Vũ Thị Ngọc Lan
Giới thiệu về bản thân
CÂU 1
BÀI LÀM
Trong cuộc sống, động lực chính là nguồn sức mạnh giúp người trẻ không ngừng nỗ lực mỗi ngày. Đó có thể là ước mơ về một tương lai tốt đẹp, là khát vọng khẳng định bản thân hay đơn giản là mong muốn đem lại hạnh phúc cho gia đình. Khi có động lực, con người sẽ biết vượt qua khó khăn, không dễ dàng bỏ cuộc trước thất bại. Tuổi trẻ là quãng thời gian đẹp nhất để học tập, trải nghiệm và phát triển bản thân, vì vậy nếu sống thiếu mục tiêu và ý chí phấn đấu, chúng ta rất dễ rơi vào trạng thái thụ động, bằng lòng với hiện tại. Trong xã hội ngày càng phát triển, người trẻ càng cần chủ động trau dồi kiến thức, rèn luyện kĩ năng và nuôi dưỡng tinh thần cầu tiến để không bị tụt lại phía sau. Tuy nhiên, động lực không phải điều tự nhiên có mãi mà cần được duy trì bằng sự kiên trì và tinh thần trách nhiệm với bản thân. Mỗi người trẻ hãy sống có ước mơ, biết quý trọng thời gian và nỗ lực từng ngày, bởi thành công chỉ đến với những ai dám cố gắng và không ngừng hoàn thiện chính mình.
Câu 2
Bài làm
Trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, đôi khi con người dễ bị cuốn vào nhịp sống gấp gáp mà quên đi những hi sinh thầm lặng của thế hệ đi trước. Bằng giọng thơ giàu cảm xúc và suy tư, đoạn thơ trong bài Thời gian trắng của Nguyễn Phan Quế Mai đã gợi lên hình ảnh người lính Trường Sơn năm xưa cùng nỗi day dứt về sự lãng quên của con người hôm nay đối với quá khứ chiến tranh.
Đoạn thơ mở ra bằng hình ảnh cuộc gặp gỡ bình dị giữa nhân vật “tôi” và người lính già làm nghề xe ôm: “Tôi ngồi sau xe / Lắng nghe ông kể chuyện”. Từ “lắng nghe” được lặp lại nhiều lần không chỉ diễn tả hành động mà còn thể hiện sự thấu cảm, trân trọng của tác giả trước những câu chuyện chiến tranh. Qua lời kể của người lính già, quá khứ hiện lên sống động qua hàng loạt hình ảnh giàu sức gợi: “gió Trường Sơn”, “nắng miền Trung”, “tiếng súng xuyên về từ ngày tôi chưa sinh”. Những hình ảnh ấy gợi nhắc một thời chiến tranh gian khổ nhưng hào hùng của dân tộc. Đặc biệt, biện pháp nhân hóa và cảm nhận bằng nhiều giác quan đã khiến quá khứ không còn xa xôi mà như đang hiện hữu trong hiện tại Hình tượng người lính Trường Sơn hiện lên với vẻ đẹp vừa bình dị vừa xúc động. Đó là một “người lính già” với “mái tóc bồng bềnh điểm bạc”, “đôi vai gầy guộc” – dấu vết của thời gian và chiến tranh khắc nghiệt. Dù chiến tranh đã lùi xa, những kí ức và nỗi đau vẫn còn in đậm trong tâm hồn người lính. Hình ảnh “giọt mưa xa về mắt tôi” là một ẩn dụ giàu ý nghĩa. “Giọt mưa” ấy mang nhiều dư vị: “vị ngọt chiến thắng”, “vị đắng cuộc chiến”, “vị mặn trăn trở”, “vị cay của cuộc sống đời thường”. Các từ ngữ chỉ vị giác được sử dụng liên tiếp đã diễn tả đầy đủ những cung bậc cảm xúc và số phận của người lính sau chiến tranh. Họ từng chiến đấu vì độc lập dân tộc, từng hi sinh tuổi trẻ nơi chiến trường, nhưng khi trở về lại đối diện với cuộc sống đời thường nhiều nhọc nhằn.