Phạm Lan Phương

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Phạm Lan Phương
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

câu 1 :

Đoạn trích trong vở kịch “Chén thuốc độc” (1921) của Vũ Đình Long là một lát cắt hiện thực sâu sắc, phơi bày bi kịch gia đình thầy Thông Thu – nạn nhân của lối sống hoang phí, tha hóa đạo đức
. Qua đoạn độc thoại và xung đột kịch, tác giả khắc họa tâm trạng dằn vặt, tuyệt vọng đến tột cùng của nhân vật chính khi rơi vào cảnh khánh kiệt, nợ nần chồng chất . Hình ảnh “chén thuốc độc” mang ý nghĩa biểu tượng, không chỉ là sự giải thoát bế tắc của Thông Thu mà còn là lời cảnh tỉnh đanh thép về hậu quả của lối sống buông thả, xa rời truyền thống trong xã hội Việt Nam thời kỳ đầu thế kỷ XX . Vũ Đình Long sử dụng ngôn ngữ kịch chân thực, giàu cảm xúc, nhấn mạnh tư tưởng nhân đạo khi vừa phê phán sự sa ngã, vừa cảm thông, thức tỉnh con người tìm về ánh sáng lương tri . Vở kịch khẳng định vị thế mở đường cho kịch nói Việt Nam với nội dung "tả phong tục An Nam", phản ánh chân thực đời sống hiện tại


câu 2 :
Trong vở kịch "Chén thuốc độc", nhân vật Thông Thu đã phải thốt lên trong cay đắng: "Biết hối thì đã không kịp!" sau khi ném tiền qua cửa sổ vào những cuộc ăn chơi vô độ. Câu chuyện ấy không chỉ là lát cắt của xã hội cũ mà còn là lời cảnh tỉnh đầy sức nặng đối với thực trạng tiêu xài thiếu kiểm soát của một bộ phận giới trẻ hiện nay – một thói quen đang dần bào mòn cả tài chính lẫn nhân cách của thế hệ trẻ. Tiêu xài thiếu kiểm soát là việc cá nhân sử dụng tiền bạc một cách bừa bãi, không có kế hoạch, thường xuyên mua sắm những thứ không thực sự cần thiết hoặc vượt quá khả năng chi trả của bản thân và gia đình.
Trong thời đại công nghệ số, chúng ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh những bạn trẻ sẵn sàng vay nợ để sở hữu một chiếc điện thoại đời mới nhất, những bộ quần áo hàng hiệu xa xỉ hay chi bộn tiền cho những chuyến du lịch "sang chảnh" chỉ để có những tấm hình lung linh trên mạng xã hội. Trào lưu "flexing" (khoe khoang) vô hình trung đã tạo ra một áp lực đồng lứa, khiến nhiều người trẻ rơi vào cái bẫy của lối sống thực dụng, coi giá trị con người nằm ở những món đồ họ mang trên người. Nguyên nhân của thực trạng này đến từ cả khách quan lẫn chủ quan. Về khách quan, sự bùng nổ của thương mại điện tử và các chiến dịch quảng cáo rầm rộ khiến nhu cầu mua sắm bị kích thích tối đa. Về chủ quan, quan trọng nhất vẫn là tâm lí thích thể hiện, muốn khẳng định đẳng cấp ảo của một bộ phận bạn trẻ. Họ thiếu đi bản lĩnh để từ chối những cám dỗ và quan trọng hơn cả là thiếu kỹ năng quản lý tài chính cá nhân – một lỗ hổng lớn trong giáo dục hiện đại. Hậu quả của thói quen này thật khôn lường. Nhẹ thì rơi vào cảnh "đầu tháng sang chảnh, cuối tháng ăn mì tôm", nặng thì dẫn đến nợ nần chồng chất, khiến gia đình kiệt quệ như cảnh ngộ của gia đình cụ Thông. Khi không có tiền để thỏa mãn thói quen tiêu xài, một số bạn trẻ có thể nảy sinh những hành vi lệch lạc, vi phạm pháp luật. Hơn cả tiền bạc, thói quen này còn làm băng hoại đạo đức, khiến con người trở nên ích kỷ, chỉ biết hưởng thụ mà quên đi giá trị của lao động chân chính. Để khắc phục tình trạng này, mỗi bạn trẻ cần tự ý thức về giá trị của đồng tiền – đó là mồ hôi, nước mắt của cha mẹ và của chính mình.
Chúng ta cần học cách phân biệt giữa "thứ mình cần" và "thứ mình muốn". Việc rèn luyện kỹ năng quản lý tài chính và xây dựng một lối sống giản dị, tập trung vào giá trị tri thức thay vì vẻ ngoài hào nhoáng là điều vô cùng cần thiết. Nhà trường và gia đình cũng cần phối hợp để định hướng cho trẻ em về tư duy tiền bạc ngay từ khi còn nhỏ. Tóm lại, tiêu xài có kiểm soát không phải là keo kiệt, mà là biểu hiện của một lối sống văn minh và có trách nhiệm. Đừng để bản thân rơi vào bi kịch như Thông Thu, để rồi khi đứng trước "chén thuốc độc" của nợ nần và sự khinh khi mới bắt đầu hối hận. Hãy là những người trẻ làm chủ đồng tiền, thay vì trở thành nô lệ cho những nhu cầu phù phiếm. 12:23 /-strong /-heart :> :o :-(( :-h
/-strong /-heart :> :o :-(( :-h

