Vũ Thị Ngọc Lan
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 .
Bài làm
Nhân vật trữ tình trong bài thơ “Bầy chim sẻ có nhìn thấy tôi không?” là hình ảnh “tôi” – một con người giàu suy tư và trắc ẩn. Trước bầy chim sẻ bị nhốt trong lồng, nhân vật trữ tình không chỉ dừng lại ở sự quan sát mà còn đi sâu vào suy ngẫm về thân phận con người. Từ hình ảnh chim sẻ không được bay giữa bầu trời xanh, “tôi” liên tưởng đến bạn bè mình – những người đang phải sống trái với mong muốn và ước mơ. Nhân vật trữ tình mang trong mình sự đồng cảm sâu sắc với những số phận bị giam cầm bởi những ràng buộc vô hình của cuộc sống. Qua đó, “tôi” thể hiện một cái nhìn tỉnh táo và đầy trăn trở: con người không nên chờ đợi sự cứu rỗi từ người khác, bởi tự do là điều vốn dĩ phải được sống và gìn giữ. Nhân vật trữ tình chính là tiếng nói nhân văn của nhà thơ, nhẹ nhàng nhưng thấm thía.
Câu 2
Bài làm
Trong tiểu thuyết Suối nguồn, nhân vật Howard Roark từng khẳng định: “Em không đứng ở điểm cuối của bất kì truyền thống nào. Em có thể đứng ở điểm khởi đầu của một truyền thống.” Câu nói thể hiện một quan niệm sống táo bạo, đặc biệt có ý nghĩa đối với người trẻ trong xã hội hiện đại.
Trước hết, câu nói khẳng định tinh thần dám khác biệt và dám sáng tạo. Không đứng ở “điểm cuối của truyền thống” có nghĩa là không chấp nhận lặp lại những lối mòn cũ kĩ, không để bản thân bị trói buộc bởi những khuôn mẫu có sẵn. Người trẻ cần có bản lĩnh để tự tìm con đường riêng, khẳng định giá trị cá nhân thay vì chỉ sống theo sự sắp đặt của xã hội.
Bên cạnh đó, việc “đứng ở điểm khởi đầu của một truyền thống” cho thấy khát vọng sáng tạo ra giá trị mới. Truyền thống không phải lúc nào cũng là thứ bất biến; nhiều truyền thống tốt đẹp trong lịch sử đã bắt đầu từ sự dám nghĩ, dám làm của một cá nhân. Người trẻ hôm nay, với tri thức và cơ hội rộng mở, hoàn toàn có thể tạo nên những chuẩn mực mới tích cực cho cộng đồng nếu đủ bản lĩnh và trách nhiệm.
Tuy nhiên, dám khác biệt không đồng nghĩa với phủ nhận sạch trơn truyền thống. Người trẻ cần biết kế thừa có chọn lọc, giữ lại những giá trị tốt đẹp, đồng thời đổi mới những điều không còn phù hợp. Sự sáng tạo chỉ thực sự có ý nghĩa khi hướng tới những giá trị nhân văn, tiến bộ.
Trong bối cảnh xã hội hiện nay, nhiều bạn trẻ vẫn sống theo những “chiếc lồng vô hình” của định kiến và áp lực thành công. Câu nói của Howard Roark là lời thức tỉnh mạnh mẽ: hãy dũng cảm sống là chính mình, dám đi con đường chưa ai đi, để cuộc đời không trôi qua trong sự lặp lại vô nghĩa.
Câu 1 . Nhân vật trữ tình trong bài thơ là “tôi” – người đang đi trên phố, trực tiếp quan sát bầy chim sẻ bị nhốt trong lồng và suy ngẫm về cuộc sống, con người.
Câu 2 . Điều nghịch lý được nhắc đến trong bài thơ là:Những con chim sẻ – loài chim sinh ra để bay – lại không được bay trong bầu trời xanh, bị nhốt trong lồng.
Câu 3 . Ý nghĩa hình tượng chiếc lồng trong bài thơ là : chiếc lồng là vật giam giữ chim sẻ, tước đi tự do vốn có của chúng. Sâu xa hơn, chiếc lồng là ẩn dụ cho những ràng buộc vô hình trong cuộc sống con người: định kiến xã hội, áp lực mưu sinh, những khuôn mẫu khiến con người không được sống đúng với ước mơ và bản chất của mình.
