rải bước trong hiên vắng, vừa đi vừa thầm đếm bước tiến mình, như đếm từng ngày chồng đi. Những bước tiến lặng lẽ của nàng nặng trĩu u sầu, đong đầy thương nhớ, như bước tiến người cung nữ trong Cung oán ngâm của Nguyễn Gia Thiều: “Ngán trăm chiều bước lại ngẩn ngơ”.Trong những buổi đi dạo của nàng không còn vẻ ung dung, an nhàn mà thay vào đó là sự việc ngán ngẩm, buồn chán – tâm trạng khác hẳn với Thúy Kiều khi bước đi tìm người yêu: “Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”. Nàng Kiều đi tìm tình quân trong thú vui sướng, niềm hạnh phúc ngập tràn, còn người chinh phụ vừa đi vừa gặm nhấm nỗi cô đơn, lo lắng cho việc an nguy của người thân chốn biên ải xa xôi.Nàng hết dạo hiên, lại ngồi buồn, cuốn rèm, buông rèm. Những hành động vô nghĩa ấy được lặp đi tái diễn trong vô thức, nàng chẳng còn bận tâm mình đang làm gì bởi tâm trí nàng giờ dồn hết vào người chồng đang tòng quân. Thẩm mỹ và làm đẹp sử dụng từ ngữ “vắng”, “thưa” vẽ ra không gian trống trải, thưa thớt tình thương yêu, càng tô đậm sự lẻ loi, buồn bã, bồn chồn của nhân vật trữ tình.

Người chinh phụ không chỉ buồn nhớ, lo lắng cho chồng mà còn trông ngóng tin chàng. Nàng đợi tin lành của chim thước sẽ xoa dịu nỗi không an tâm, nhưng chim thước không tới. Nàng lại trở bóng đèn, hỏi đèn mà hỏi lòng. Phân tích Chinh phụ ngâm sẽ thấy nàng nhận ra rằng càng hi vọng, mòn mỏi trông chờ thì sẽ càng hụt hẫng, tuyệt vọng.Sự khát khao sum vầy đoàn tụ, khát khao hơi ấm gia đình của nàng càng khiến nàng đau đớn, thất vọng. Vướng mắc tu từ và điệp từ “rèm” tái diễn ba càng đẩy nàng vào bế tắc, cái bế tắc của xã hội phong kiến suy tàn, của triều đình loạn lạc khiến niềm tin của con người về tình yêu, niềm hạnh phúc không còn giá trị. Chao ôi, người chinh phụ mới đáng thương làm thế nào!

Phân tích đoạn thơ trên sẽ thấy người chinh phụ hết mong ngày, lại mong đêm, khi bóng tối cô đơn tịch mịch kéo xuống bao trùm lấy nàng, nàng chỉ có thể làm bạn với bóng đèn:

“Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Rầu rĩ nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”

Điệp ngữ bắc cầu “đèn biết chăng”, “đèn có biết” khiến nỗi buồn đau, thương nhớ của người chinh phụ thêm da diết, day dứt. Trong tâm trạng đó, nàng đối diện với ngọn đèn dầu, mong muốn được thấu hiểu, được chia sẻ tâm tư…

Đến với đoạn trích ta có thể thấy hình ảnh cây đèn dầu cũng xuất hiện trong những tác phẩm văn học dân gian và văn học trung đại khác. Ca dao có câu “đèn thương nhớ ai/ mà đèn không tắt”, thể hiện nỗi nhớ nhung tha thiết của người con gái với những người mình yêu. Trong Chuyện người con gái Nam Xương, Vũ Nương cũng lấy ngọn đèn dầu để xóa giải nỗi cô đơn khi Trương Sinh đi lính.

Nhưng với cây bút tài hoa của tác giả, ý nghĩa biểu tượng của ánh đèn dầu không chỉ tạm dừng ở đó. Đặng Trần Côn mượn cây đèn đang tàn mà ẩn dụ sự trôi đi nhanh chóng của thời gian, sự tàn lụi, héo hon của kiếp người. Nhà thơ như đang muốn nói: cuộc đời chỉ là kiếp hoa đèn mong manh dang dở. Chính vì vậy, vật vô tri vô giác là cây đèn cháy đỏ khắc khoải, cháy đến tàn bấc dầu kia không những không thể đồng cảm với nỗi đau buồn, tình cảnh cô đơn, lẻ loi người chinh phụ mà càng khiến nàng vô vọng khôn cùng.Tâm trạng của nhân vật trữ tình được khắc họa bằng những tính từ chỉ cảm xúc: “bi thiết”, “rầu rĩ”, “thương”. “Bi thiết” được hiểu là sự việc bi thương, thảm thiết. Từ “thiết” theo nghĩa Hán Việt còn tồn tại nghĩa là cắt, mài. Những suy tư muộn phiền của người chinh phụ khao khát được bộc lộ, được thấu hiểu.