Đặc biệt, đoạn thơ còn thể hiện nỗi trăn trở sâu sắc về sự lãng quên của con người hôm nay đối với quá khứ. Câu hỏi: “rồi có ai còn nhớ tới Trường Sơn” chứa đựng nỗi niềm đau đáu của người lính già. Điệp ngữ “Quên đi” được lặp lại nhiều lần như một tiếng cảnh tỉnh đầy day dứt. Trong nhịp sống hiện đại, con người dường như chỉ biết “vươn mình / về phía trước”, mải mê với hiện tại mà quên đi những người đã ngã xuống vì hòa bình hôm nay. Hình ảnh kết thúc: “Người lính già bé nhỏ / Cạnh ngã tư đường / thời gian trắng qua đôi bàn tay” mang giá trị biểu tượng sâu sắc. “Thời gian trắng” gợi sự trống vắng, cô đơn, nhạt nhòa của kí ức chiến tranh trong lòng người đời. Người lính năm xưa giờ trở nên nhỏ bé giữa dòng đời tấp nập, như bị thời gian và xã hội lãng quên.Đoạn thơ thành công nhờ thể thơ tự do giàu cảm xúc, ngôn ngữ mộc mạc mà giàu sức gợi. Các biện pháp nghệ thuật như điệp ngữ, ẩn dụ, liệt kê, cảm nhận đa giác quan được sử dụng linh hoạt, giúp cảm xúc thơ chân thực và ám ảnh hơn. Giọng thơ vừa tha thiết, trân trọng vừa chất chứa nỗi suy tư, xót xa.Qua đoạn thơ, Nguyễn Phan Quế Mai không chỉ bày tỏ lòng biết ơn đối với những người lính Trường Sơn mà còn nhắc nhở thế hệ hôm nay phải biết trân trọng quá khứ, ghi nhớ những hi sinh của cha anh. Đó cũng là lời nhắn nhủ đầy ý nghĩa: hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng máu và tuổi trẻ của biết bao con người, vì thế đừng bao giờ để thời gian phủ trắng những kí ức thiêng liêng của dân tộc.
Câu 1. Luận đề của đoạn trích trên là con người muốn thành công và phát huy hết tiềm năng của bản thân thì phải không ngừng rèn luyện, nỗ lực và vượt qua tâm lí “vừa đủ”, an phận.
Câu 2.
Theo tác giả, con người rất khó đi lên khi đã ở mức “lưng chừng”, tức là khi đã có một ít tài năng, vật chất, cuộc sống ổn định, thoải mái và dần mất động lực để tiếp tục vươn lên.
Câu 3
Biện pháp tu từ sử dụng trong câu văn là so sánh . Nhấn mạnh tăng sức gợi hình gợi cảm tăng tính liên kết tạo nhịp điệu Nhấn mạnh khả năng của con người nếu không được rèn luyện, sử dụng thường xuyên sẽ dần suy giảm giống như cơ bắp không vận động sẽ yếu đi. Qua đó khẳng định vai trò của sự kiên trì học tập, rèn luyện và phát triển bản thân mỗi ngày.
Câu 4
“Hội chứng vừa đủ” được hiểu là trạng thái con người cảm thấy hài lòng với những gì mình đang có, không còn ý chí phấn đấu, ngại cố gắng và dễ bằng lòng với cuộc sống hiện tại. Đây là lối sống khiến con người: thiếu động lực phát triển bản thân, lãng phí tiềm năng, dễ sa vào hưởng thụ, giải trí, dần tụt lùi và không đạt được những giá trị lớn hơn trong cuộc sống.
Câu 5
Hai ngữ liệu có sự tương đồng về ý nghĩa ở chỗ: Cả hai đều khẳng định thành công, tài năng hay giá trị của con người không tự nhiên mà có. Muốn phát triển bản thân, con người phải không ngừng rèn luyện, nỗ lực, kiên trì và cố gắng mỗi ngày. Nếu thiếu sự chăm chỉ, ý chí và nghị lực thì khả năng của con người sẽ mai một, khó đạt được thành công trong cuộc sống.
