Trần Thị Thu Minh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trần Thị Thu Minh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)
Để cây ăn quả cho năng suất cao và chất lượng tốt, người trồng cần thực hiện đồng bộ các kĩ thuật chăm sóc sau đây: 1. Làm cỏ, vun xới
  • Mục đích: Diệt trừ cỏ dại tranh chấp dinh dưỡng và nơi trú ngụ của sâu bệnh; giúp đất tơi xốp, thoáng khí, tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển mạnh.
  • Cách làm: Thường thực hiện kết hợp với các đợt bón phân.
2. Bón phân thúc
  • Mục đích: Cung cấp đầy đủ các nguyên tố đa lượng ( N,P,K𝑁,𝑃,𝐾) và vi lượng cần thiết cho từng giai đoạn sinh trưởng (ra lá, ra hoa, nuôi quả).
  • Cách làm: Bón phân theo hình chiếu của tán cây vì đây là nơi tập trung nhiều rễ tơ hút dinh dưỡng nhất.
3. Tưới nước và tiêu nước
  • Tưới nước: Cần cung cấp đủ nước, đặc biệt là vào thời kì cây ra hoa và kết quả để quả không bị rụng hoặc nhỏ.
  • Tiêu nước: Đảm bảo thoát nước tốt trong mùa mưa để tránh thối rễ, ngập úng.
4. Tạo hình, tỉa cành
  • Mục đích: Giúp cây có bộ khung tán cân đối, đủ ánh sáng len lỏi vào bên trong tán, loại bỏ cành già, cành bị sâu bệnh.
  • Cách làm: Cắt tỉa những cành mọc vượt, cành bị che khuất để tập trung chất dinh dưỡng nuôi quả.
5. Phòng trừ sâu, bệnh
  • Mục đích: Bảo vệ bộ lá và quả khỏi sự tấn công của các loại sâu (sâu vẽ bùa, sâu đục quả...) và bệnh (thối rễ, phấn trắng, loét...).
  • Cách làm: Áp dụng phương pháp Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), ưu tiên các biện pháp sinh học và chỉ dùng thuốc hóa học khi thực sự cần thiết.
6. Xử lý ra hoa và bảo vệ quả
  • Mục đích: Điều khiển cây ra hoa theo ý muốn (trái vụ) và bảo vệ quả không bị rám nắng, chim thú hay côn trùng châm chích.
  • Cách làm: Sử dụng các biện pháp khoanh vỏ, phun kích thích hoặc bao quả bằng túi chuyên dụng.
Để cây ăn quả cho năng suất cao và chất lượng tốt, người trồng cần thực hiện đồng bộ các kĩ thuật chăm sóc sau đây: 1. Làm cỏ, vun xới
  • Mục đích: Diệt trừ cỏ dại tranh chấp dinh dưỡng và nơi trú ngụ của sâu bệnh; giúp đất tơi xốp, thoáng khí, tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển mạnh.
  • Cách làm: Thường thực hiện kết hợp với các đợt bón phân.
2. Bón phân thúc
  • Mục đích: Cung cấp đầy đủ các nguyên tố đa lượng ( N,P,K𝑁,𝑃,𝐾) và vi lượng cần thiết cho từng giai đoạn sinh trưởng (ra lá, ra hoa, nuôi quả).
  • Cách làm: Bón phân theo hình chiếu của tán cây vì đây là nơi tập trung nhiều rễ tơ hút dinh dưỡng nhất.
3. Tưới nước và tiêu nước
  • Tưới nước: Cần cung cấp đủ nước, đặc biệt là vào thời kì cây ra hoa và kết quả để quả không bị rụng hoặc nhỏ.
  • Tiêu nước: Đảm bảo thoát nước tốt trong mùa mưa để tránh thối rễ, ngập úng.
4. Tạo hình, tỉa cành
  • Mục đích: Giúp cây có bộ khung tán cân đối, đủ ánh sáng len lỏi vào bên trong tán, loại bỏ cành già, cành bị sâu bệnh.
  • Cách làm: Cắt tỉa những cành mọc vượt, cành bị che khuất để tập trung chất dinh dưỡng nuôi quả.