Nhưng trong tình cảnh cô độc vắng tẻ của nàng biết lấy ai để trút bầu tâm sự. Nàng chỉ biết dồn nén những cảm xúc ấy, cảm nhận nỗi đau như thể trái tim bị cứa, mài. Qua việc cảm nhận tâm sự của người chinh phụ khi đối diện với ngọn đèn, người đọc trầm trồ ngợi ca tài năng nghệ thuật và thẩm mỹ trong miêu tả tâm trạng của tác giả!

Ngọn đèn tắt, bỏ lại người chinh phụ cô quạnh trong đêm dài tịch mịch u sầu:

“Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.”

Một đêm dài năm canh, người chinh phụ vì trông ngóng người chinh phụ, thức trọn năm canh, nghe tiếng gà gáy mà sợ hãi, rầu rĩ. Cái âm thanh “eo óc” ấy thưa thớt, ghê rợn, tang tóc, khó chịu, từng tiếng từng tiếng vang lên rõ mồn một, đối lập với việc tĩnh lặng, trầm lắng trong tâm nàng. Tiếng gà gáy trong đêm gợi ra khoảng trống không gian mênh mông, hiu quạnh, khiến người phụ nữ cô đơn, lẻ loi trở nên nhỏ bé, đáng thương. Thẩm mỹ và làm đẹp lấy động tả tĩnh đẩy tâm trạng người chinh phụ lên một nấc thang mới, khiến nó đau đớn hơn, cô độc hơn, dày vò nàng hơn.

Không chỉ có tiếng gà gáy khiến nàng trằn trọc, bóng “hòe phất phơ” cũng khiến người chinh phụ suy tư, lo nghĩ. Vây quanh người chinh phụ là những bóng vía mập mờ lay động trong đêm, như ẩn như hiện, như có như không. Từ láy gợi hình “phất phơ” càng tăng thêm tính mơ hồ, hư ảo của cảnh vật, của tin tức về người chồng ngoài biên ải, của những buổi đoàn tụ, sum họp gia đình trong mơ ước ấy, nàng càng mong chờ, càng cảm thấy xa xôi.

Phân tích đoạn thơ, ta thấy hình ảnh cây hòe trong câu thơ trên gợi nhắc về bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi: “Hòe lục đùn đùn tán rợp giương”. Cây hòe của Nguyễn Trãi đẹp, căng tràn nhựa sống, gợi nên sự vui tươi của buổi chiều mùa hạ, khác hẳn với vẻ buồn bã, u sầu của cây hòe đặt trong đêm khuya thanh vắng trong khúc ngâm của Đặng Trần Côn. Từ đó ta thấy nghệ thuật và thẩm mỹ dùng từ của tác giả, từ tính từ “phất phơ” đến động từ “rủ”, tất cả mang sắc thái chán chường, ủ rũ.

Trong không gian vắng lặng, thời gian đã đi qua màn đêm, người chinh phụ ôm nỗi nhung nhớ, thấm thía về thảm kịch đời mình:

“Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”

Vắng chồng, cuộc sống của người chinh phụ thật tẻ nhạt, buồn chán và nặng nề với những thương nhớ đong đầy từng khắc, cô đơn bủa vây từng giờ. Những ngày tháng này, thời gian trôi đi thật chậm chạp, như muốn gặm nhấm chuỗi ngày sầu bi của nàng. Một ngày không còn được đo bằng vài canh, mấy khắc, mà được tính đếm bằng cả năm dài “đằng đẵng”.Từ láy “đằng đẵng” kéo dãn dài thời gian, kéo dãn dài nỗi buồn và tình cảnh lẻ loi của người phụ nữ có chồng ra trận. Nàng giờ ở vào hoàn cảnh của Kim Trọng khi thương nhớ Thúy Kiều: “Sầu đong càng lắc càng đầy/ Ba thu dọn lại một ngày dài ghê!” Trong những ngày tháng khó khăn này, người chinh phụ ngẫm về cuộc hôn nhân gia đình dang dở, về cuộc đời không được hưởng niềm hạnh phúc trọn vẹn, khiến nàng đã sầu lại càng sầu thêm. Quả đúng là “sầu đong càng lắc càng đầy”, nỗi buồn của người chinh phụ càng triền miên, không có kết quả cuối cùng.

Phân tích đoạn trích sẽ thấy tác giả đã so sánh tâm tư của nàng với hình ảnh ước lệ “miền biển xa”, những lo lắng, buồn thương, đau xót của người chinh phụ vượt ra ngoài giới hạn về không gian và thời gian. So sánh với bản chữ hán của Đặng Trần Côn “Sầu tự hải/ Khắc như niên”, ta thấy Đoàn Thị Điểm không chỉ trung thành với chủ với nguyên tác mà còn tồn tại những sáng tạo riêng trong quá trình dịch, giúp người đọc đơn giản và giản dị hiểu, đơn giản và giản dị đồng cảm hơn với nhân vật trữ tình.

Người chinh phụ chán ghét thời gian trôi chậm chạp, cố vùng thoát khỏi chuỗi ngày cô đơn, lẻ loi dai dẳng:

“Hương gượng đốt hồn đà mê mải
Gương gượng soi lệ lại châu chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng.”