Câu 1
Bài làm
Trong cả hai ngữ liệu, hình ảnh đứa trẻ ra đời giữa hoàn cảnh khắc nghiệt đều làm nổi bật ý nghĩa: trong gian khó, sự sống vẫn sinh thành mạnh mẽ. Ở truyện Người trong mưa lũ, cuộc sinh nở diễn ra giữa đêm mưa lũ dữ dội, trên chiếc xuồng chòng chành, ánh đèn pin chập chờn. Giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, tiếng khóc “oe… oe…” của đứa bé vang lên như xé toang màn đêm, mang theo niềm hy vọng và sự hồi sinh. Tương tự, trong đoạn trích Một con người ra đời của Maxim Gorky, đứa trẻ “đỏ hỏn”, còn dính cuống rốn, cất tiếng khóc giữa cảnh đời nghèo đói, lênh đênh. Dù hoàn cảnh khắc nghiệt, sự sống vẫn hiện hữu đầy bản năng, mãnh liệt và không thể ngăn cản. Điểm gặp gỡ của hai văn bản là cùng khẳng định sức sống kỳ diệu của con người: càng trong nghịch cảnh, sự sống càng trở nên thiêng liêng và đáng trân trọng. Đồng thời, sự ra đời của những sinh linh mới còn thắp lên niềm tin, tiếp thêm nghị lực để con người vượt qua gian khó, hướng tới tương lai.
Câu 2
Bài làm
Trong bối cảnh thiên tai ngày càng diễn biến phức tạp, những cơn bão lũ không chỉ gây thiệt hại nặng nề về vật chất mà còn thử thách sức chịu đựng và tinh thần đoàn kết của con người. Chính trong hoàn cảnh ấy, tuổi trẻ Việt Nam đã và đang khẳng định vai trò quan trọng của mình, góp phần tạo nên sức mạnh cộng đồng. Như báo Quân đội Nhân dân Việt Nam đã nhấn mạnh: thời đại không chờ đợi những tâm hồn thụ động mà cần những người trẻ biết hành động, biết “gieo hạt giống cho tương lai”.
Trước hết, tuổi trẻ là lực lượng xung kích trong công tác ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai. Khi bão lũ xảy ra, hình ảnh những đoàn viên, thanh niên không quản hiểm nguy, lội nước sâu, băng qua dòng chảy xiết để cứu trợ người dân đã trở nên quen thuộc. Họ tham gia di dời dân khỏi vùng nguy hiểm, vận chuyển lương thực, dựng lại nhà cửa, dọn dẹp sau lũ… Sự nhanh nhẹn, sức khỏe và tinh thần dấn thân của tuổi trẻ đã giúp giảm thiểu thiệt hại và mang lại sự an tâm cho cộng đồng.Đặc biệt, vai trò của tuổi trẻ còn thể hiện ở ý thức trách nhiệm với tương lai. Không ít bạn trẻ tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, trồng rừng, tuyên truyền nâng cao nhận thức về phòng chống thiên tai. Đây chính là những “hạt giống” lâu dài, góp phần hạn chế hậu quả của thiên tai trong tương lai. Sức mạnh cộng đồng không chỉ nằm ở việc đối phó với khó khăn trước mắt mà còn ở khả năng chuẩn bị cho những thử thách lâu dài.Không chỉ dừng lại ở hành động trực tiếp, tuổi trẻ còn góp phần lan tỏa tinh thần tương thân tương ái. Thông qua mạng xã hội, các chiến dịch quyên góp, kêu gọi ủng hộ đồng bào vùng lũ được phát động mạnh mẽ, thu hút sự chung tay của toàn xã hội. Những việc làm ấy không chỉ hỗ trợ vật chất mà còn khơi dậy niềm tin, tiếp thêm động lực cho những người đang gặp khó khăn. Tuổi trẻ, bằng sự sáng tạo và nhiệt huyết, đã trở thành cầu nối gắn kết cộng đồng trong hoạn nạn.Tuy nhiên, bên cạnh những tấm gương tích cực, vẫn còn một bộ phận thanh niên thờ ơ, thiếu trách nhiệm trước các vấn đề chung. Điều này đặt ra yêu cầu mỗi người trẻ cần tự ý thức hơn về vai trò của mình, không sống ích kỷ, vô cảm. Tuổi trẻ chỉ thực sự có ý nghĩa khi biết cống hiến, biết đặt lợi ích cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân.