5. Phòng trừ sâu, bệnh
  • Mục đích: Bảo vệ bộ lá và quả khỏi sự tấn công của các loại sâu (sâu vẽ bùa, sâu đục quả...) và bệnh (thối rễ, phấn trắng, loét...).
  • Cách làm: Áp dụng phương pháp Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), ưu tiên các biện pháp sinh học và chỉ dùng thuốc hóa học khi thực sự cần thiết.
6. Xử lý ra hoa và bảo vệ quả
  • Mục đích: Điều khiển cây ra hoa theo ý muốn (trái vụ) và bảo vệ quả không bị rám nắng, chim thú hay côn trùng châm chích.
  • Cách làm: Sử dụng các biện pháp khoanh vỏ, phun kích thích hoặc bao quả bằng túi chuyên dụng.
Để cây ăn quả cho năng suất cao và chất lượng tốt, người trồng cần thực hiện đồng bộ các kĩ thuật chăm sóc sau đây: 1. Làm cỏ, vun xới
  • Mục đích: Diệt trừ cỏ dại tranh chấp dinh dưỡng và nơi trú ngụ của sâu bệnh; giúp đất tơi xốp, thoáng khí, tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển mạnh.
  • Cách làm: Thường thực hiện kết hợp với các đợt bón phân.
2. Bón phân thúc
  • Mục đích: Cung cấp đầy đủ các nguyên tố đa lượng ( N,P,K𝑁,𝑃,𝐾) và vi lượng cần thiết cho từng giai đoạn sinh trưởng (ra lá, ra hoa, nuôi quả).
  • Cách làm: Bón phân theo hình chiếu của tán cây vì đây là nơi tập trung nhiều rễ tơ hút dinh dưỡng nhất.
3. Tưới nước và tiêu nước
  • Tưới nước: Cần cung cấp đủ nước, đặc biệt là vào thời kì cây ra hoa và kết quả để quả không bị rụng hoặc nhỏ.
  • Tiêu nước: Đảm bảo thoát nước tốt trong mùa mưa để tránh thối rễ, ngập úng.
4. Tạo hình, tỉa cành
  • Mục đích: Giúp cây có bộ khung tán cân đối, đủ ánh sáng len lỏi vào bên trong tán, loại bỏ cành già, cành bị sâu bệnh.
  • Cách làm: Cắt tỉa những cành mọc vượt, cành bị che khuất để tập trung chất dinh dưỡng nuôi quả.
5. Phòng trừ sâu, bệnh
  • Mục đích: Bảo vệ bộ lá và quả khỏi sự tấn công của các loại sâu (sâu vẽ bùa, sâu đục quả...) và bệnh (thối rễ, phấn trắng, loét...).
  • Cách làm: Áp dụng phương pháp Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), ưu tiên các biện pháp sinh học và chỉ dùng thuốc hóa học khi thực sự cần thiết.
6. Xử lý ra hoa và bảo vệ quả
  • Mục đích: Điều khiển cây ra hoa theo ý muốn (trái vụ) và bảo vệ quả không bị rám nắng, chim thú hay côn trùng châm chích.
  • Cách làm: Sử dụng các biện pháp khoanh vỏ, phun kích thích hoặc bao quả bằng túi chuyên dụng.
Để cây ăn quả cho năng suất cao và chất lượng tốt, người trồng cần thực hiện đồng bộ các kĩ thuật chăm sóc sau đây: 1. Làm cỏ, vun xới
  • Mục đích: Diệt trừ cỏ dại tranh chấp dinh dưỡng và nơi trú ngụ của sâu bệnh; giúp đất tơi xốp, thoáng khí, tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển mạnh.
  • Cách làm: Thường thực hiện kết hợp với các đợt bón phân.
2. Bón phân thúc
  • Mục đích: Cung cấp đầy đủ các nguyên tố đa lượng ( N,P,K𝑁,𝑃,𝐾) và vi lượng cần thiết cho từng giai đoạn sinh trưởng (ra lá, ra hoa, nuôi quả).
  • Cách làm: Bón phân theo hình chiếu của tán cây vì đây là nơi tập trung nhiều rễ tơ hút dinh dưỡng nhất.