Câu 4 . Tác dụng của nghệ thuật đối trong đoạn thơ:Hai vế đối lập:“chim sẻ không được bay trong bầu trời xanh” ↔ “bạn bè tôi phải sống không theo cách mình nghĩ”“một điều nghịch lý” ↔ “một điều bình thường”Nghệ thuật đối giúp:Làm nổi bật sự trớ trêu của cuộc sống: điều phi lí với tự nhiên lại trở thành điều quen thuộc trong xã hội con người. Tăng sức gợi, tạo chiều sâu triết lí, thể hiện nỗi xót xa, trăn trở của nhân vật trữ tình trước thực tại.
Câu 5 .Thông điệp có ý nghĩa sâu sắc nhất trong bài thơ Con người sinh ra để được sống tự do, là chính mình, chứ không nên chờ đợi sự “cứu rỗi” từ người khác.Bài thơ cho thấy ngay cả khi được “phóng sinh”, chim sẻ vẫn đã bị tổn thương.Tác giả nhấn mạnh: tự do là quyền tự nhiên, không phải ân huệ.Thông điệp ấy nhắc người trẻ cần dũng cảm lựa chọn con đường của mình, không để cuộc đời bị nhốt trong những “chiếc lồng” vô hình.
Câu 1
Bài Làm
Văn bản Cái đẹp trong truyện ngắn “Muối của rừng” của Nguyễn Huy Thiệp tạo được sức thuyết phục bởi cách lập luận sáng rõ và tình cảm chân thành của người viết. Tác giả bài viết lựa chọn những khía cạnh tiêu biểu nhất của cái đẹp để phân tích: vẻ đẹp thiên nhiên trong lành, vẻ đẹp của sự thức tỉnh lương tri và vẻ đẹp hài hòa khi con người biết sống thuận theo tự nhiên. Các luận điểm nối tiếp mạch lạc, giúp người đọc dễ dàng hình dung sự chuyển biến bên trong ông Diểu. Đồng thời, hệ thống dẫn chứng lấy trực tiếp từ truyện đều chính xác và giàu giá trị gợi hình – như tiếng kêu đau đớn của đàn khỉ hay khoảnh khắc ông Diểu cứu con khỉ đực – khiến lập luận có nền tảng vững chắc. Không chỉ giải thích, người viết còn bộc lộ cảm xúc trân trọng đối với những thay đổi thiện lương của nhân vật, từ đó khơi dậy suy nghĩ tích cực ở người đọc. Giọng văn giàu chất cảm, kết hợp với lí lẽ chặt chẽ, khiến bài viết không khô khan mà giàu sức truyền cảm. Chính sự hòa quyện giữa lí trí và cảm xúc đã làm nên tính thuyết phục sâu sắc của văn bản.
Câu 2
Bài Làm
Trong những năm gần đây, khi mở mạng xã hội, tôi thường bắt gặp những đoạn clip ghi lại cảnh các bạn trẻ thu gom rác ở ao hồ, dưới chân cầu hay ngoài bãi biển. Những hình ảnh ấy giản dị nhưng lại khiến tôi suy nghĩ rất nhiều về ý thức bảo vệ môi trường của thế hệ mình. Giữa vô vàn trào lưu ồn ào, việc những người trẻ chọn cầm bao tải, găng tay và lặng lẽ nhặt từng mảnh rác dường như là một tín hiệu đẹp, một lời nhắc nhở tử tế gửi đến cộng đồng. Người trẻ vốn được xem là lực lượng năng động, thích thử thách, thích khám phá cái mới. Nhưng điều làm tôi ấn tượng không phải là sự năng động ấy, mà là tinh thần trách nhiệm mà họ thể hiện. Không ai bắt buộc, không có phần thưởng hay ánh đèn sân khấu, họ vẫn chọn hành động vì môi trường. Từ góc nhìn của một người trẻ, tôi thấy những việc làm ấy giống như một lời mời gọi âm thầm: hãy bắt đầu từ những điều nhỏ nhất. Bởi rác ở ao hồ, bãi biển đâu phải do ai xa lạ tạo ra—rất nhiều khi chính là từ sự vô ý hoặc thói quen tùy tiện của chúng ta. Những clip nhặt rác không chỉ mô tả một hành động bảo vệ môi trường, mà còn phản ánh thái độ sống tử tế và văn minh. Mỗi chiếc chai nhựa được nhặt lên là một thông điệp: thiên nhiên đang bị tổn thương, và chính chúng ta phải chữa lành nó. Nhìn những đôi tay lấm lem bùn đất nhưng tràn đầy nhiệt huyết, tôi hiểu rằng bảo vệ môi trường không phải là khẩu hiệu lớn lao mà là việc hình thành nếp sống. Thế hệ trẻ bây giờ không đứng ngoài những vấn đề của xã hội; họ muốn góp phần thay đổi theo cách của riêng mình. Tuy vậy, tôi