Có thể khẳng định rằng, trong mưa lũ và thiên tai, tuổi trẻ Việt Nam chính là lực lượng nòng cốt góp phần tạo nên sức mạnh cộng đồng. Họ không chỉ mang đến sự hỗ trợ kịp thời mà còn gieo mầm hy vọng, khơi dậy tinh thần đoàn kết và niềm tin vào tương lai. Mỗi người trẻ hôm nay cần tiếp tục nuôi dưỡng lý tưởng sống đẹp, sẵn sàng hành động vì cộng đồng, để sức trẻ luôn tỏa sáng đúng lúc, đúng nơi, trở thành điểm tựa vững chắc cho xã hội trong mọi hoàn cảnh.
Câu 1 . Dấu hiệu xác định người kể chuyện xưng tôi và trực tiếp tham gia vào câu chuyện . Đây là ngôi kể thứ nhất
Câu 2 .
không gian : Vùng lũ lụt ở xã Hải Hà, khu vực đồn biên phòng Cửa Phá, Phá Tam Giang.Chủ yếu diễn ra trên xuồng cứu hộ và trong ngôi nhà bị ngập nước.
thời gian : Vào buổi chiều tối đến đêm, trong hoàn cảnh mưa lũ dữ dội.
Câu 3 . Biện pháp tu từ trong câu văn là liệt kê “ánh đèn pin, đèn bão lập loè, nhấp nháy, loang loáng " nhằm tăng sức gợi hình gợi cảm tăng tính liên kết tạo nhịp điệu khẳng định được khung cảnh mưa lũ tối tăm, chập chờn, bất ổn.Đồng thời làm nổi bật sự sống vẫn le lói, con người vẫn cố gắng chống chọi trong nghịch cảnh.
Câu 4 . Dũng cảm, không ngại nguy hiểm khi lao vào vùng lũ.Nhanh chóng, quyết đoán trong việc cứu người (phá mái, táp xuồng…).Tận tâm, trách nhiệm, hết lòng vì nhân dân. Thể hiện phẩm chất cao đẹp của người lính: vì dân quên mình, giàu tình người.
Câu 5 . Trong hoàn cảnh khó khăn, thiên tai, tình người càng trở nên rõ nét và đáng quý.Sự hy sinh, đặt người khác lên trên bản thân.giúp đỡ, cứu trợ lẫn nhau. Qua đó Giúp con người vượt qua khó khăn, giữ vững niềm tin vào cuộc sống.Mỗi người cần biết yêu thương, sẻ chia, đặc biệt khi người khác gặp hoạn nạn.
Câu 1 .
Bài làm
Nhân vật trữ tình trong bài thơ “Bầy chim sẻ có nhìn thấy tôi không?” là hình ảnh “tôi” – một con người giàu suy tư và trắc ẩn. Trước bầy chim sẻ bị nhốt trong lồng, nhân vật trữ tình không chỉ dừng lại ở sự quan sát mà còn đi sâu vào suy ngẫm về thân phận con người. Từ hình ảnh chim sẻ không được bay giữa bầu trời xanh, “tôi” liên tưởng đến bạn bè mình – những người đang phải sống trái với mong muốn và ước mơ. Nhân vật trữ tình mang trong mình sự đồng cảm sâu sắc với những số phận bị giam cầm bởi những ràng buộc vô hình của cuộc sống. Qua đó, “tôi” thể hiện một cái nhìn tỉnh táo và đầy trăn trở: con người không nên chờ đợi sự cứu rỗi từ người khác, bởi tự do là điều vốn dĩ phải được sống và gìn giữ. Nhân vật trữ tình chính là tiếng nói nhân văn của nhà thơ, nhẹ nhàng nhưng thấm thía.