3. Tưới nước và tiêu nước
  • Tưới nước: Cần cung cấp đủ nước, đặc biệt là vào thời kì cây ra hoa và kết quả để quả không bị rụng hoặc nhỏ.
  • Tiêu nước: Đảm bảo thoát nước tốt trong mùa mưa để tránh thối rễ, ngập úng.
4. Tạo hình, tỉa cành
  • Mục đích: Giúp cây có bộ khung tán cân đối, đủ ánh sáng len lỏi vào bên trong tán, loại bỏ cành già, cành bị sâu bệnh.
  • Cách làm: Cắt tỉa những cành mọc vượt, cành bị che khuất để tập trung chất dinh dưỡng nuôi quả.
5. Phòng trừ sâu, bệnh
  • Mục đích: Bảo vệ bộ lá và quả khỏi sự tấn công của các loại sâu (sâu vẽ bùa, sâu đục quả...) và bệnh (thối rễ, phấn trắng, loét...).
  • Cách làm: Áp dụng phương pháp Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), ưu tiên các biện pháp sinh học và chỉ dùng thuốc hóa học khi thực sự cần thiết.
6. Xử lý ra hoa và bảo vệ quả
  • Mục đích: Điều khiển cây ra hoa theo ý muốn (trái vụ) và bảo vệ quả không bị rám nắng, chim thú hay côn trùng châm chích.
  • Cách làm: Sử dụng các biện pháp khoanh vỏ, phun kích thích hoặc bao quả bằng túi chuyên dụng.
  • Ưu điểm:
    • Tỉ lệ sống cao hơn: Do cành chiết vẫn nhận được nước và chất dinh dưỡng từ cây mẹ trong quá trình ra rễ, nên ít bị héo hay chết như cành giâm (vốn bị cắt rời hoàn toàn).
    • Áp dụng được cho nhiều loại cây: Nhiều loại cây thân gỗ khó ra rễ bằng cách giâm cành nhưng lại dễ dàng thành công với chiết cành.
  • Nhược điểm:
    • Hệ số nhân giống thấp: Mỗi lần chiết chỉ được một vài cành, trong khi giâm cành có thể tạo ra hàng loạt cây con từ một cành mẹ lớn.
    • Tốn công sức và thời gian: Quy trình chiết (khoanh vỏ, bó bầu) phức tạp và mất thời gian chăm sóc trên cây mẹ hơn là cắt giâm vào khay.
    • Ảnh hưởng cây mẹ: Nếu chiết quá nhiều cành cùng lúc có thể làm suy yếu cây mẹ.
2. So với phương pháp Ghép cành
  • Ưu điểm:
    • Kỹ thuật đơn giản hơn: Chiết cành dễ thực hiện, không đòi hỏi sự tỉ mỉ và độ chính xác cực cao trong việc khớp các mô giữa mắt ghép và gốc ghép như phương pháp ghép.
    • Giữ nguyên đặc tính 100%: Cây chiết là "bản sao" hoàn chỉnh của cây mẹ. Trong khi cây ghép là sự kết hợp giữa phần trên (ưu điểm quả/hoa) và gốc ghép (ưu điểm chống chịu), đôi khi có sự không tương thích giữa hai phần này.
  • Nhược điểm:
    • Bộ rễ yếu hơn: Cây chiết thường có bộ rễ nông, phát triển ngang nên dễ bị đổ ngã khi gặp gió bão. Cây ghép sử dụng gốc ghép từ hạt (rễ cọc) nên bám đất rất chắc và khỏe.
    • Tuổi thọ thường thấp hơn: So với cây ghép có gốc ghép khỏe mạnh, cây chiết cành thường có tuổi thọ ngắn hơn và sức chống chịu với điều kiện khắc nghiệt của đất (phèn, mặn, sâu bệnh vùng rễ) kém hơn.
Việc này giúp:
  • Phát hiện sớm các dấu hiệu của sâu bệnh, từ đó có biện pháp xử lý kịp thời, ngăn chặn sự lây lan và bùng phát trên diện rộng. 
  • Bảo vệ sức khỏe và sự phát triển bình thường của cây, tránh thiệt hại về năng suất và chất lượng quả. 
  • Giảm thiểu việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, góp phần tạo ra sản phẩm an toàn, thân thiện với môi trường và sức khỏe con người. 