cũng nhận ra rằng không phải ai cũng đồng cảm hay ủng hộ. Có người xem đó là việc nhỏ nhặt, có người lại cho rằng quay clip là để “làm màu”. Nhưng nếu không có những hình ảnh ấy lan tỏa trên mạng xã hội, liệu có bao nhiêu người giật mình nhìn lại thói quen xả rác tùy tiện của mình? Mạng xã hội vốn có sức lan truyền mạnh mẽ, vì thế việc chia sẻ hành động đẹp không chỉ là ghi lại kỉ niệm mà còn là một cách truyền cảm hứng rất hiệu quả. Từ suy nghĩ đó, tôi hiểu rằng người trẻ có thể dùng mạng xã hội theo một cách đầy tích cực: biến nó thành kênh lan tỏa nếp sống xanh, chứ không chỉ để chạy theo những trò giải trí phù phiếm. Và trên hết, những việc làm trong các clip ấy nhắc tôi rằng: thay đổi môi trường không phải là nhiệm vụ của riêng ai. Người trẻ có thể không xoay chuyển được mọi thứ ngay lập tức, nhưng họ có thể bắt đầu bằng một hành động đủ nhỏ để ai cũng có thể làm theo. Nhìn lại, tôi thấy những bạn trẻ ấy không chỉ đang dọn rác mà còn đang dọn sạch cả những thói quen cũ kỹ, sự thờ ơ và lối nghĩ ích kỉ. Họ đang gieo vào cộng đồng niềm tin rằng mỗi người đều có thể là một phần của sự thay đổi. Và có lẽ, đó mới chính là điều đẹp nhất trong những đoạn clip giản dị kia.
Câu 1. Luận đề của văn bản trên nói về cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp, cụ thể là vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp của sự hướng thiện và vẻ đẹp hài hòa giữa con người với thiên nhiên được thể hiện qua nhân vật ông Diểu.
Câu 2 . Câu văn thể hiện rõ tính khẳng định trong văn bản trên là “Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó.”
Câu 3 . Nhan đề “Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp” đã chỉ rõ chủ đề trọng tâm của văn bản: phân tích, lí giải những vẻ đẹp nổi bật trong truyện ngắn Muối của rừng.
Nội dung văn bản triển khai đầy đủ các luận điểm tương ứng với nhan đề: vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp của sự hướng thiện, vẻ đẹp hài hòa giữa thiên nhiên và con người.
Mối quan hệ: Nhan đề định hướng rõ ràng nội dung, còn nội dung triển khai và chứng minh trọn vẹn điều được nêu trong nhan đề, tạo sự thống nhất và nhất quán trong lập luận.
Câu4 . Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn sau là biện pháp liệt kê . “chim xanh, gà rừng, khỉ”, “núi non, hang động”, “rừng xanh tĩnh lặng”, “tiếng súng săn dữ dội”, “tiếng kêu buồn thảm”, “tiếng rú kinh hoàng”… nhằm tạo tính liên kết làm cho câu văn thêm sinh động hấp dẫn tạo nhịp điệu cho câu văn khẳng định được sự phong phú, đa dạng và vẻ đẹp sống động của thế giới tự nhiên gây ấn tượng đối với người đọc, đồng thời nhấn sâu sắc vào tác động mạnh mẽ của thiên nhiên đối với sự thức tỉnh lương tri của ông Diểu. Qua đó tác giả góp phần khắc họa diễn biến tâm lí nhân vật, làm nổi bật sự chuyển biến từ vô cảm sang nhận thức, từ săn bắn sang hướng thiện.
Câu 5 . Mục đích của người viết góp phần phân tích và làm sáng tỏ vẻ đẹp nội dung và tư tưởng của truyện ngắn Muối của rừng gợi cho người đọc nhận thấy giá trị nhân văn sâu sắc
Quan điểm của người viết khẳng định thiên nhiên có sức mạnh cảm hóa và thức tỉnh tâm hồn con người đề cao vẻ đẹp hướng thiện của con người khi biết dừng lại trước cái ác và lựa chọn điều tốt.
Tình cảm của người viết : thể hiện tình yêu, sự trân trọng đối với thiên nhiên và giá trị nhân văn của tác phẩm bày tỏ sự cảm thông và nâng niu đối với quá trình thay đổi của nhân vật ông Diểu thể hiện sự ngợi ca cái đẹp, niềm tin vào thiện lương, vào những điều tốt đẹp trong cuộc sống.