Câu 2
Bài làm
Trong tiểu thuyết Suối nguồn, nhân vật Howard Roark từng khẳng định: “Em không đứng ở điểm cuối của bất kì truyền thống nào. Em có thể đứng ở điểm khởi đầu của một truyền thống.” Câu nói thể hiện một quan niệm sống táo bạo, đặc biệt có ý nghĩa đối với người trẻ trong xã hội hiện đại.
Trước hết, câu nói khẳng định tinh thần dám khác biệt và dám sáng tạo. Không đứng ở “điểm cuối của truyền thống” có nghĩa là không chấp nhận lặp lại những lối mòn cũ kĩ, không để bản thân bị trói buộc bởi những khuôn mẫu có sẵn. Người trẻ cần có bản lĩnh để tự tìm con đường riêng, khẳng định giá trị cá nhân thay vì chỉ sống theo sự sắp đặt của xã hội.
Bên cạnh đó, việc “đứng ở điểm khởi đầu của một truyền thống” cho thấy khát vọng sáng tạo ra giá trị mới. Truyền thống không phải lúc nào cũng là thứ bất biến; nhiều truyền thống tốt đẹp trong lịch sử đã bắt đầu từ sự dám nghĩ, dám làm của một cá nhân. Người trẻ hôm nay, với tri thức và cơ hội rộng mở, hoàn toàn có thể tạo nên những chuẩn mực mới tích cực cho cộng đồng nếu đủ bản lĩnh và trách nhiệm.
Tuy nhiên, dám khác biệt không đồng nghĩa với phủ nhận sạch trơn truyền thống. Người trẻ cần biết kế thừa có chọn lọc, giữ lại những giá trị tốt đẹp, đồng thời đổi mới những điều không còn phù hợp. Sự sáng tạo chỉ thực sự có ý nghĩa khi hướng tới những giá trị nhân văn, tiến bộ.
Trong bối cảnh xã hội hiện nay, nhiều bạn trẻ vẫn sống theo những “chiếc lồng vô hình” của định kiến và áp lực thành công. Câu nói của Howard Roark là lời thức tỉnh mạnh mẽ: hãy dũng cảm sống là chính mình, dám đi con đường chưa ai đi, để cuộc đời không trôi qua trong sự lặp lại vô nghĩa.
Câu 1 . Nhân vật trữ tình trong bài thơ là “tôi” – người đang đi trên phố, trực tiếp quan sát bầy chim sẻ bị nhốt trong lồng và suy ngẫm về cuộc sống, con người.
Câu 2 . Điều nghịch lý được nhắc đến trong bài thơ là:Những con chim sẻ – loài chim sinh ra để bay – lại không được bay trong bầu trời xanh, bị nhốt trong lồng.
Câu 3 . Ý nghĩa hình tượng chiếc lồng trong bài thơ là : chiếc lồng là vật giam giữ chim sẻ, tước đi tự do vốn có của chúng. Sâu xa hơn, chiếc lồng là ẩn dụ cho những ràng buộc vô hình trong cuộc sống con người: định kiến xã hội, áp lực mưu sinh, những khuôn mẫu khiến con người không được sống đúng với ước mơ và bản chất của mình.
Câu 4 . Tác dụng của nghệ thuật đối trong đoạn thơ:Hai vế đối lập:“chim sẻ không được bay trong bầu trời xanh” ↔ “bạn bè tôi phải sống không theo cách mình nghĩ”“một điều nghịch lý” ↔ “một điều bình thường”Nghệ thuật đối giúp:Làm nổi bật sự trớ trêu của cuộc sống: điều phi lí với tự nhiên lại trở thành điều quen thuộc trong xã hội con người. Tăng sức gợi, tạo chiều sâu triết lí, thể hiện nỗi xót xa, trăn trở của nhân vật trữ tình trước thực tại.
Câu 5 .Thông điệp có ý nghĩa sâu sắc nhất trong bài thơ Con người sinh ra để được sống tự do, là chính mình, chứ không nên chờ đợi sự “cứu rỗi” từ người khác.Bài thơ cho thấy ngay cả khi được “phóng sinh”, chim sẻ vẫn đã bị tổn thương.Tác giả nhấn mạnh: tự do là quyền tự nhiên, không phải ân huệ.Thông điệp ấy nhắc người trẻ cần dũng cảm lựa chọn con đường của mình, không để cuộc đời bị nhốt trong những “chiếc lồng” vô hình.