  • Tiết kiệm chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế cho người trồng trọt.
  • Ưu điểm:
    • Giữ nguyên các đặc tính di truyền tốt của giống cây mẹ. 
    • Cây cho ra hoa, kết quả sớm hơn so với trồng bằng hạt. 
    • Tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, thích nghi với điều kiện đất đai, khí hậu khắc nghiệt (nhờ gốc ghép khỏe). 
    • Có thể tạo ra nhiều giống cây trên cùng một gốc ghép. 
  • Nhược điểm:
    • Đòi hỏi người thực hiện phải có kỹ thuật cao và kinh nghiệm. 
    • Hệ số nhân giống không cao, tốn nhiều công sức và thời gian chuẩn bị gốc ghép. 
    • Cây ghép có thể bị thoái hóa giống nếu chọn lọc không kỹ lưỡng hoặc không chăm sóc đúng cách. 
    • Không áp dụng được cho tất cả các loại cây trồng. 

Một nỗi nhớ ám ảnh đến vậy không thể không can thiệp sâu vào tổ chức thi phẩm. Có thể thấy cấu trúc ở đây chính là cấu trúc của nỗi nhớ. Tuy được viết theo điệu hành, kiểu cổ phong, nhưng mạch thơ chính là mạch nhớ. Một mạch nhớ rất Tây Tiến. Nghĩa là có tuân theo thời gian, nhưng thời gian không điều hành tất cả, có tuân theo lộ trình, nhưng lộ trình cũng không độc quyền trói buộc, có tuân theo cung bậc cao dần của cảm xúc, nhưng cũng không phải hối hả một lèo. Người đọc vẫn có thể lần theo tuyến thời gian, lần theo lộ trình hành binh nào đó của bước chân Tây Tiến. Nhưng mạch thơ chủ yếu là sự đan dệt kỉ niệm, với những sực nhớ miên man, nhưng vụt hiện bất chợt, mà trong đó các địa danh có khi chỉ hiện thoáng một dòng tên, có khi là một điểm nhấn nào đó của kỉ niệm. Còn kỉ niệm bao giờ cũng chan hòa cảnh với người, cũng song hành và đan xen cả hai mạch: vừa gian khổ hào hùng, vừa thơ mộng hào hoa. Ví như: "Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi/ Mường Lát hoa về trong đêm hơi". Bởi cái tôi Tây Tiến vừa kiêu hùng vừa nghệ sĩ, nên mỗi kỉ niệm muốn được lưu trong tâm hồn ấy cũng phải hòa hợp được cả hai nét lãng mạn kia.

Một nỗi nhớ ám ảnh đến vậy không thể không can thiệp sâu vào tổ chức thi phẩm. Có thể thấy cấu trúc ở đây chính là cấu trúc của nỗi nhớ. Tuy được viết theo điệu hành, kiểu cổ phong, nhưng mạch thơ chính là mạch nhớ. Một mạch nhớ rất Tây Tiến. Nghĩa là có tuân theo thời gian, nhưng thời gian không điều hành tất cả, có tuân theo lộ trình, nhưng lộ trình cũng không độc quyền trói buộc, có tuân theo cung bậc cao dần của cảm xúc, nhưng cũng không phải hối hả một lèo. Người đọc vẫn có thể lần theo tuyến thời gian, lần theo lộ trình hành binh nào đó của bước chân Tây Tiến. Nhưng mạch thơ chủ yếu là sự đan dệt kỉ niệm, với những sực nhớ miên man, nhưng vụt hiện bất chợt, mà trong đó các địa danh có khi chỉ hiện thoáng một dòng tên, có khi là một điểm nhấn nào đó của kỉ niệm. Còn kỉ niệm bao giờ cũng chan hòa cảnh với người, cũng song hành và đan xen cả hai mạch: vừa gian khổ hào hùng, vừa thơ mộng hào hoa. Ví như: "Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi/ Mường Lát hoa về trong đêm hơi". Bởi cái tôi Tây Tiến vừa kiêu hùng vừa nghệ sĩ, nên mỗi kỉ niệm muốn được lưu trong tâm hồn ấy cũng phải hòa hợp được cả hai nét lãng mạn kia.