Câu 1: Thể loại của văn bản "Chén thuốc độc"
Văn bản thuộc thể loại bi kịch
Câu 2: Hình thức ngôn ngữ chính
Đoạn trích chủ yếu được triển khai bằng hình thức độc thoại (nhân vật thầy Thông Thu đang tự nói với chính mình để bộc lộ nội tâm).
Câu 3: Chỉ dẫn sân khấu và vai trò
Chỉ dẫn sân khấu: Đoạn văn nằm trong ngoặc đơn "(Trích Chén thuốc độc...)" hoặc các phần mô tả hành động (dù đoạn trích này tập trung vào lời thoại). Trong kịch bản nói chung, các chỉ dẫn này giúp người đọc/diễn viên hình dung được bối cảnh, cử chỉ và thái độ nhân vật.
Vai trò: Giúp cụ thể hóa hành động, tâm trạng bế tắc của nhân vật và định hướng cho việc dàn dựng trên sân khấu.
Câu 4: Diễn biến tâm lý của thầy Thông Thu
Tâm lý nhân vật chuyển biến từ sự hoang mang, lo sợ trước nợ nần chồng chất đến sự tuyệt vọng, bế tắc cùng cực. Thầy Thông Thu cảm thấy không còn lối thoát khi gia sản khánh kiệt, từ đó dẫn đến ý định tìm đến cái chết để giải thoát và bảo toàn chút danh dự cuối cùng ("chết cũng cam tâm").

Câu 5:
Về quyết định tìm đến cái chết của thầy Thông Thu, chúng ta có thể nhìn nhận ở hai góc độ. Một mặt, ta có thể cảm thông cho bi kịch của một trí thức sa cơ, bị dồn vào đường cùng bởi nợ nần và sự mục nát của xã hội thời bấy giờ. Tuy nhiên, mặt khác, ta không đồng tình với hành động này vì cái chết là sự trốn tránh trách nhiệm một cách tiêu cực. Thay vì chọn cách tiêu cực nhất, nhân vật nên đối mặt để tìm cách khắc phục sai lầm và chăm sóc mẹ già. Hành động tự sát không giải quyết được vấn đề mà còn để lại nỗi đau cho người thân.
12:18 /-strong /-heart :>



Câu 1 : Những phương thức biểu đạt trong bài thơ trên là :biểu cảm , miêu tả , tự sự
Câu 2 : Đề tài trong bài thơ là tình yêu
Câu 3 : + Hình ảnh " trăng"
+ Trăng thường mang tính tượng trưng , sự trong đầy , viên mãn , nhưng trong thơ hàn mặc tử , trăng thường mang sắc thái cô đơn , lạnh lẽo , thậm chí là điên loạn. Hình ảnh trăng trong bài thơ này có thể tượng trưng cho tình yêu nhưng ko trọn vẹn , hoặc sự cô đơn lạc lõng của con người trong cuộc đời
câu 4 :




Câu 5 : cấu tứ của bài thơ khác độc đáo và phức tạp , thể hiện rõ phong cách thơ hàn mặc tử . Bài thơ thường đc bắt đầu bằng những hình ảnh tươi sáng , lãng mạn , sau đó dần chuyển sang những cảm xúc u ám , đau khổ , tuyệt vọng . Cấu tứ này tạo nên sự tương phản mạnh mẽ , lm nổi bật thế giới nội tâm phức tạp của nhà thơ

Cấu tứ của bài thơ khá độc đáo và phức tạp, thể hiện rõ phong cách thơ Hàn Mặc Tử. Bài thơ thường bắt đầu bằng những hình ảnh tươi sáng, lã



Thông điệp: nhắc nhở về trách nhiệm với cộng đồng, đất nước, và sự kiên định theo đuổi ước mơ, lý tưởng sống, dù phải tạm gác lại hạnh phúc cá nhân

Ý nghĩa tượng trưng của hình ảnh "tiếng sóng" trong bài thơ "tống biệt hành" là sự xáo động, nỗi buồn, và tâm trạng lưu luyến, không nỡ rời xa của người đưa tiễn

Sự kết hợp "hoàng hôn trong mắt trong"là một hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường. Theo logic thông thường , hoàng hôn là một hiện tượng thiên nhiên rộng lớn không thể chứa đựng trong "mắt trong"

Tác dụng : nhấn mạnh, làm nổi bật cảm xúc ,tâm trạng của nhân vật trữ tình : nỗi buồn chia li , sự u hoài, sầu muộn trước cảnh hoàng hôn đã xâm chiếm, lấp đầy tâm hồn và ánh mắt của người ra đi, khiến cho đôi mắt trông trẻo cũng trở nên chất chứa đầy buồn bã, ảm đạm

Không gian : Conn đường nhỏ được nhắc đến trong câu thơ " Li khách ! Li khách! Còn đường nhỏ"

Thời gian : Buổi chiều hoặc hoàng hôn được thể hiện qua các hình ảnh "Bóng chiều không thắm, không vàng vọt "và "đầy hoàng hôn trong mắt trong"

Nhân vật trữ tình trong bài thơ là : Ta