Mong muốn xóa tan ưu phiền, người chinh phụ đốt hương nhưng lại không kìm lấy được lòng mà mê man trong quá khứ. Trong đoạn trích Thề nguyền trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, Kim Trọng cũng đốt hương “Đài sen nối sáp, lò đào thêm hương” để mùi hương trầm ấm áp làm chứng cho thời khắc quan trọng – hai người cất hẹn ước trăm năm.

Người chinh phụ cũng bổi hổi nhớ lại lời hẹn thề năm nào. Mùi hương trầm đã vô tình đưa nàng trở về những tháng ngày niềm hạnh phúc trước kia, để tâm hồn nàng lạc đi tìm những kí ức đẹp quá xa vời. Nhưng càng tiếc nuối quá khứ tươi đẹp, nhân vật trữ tình càng thấm thía thảm kịch hiện tại. Nàng trơ trọi, bơ vơ trong sự thật hiển nhiên: những mặn nồng xưa kia không thể lấy lại được.

Có thể thấy, việc đốt hương vốn để tìm lại niềm thanh thản trong tâm hồn lại khiến người phụ nữ bé nhỏ, đáng thương và bơ vơ thêm thống khổ. Người chinh phụ đành tìm cách khác để giải tỏa tâm sự: nàng soi gương. Trong chuỗi ngày đợi chờ người chinh phu, người chinh phụ chẳng buồn đoái hoài đến phấn son hoa lệ: “Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai?”.Nhưng đêm nay, mong muốn thoát khỏi nỗi cô đơn bủa vây, nàng gượng gạo cầm gương soi. Nàng giật mình xót xa cho dung nhan võ vàng của người phụ nữ trong gương kia. Nàng thương hai con mắt buồn chứa chan u sầu, nàng thương đôi môi chẳng thể nở một nụ cười nhạt, nàng khóc cho tuổi xuân héo tàn, cho dung mạo đang độ tươi thắm bị nỗi đau âm ỉ tàn phá. Nhưng những giọt lệ nào có thể giúp nàng cứu vãn được tình cảnh bi đát này.

Đến với đoạn thơ ta sẽ thấy, khi cảm thấy việc đốt hương hay soi gương không thể giúp quên đi chuyện buồn, người chinh phụ tìm về tiếng đàn. Tác giả sử dụng một loạt hình ảnh ước lệ như “sắt cầm”, “dây uyên”, “phím loan” tượng trưng cho tình yêu đôi lứa, cho vợ chồng hòa hợp. Người chinh phụ lo sợ dây đàn đứt, báo điều chẳng lành về cuộc hôn nhân gia đình hiện nay đang bị chia cắt, về người chồng ngoài chiến trường bặt vô âm tín.Điệp từ “gượng” cho thấy sự cố gắng nỗ lực gượng gạo, chán nản ở người chinh phụ, nàng vùng vẫy trong nỗi cô đơn nhưng lại bị chính nỗi cô đơn bóp chặt. Những thú vui của tầng lớp quý tộc kia giờ đây lại không thể đem lại cho nàng thú vui. Hơn thế nữa chúng lại như liều thuốc kích thích khối u sầu khổ trong tâm nàng. Nàng chỉ muốn được sum vầy mà thôi, những buổi đoàn tụ trong tưởng tượng của nàng lại quá đỗi xa xỉ trong hoàn cảnh này.

Cùng với đó góp phần truyền tải nội dung và giá trị nhân đạo của Chinh phụ ngâm là tài năng nghệ thuật và thẩm mỹ và sáng tạo tài tình của tác giả và dịch giả. Xuyên thấu mười tám câu thơ trong đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ là các biện pháp nghệ thuật và thẩm mỹ như điệp ngữ, thắc mắc tu từ, ẩn dụ,… và các văn pháp ước lệ tượng trưng, tả cảnh ngụ tình.

Khi phân tích bài thơ cũng như đoạn trích sẽ thấy tác giả có sự chọn lọc tinh tế các từ ngữ gợi hình, gợi cảm để miêu tả rõ ràng và cụ thể và chân thực, cảm động từng cung bậc cảm xúc của nhân vật trữ tình. Thêm vào đó, thể thơ song thất lục bát với âm điệu réo rắt, thiết tha, giàu tính nhạc cũng góp phần quan trọng thể hiện nội tâm người chinh phụ. Sát gần đó, Đoàn Thị Điểm rất trung thành với chủ với nguyên tắc khi dịch nên nhiều ý thơ giàu cảm xúc được truyền tải đến người đọc một cách trọn vẹn.

Tóm lại, đoạn trích trên đã chạm đến trái tim bao người đọc bởi những rung động tình cảm đời thường nhất. Đó là sự đồng cảm với tâm trạng của người chinh phụ, là sự trân trọng vẻ đẹp một tâm hồn của người phụ nữ khi yêu và sự căm phẫn trước chiến tranh tàn ác đã đẩy bao con người phải chịu khổ đau, chìa lìa như người chinh phụ