Phạm Minh Hải

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Phạm Minh Hải
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, chủ quyền quốc gia luôn là báu vật thiêng liêng nhất mà cha ông ta đã đánh đổi bằng xương máu để gìn giữ. Đối với thế hệ trẻ ngày nay, ý thức bảo vệ chủ quyền đất nước không chỉ là trách nhiệm pháp lý mà còn là mệnh lệnh từ trái tim. Ý thức này đóng vai trò then chốt trong việc duy trì nền hòa bình và ổn định, tạo tiền đề để mỗi cá nhân phát triển và đất nước hội nhập. Khi mỗi bạn trẻ có nhận thức đúng đắn về biên giới, biển đảo, họ sẽ trở thành những "cột mốc sống" khẳng định bản sắc và vị thế của Việt Nam. Bảo vệ chủ quyền trong thời đại mới không chỉ là cầm súng ra trận, mà còn là sự tỉnh táo trước các thông tin xuyên tạc trên mạng xã hội, là sự nỗ lực học tập để đưa trí tuệ Việt vươn tầm quốc tế. Một thế hệ trẻ có lòng yêu nước nồng nàn và ý thức bảo vệ chủ quyền sắt đá chính là bức tường thành vững chắc nhất để giữ gìn sự toàn vẹn của giang sơn, gấm vóc. Hãy luôn nhớ rằng: "Đất nước là nơi ta sinh ra, nhưng cũng là nơi ta phải có trách nhiệm bảo vệ cho đến hơi thở cuối cùng".

Câu 2 ;


Câu 1: Thể thơ: tám chứ Câu 2: Biển đảo: Sóng dữ phía Hoàng Sa, biển, máu ngư dân trên sóng. Đất nước: Tổ quốc, màu cờ nước Việt, giữ nước. Câu 3: Biện pháp so sánh: "Mẹ Tổ quốc vẫn luôn ở bên ta

Như máu ấm trong màu cờ nước Việt" Tác dụng: Về nội dung: Nhấn mạnh sự gắn kết máu thịt, không thể tách rời giữa Tổ quốc và con người. Tổ quốc hiện lên gần gũi, thiêng liêng như dòng máu chảy trong huyết quản, là nguồn sống và sức mạnh. Về nghệ thuật: Làm cho câu thơ giàu hình ảnh, tăng sức gợi hình, gợi cảm và thể hiện tình yêu quê hương tha thiết. Câu 4: Tình yêu quê hương, đất nước nồng nàn, sâu nặng. Lòng tự hào về lịch sử giữ nước anh hùng của dân tộc ("viết bằng máu cả ngàn chương sử đỏ"). Sự thấu hiểu, sẻ chia với những gian khổ, hy sinh của ngư dân và chiến sĩ nơi đầu sóng ngọn gió. Ý thức trách nhiệm và quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng. Câu 5: Hình ảnh ấn tượng nhất đối với em là "Cho một lần Tổ quốc được sinh ra". Cách diễn đạt này rất sáng tạo và xúc động, cho thấy Tổ quốc không chỉ là một khái niệm địa lý mà là một thực thể sống động, được kết tinh từ máu xương và lòng quả cảm của biết bao thế hệ. Mỗi khi đứng trước họa xâm lăng, sự quyết tử của những người con yêu nước lại một lần nữa làm "hồi sinh" và khẳng định chủ quyền vững chãi của quốc gia. Hình ảnh ấy khơi dậy trong lòng người đọc niềm tự hào sâu sắc và ý thức tự tôn dân tộc mạnh mẽ.

Câu 1: ngôi kể thứ nhất

Câu 2 : Văn bản trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.

Câu 3 : Một đặc điểm tiêu biểu của thể loại truyện ngắn được thể hiện trong văn bản là tập trung khắc họa sự biến đổi trong diễn biến tâm lý nhân vật qua một tình huống đời thường.

Câu 4: Những lời "thầm kêu" của nhân vật Hoài cho thấy: Sự hối hận và thức tỉnh: Hoài đã hoàn toàn nhận ra sai lầm của mình. Cậu không còn muốn bắt chim để thỏa mãn sự tò mò cá nhân mà thực lòng mong muốn chúng được bình yên. Tâm hồn lương thiện, đa cảm: Hoài thấu hiểu và sẻ chia với những nỗi vất vả của đôi chim (phải đi xa, xây tổ lại, lặn lội kiếm ăn). Tình yêu thiên nhiên trong sáng: Cậu yêu loài vật bằng một tình yêu cao thượng hơn: yêu là để chúng được tự do, thay vì chiếm hữu.

Câu 5: Từ văn bản, chúng ta có thể rút ra các giải pháp bảo vệ động vật hoang dã như sau: Giáo dục ý thức và lòng trắc ẩn: Giúp mọi người (đặc biệt là trẻ em) hiểu rằng động vật cũng có "gia đình", có cảm xúc và quyền được sống tự do. Tôn trọng môi trường sống tự nhiên: Không phá hoại tổ, không làm xáo trộn không gian sinh tồn của chúng. Hành động "thả về tự nhiên" cần đi đôi với việc "không xâm hại". Ngừng săn bắt và nuôi nhốt làm cảnh: Thay đổi thói quen chiếm hữu động vật hoang dã để tiêu khiển hoặc làm thú cưng trái phép. Lan tỏa thông điệp bảo vệ: Lên tiếng ngăn chặn các hành vi xâm hại động vật trong cộng đồng, như cách anh Hiền đã giáo dục Hoài.
















Câu 1 : ngôi kể thứ 3

Câu 2 : Nhân vật Việt

Câu 3 : Về nội dung: Tái hiện âm thanh của trận đánh một cách sinh động, hào hùng. Việc ví tiếng súng với "tiếng mõ và tiếng trống đình" giúp cụ thể hóa âm hưởng dồn dập, mạnh mẽ và sức công phá mãnh liệt của vũ khí ta đang trút xuống đầu giặc.

Câu 4 : Một chiến sĩ có tinh thần chiến đấu ngoan cường, quả cảm: Dù bị thương rất nặng (ngất đi tỉnh lại nhiều lần, không bò được, tay chân không nhấc lên nổi), Việt vẫn luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Chỉ cần nghe thấy tiếng súng của đồng đội, anh như được tiếp thêm sức mạnh: "đạn đã lên nòng, ngón cái còn lại vẫn sẵn sàng nổ súng".

Câu 5 : Khơi dậy lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc: Qua hình ảnh một chàng trai trẻ sẵn sàng gác lại tình cảm riêng để lên đường vì nợ nước, thù nhà, giới trẻ ý thức rõ hơn về cái giá của hòa bình và biết ơn sự hy sinh của các thế hệ cha anh.

Câu 5:

+ Cấu tứ bài thơ độc đáo và chặt chẽ: Bài thơ mở đầu bằng hành động thực tế (đọc "Thiên gia thi") để dẫn dắt đến suy nghĩ, cảm nhận sâu sắc về thơ ca. Có sự đối lập giữa thơ xưa (chỉ để ngâm vịnh) và thơ nay (phải có tính chiến đấu). Từ việc đọc sách, tác giả mở rộng ra vấn đề lớn lao của thời đại và trách nhiệm của người nghệ sĩ. + Bố cục tuy ngắn gọn nhưng truyền tải thông điệp mạnh mẽ, sâu sắc về vai trò của văn học nghệ thuật trong đời sống cách mạng.

Phần 2

Câu 1 :

Bài làm


Câu 1: thể thơ thất ngôn tứ tuyệt

Câu 2 :bluật trắc

Câu 3:

- Biện pháp tu từ ẩn dụ nổi bật trong hai câu thơ cuối: "Hiện đại thi trung ưng hữu thiết, / Thi gia dã yếu hội xung phong." - Thiết ( sắt ) ẩn dụ cho tính chiến đấu, sự cứng rắn, kiên định của thơ ca hiện đại. - Xung phong ẩn dụ cho hành động dấn thân, đấu tranh trực diện của nhà thơ trước các vấn đề của thời đại. Tác dụng: Các ẩn dụ này nhấn mạnh quan điểm của Bác Hồ về chức năng của thơ ca trong thời kỳ cách mạng: thơ không chỉ để thưởng thức mà phải phục vụ công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, người làm thơ phải là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa.

Câu 4 :

Tác giả cho rằng như vậy vì: + Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam lúc bấy giờ là xã hội thuộc địa nửa phong kiến đang suy thoái, cần chuẩn bị lực lượng cho quá trình cứu nước (1939-1945). Thơ ca cần mang tính chiến đấu để phục vụ cách mạng. + Quan niệm của Bác Hồ: Thơ ca hiện đại không thể chỉ dừng lại ở việc thưởng thức cái đẹp như thơ ca xưa mà phải có chức năng thức tỉnh, cổ vũ quần chúng đấu tranh. + Người làm thơ phải dấn thân, trực tiếp tham gia vào công cuộc giải phóng dân tộc, dùng ngòi bút làm vũ khí chiến đấu.