Câu 1
Bài Làm
Văn bản Cái đẹp trong truyện ngắn “Muối của rừng” của Nguyễn Huy Thiệp tạo được sức thuyết phục bởi cách lập luận sáng rõ và tình cảm chân thành của người viết. Tác giả bài viết lựa chọn những khía cạnh tiêu biểu nhất của cái đẹp để phân tích: vẻ đẹp thiên nhiên trong lành, vẻ đẹp của sự thức tỉnh lương tri và vẻ đẹp hài hòa khi con người biết sống thuận theo tự nhiên. Các luận điểm nối tiếp mạch lạc, giúp người đọc dễ dàng hình dung sự chuyển biến bên trong ông Diểu. Đồng thời, hệ thống dẫn chứng lấy trực tiếp từ truyện đều chính xác và giàu giá trị gợi hình – như tiếng kêu đau đớn của đàn khỉ hay khoảnh khắc ông Diểu cứu con khỉ đực – khiến lập luận có nền tảng vững chắc. Không chỉ giải thích, người viết còn bộc lộ cảm xúc trân trọng đối với những thay đổi thiện lương của nhân vật, từ đó khơi dậy suy nghĩ tích cực ở người đọc. Giọng văn giàu chất cảm, kết hợp với lí lẽ chặt chẽ, khiến bài viết không khô khan mà giàu sức truyền cảm. Chính sự hòa quyện giữa lí trí và cảm xúc đã làm nên tính thuyết phục sâu sắc của văn bản.
Câu 2
Bài Làm
Trong những năm gần đây, khi mở mạng xã hội, tôi thường bắt gặp những đoạn clip ghi lại cảnh các bạn trẻ thu gom rác ở ao hồ, dưới chân cầu hay ngoài bãi biển. Những hình ảnh ấy giản dị nhưng lại khiến tôi suy nghĩ rất nhiều về ý thức bảo vệ môi trường của thế hệ mình. Giữa vô vàn trào lưu ồn ào, việc những người trẻ chọn cầm bao tải, găng tay và lặng lẽ nhặt từng mảnh rác dường như là một tín hiệu đẹp, một lời nhắc nhở tử tế gửi đến cộng đồng. Người trẻ vốn được xem là lực lượng năng động, thích thử thách, thích khám phá cái mới. Nhưng điều làm tôi ấn tượng không phải là sự năng động ấy, mà là tinh thần trách nhiệm mà họ thể hiện. Không ai bắt buộc, không có phần thưởng hay ánh đèn sân khấu, họ vẫn chọn hành động vì môi trường. Từ góc nhìn của một người trẻ, tôi thấy những việc làm ấy giống như một lời mời gọi âm thầm: hãy bắt đầu từ những điều nhỏ nhất. Bởi rác ở ao hồ, bãi biển đâu phải do ai xa lạ tạo ra—rất nhiều khi chính là từ sự vô ý hoặc thói quen tùy tiện của chúng ta. Những clip nhặt rác không chỉ mô tả một hành động bảo vệ môi trường, mà còn phản ánh thái độ sống tử tế và văn minh. Mỗi chiếc chai nhựa được nhặt lên là một thông điệp: thiên nhiên đang bị tổn thương, và chính chúng ta phải chữa lành nó. Nhìn những đôi tay lấm lem bùn đất nhưng tràn đầy nhiệt huyết, tôi hiểu rằng bảo vệ môi trường không phải là khẩu hiệu lớn lao mà là việc hình thành nếp sống. Thế hệ trẻ bây giờ không đứng ngoài những vấn đề của xã hội; họ muốn góp phần thay đổi theo cách của riêng mình. Tuy vậy, tôi cũng nhận ra rằng không phải ai cũng đồng cảm hay ủng hộ. Có người xem đó là việc nhỏ nhặt, có người lại cho rằng quay clip là để “làm màu”. Nhưng nếu không có những hình ảnh ấy lan tỏa trên mạng xã hội, liệu có bao nhiêu người giật mình nhìn lại thói quen xả rác tùy tiện của mình? Mạng xã hội vốn có sức lan truyền mạnh mẽ, vì thế việc chia sẻ hành động đẹp không chỉ là ghi lại kỉ niệm mà còn là một cách truyền cảm hứng rất hiệu quả. Từ suy nghĩ đó, tôi hiểu rằng người trẻ có thể dùng mạng xã hội theo một cách đầy tích cực: biến nó thành kênh lan tỏa nếp sống xanh, chứ không chỉ để chạy theo những trò giải trí phù phiếm. Và trên hết, những việc làm trong các clip ấy nhắc tôi rằng: thay đổi môi trường không phải là nhiệm vụ của riêng ai. Người trẻ có thể không xoay chuyển được mọi thứ ngay lập tức, nhưng họ có thể bắt đầu bằng một hành động đủ nhỏ để ai cũng có thể làm theo. Nhìn lại, tôi thấy những bạn trẻ ấy không chỉ đang dọn rác mà còn đang dọn sạch cả những thói quen cũ kỹ, sự thờ ơ và lối nghĩ ích kỉ. Họ đang gieo vào cộng đồng niềm tin rằng mỗi người đều có thể là một phần của sự thay đổi. Và có lẽ, đó mới chính là điều đẹp nhất trong những đoạn clip giản dị kia.
Câu 1. Luận đề của văn bản trên nói về cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp, cụ thể là vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp của sự hướng thiện và vẻ đẹp hài hòa giữa con người với thiên nhiên được thể hiện qua nhân vật ông Diểu.
Câu 2 . Câu văn thể hiện rõ tính khẳng định trong văn bản trên là “Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó.”
Câu 3 . Nhan đề “Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp” đã chỉ rõ chủ đề trọng tâm của văn bản: phân tích, lí giải những vẻ đẹp nổi bật trong truyện ngắn Muối của rừng.
Nội dung văn bản triển khai đầy đủ các luận điểm tương ứng với nhan đề: vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp của sự hướng thiện, vẻ đẹp hài hòa giữa thiên nhiên và con người.
Mối quan hệ: Nhan đề định hướng rõ ràng nội dung, còn nội dung triển khai và chứng minh trọn vẹn điều được nêu trong nhan đề, tạo sự thống nhất và nhất quán trong lập luận.
Câu4 . Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn sau là biện pháp liệt kê . “chim xanh, gà rừng, khỉ”, “núi non, hang động”, “rừng xanh tĩnh lặng”, “tiếng súng săn dữ dội”, “tiếng kêu buồn thảm”, “tiếng rú kinh hoàng”… nhằm tạo tính liên kết làm cho câu văn thêm sinh động hấp dẫn tạo nhịp điệu cho câu văn khẳng định được sự phong phú, đa dạng và vẻ đẹp sống động của thế giới tự nhiên gây ấn tượng đối với người đọc, đồng thời nhấn sâu sắc vào tác động mạnh mẽ của thiên nhiên đối với sự thức tỉnh lương tri của ông Diểu. Qua đó tác giả góp phần khắc họa diễn biến tâm lí nhân vật, làm nổi bật sự chuyển biến từ vô cảm sang nhận thức, từ săn bắn sang hướng thiện.
Câu 5 . Mục đích của người viết góp phần phân tích và làm sáng tỏ vẻ đẹp nội dung và tư tưởng của truyện ngắn Muối của rừng gợi cho người đọc nhận thấy giá trị nhân văn sâu sắc
Quan điểm của người viết khẳng định thiên nhiên có sức mạnh cảm hóa và thức tỉnh tâm hồn con người đề cao vẻ đẹp hướng thiện của con người khi biết dừng lại trước cái ác và lựa chọn điều tốt.
Tình cảm của người viết : thể hiện tình yêu, sự trân trọng đối với thiên nhiên và giá trị nhân văn của tác phẩm bày tỏ sự cảm thông và nâng niu đối với quá trình thay đổi của nhân vật ông Diểu thể hiện sự ngợi ca cái đẹp, niềm tin vào thiện lương, vào những điều tốt đẹp trong cuộc sống.