Băng Di
Giới thiệu về bản thân
Biểu hiện:
- Gà sốt cao, uống nhiều nước, mào thâm tím, viêm sưng phù đầu mặt.
- Khó thở, há mỏ để thở.
- Tiêu chảy phân xanh, phân vàng đôi khi lẫn máu.
- Xuất huyết da chân.
Nguyên nhân: do virus cúm gia cầm gây ra.
Phòng, trị bệnh:
- Bệnh hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu.
- Sử dụng kháng sinh là biện pháp hữu hiệu nhất để phòng bệnh.
- Không ăn, giết mổ gia cầm mắc bệnh, chết và không rõ nguồn gốc.
- Khi phát hiện gà mắc bệnh thì phải báo ngay cho cán bộ thú y, chính quyền địa phương để tiêu hủy, thực hiện các biện pháp phòng dịch.
Những chí phí cần thiết cần chuẩn bị:
- Con giống
- Lồng nuôi
- Thức ăn
- Thuốc phòng, trị bệnh.
- Dụng cụ chăn nuôi (máng ăn, máng uống, bồn tắm).
Biểu hiện: gà thường bỏ ăn, buồn rầu, sã cánh, ngoẹo cổ, diều nhão, uống nhiều nước, chảy nước dãi, phân trắng, gầy nhanh.
Nguyên nhân: do virus gây ra và lây lan mạnh (chủ yếu qua đường tiêu hóa, tuy nhiên bệnh cũng có thể lây qua dụng cụ chăn nuôi).
Phòng, trị bệnh:
- Bệnh hiện nay vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu.
- Phòng bệnh bằng cách tiêm vaccine là chủ yếu.
- Khi gà đã bị bệnh thì hầu như không thể hữa được vì vậy người chăn nuôi cần thực hiện các biện pháp phòng bệnh, tiêm vaccine định kì và đúng theo quy định.
- Khi thấy gà có các dấu hiệu bị bệnh, cần thông báo cho cơ quan địa phương, cơ sở y tế để có các biện pháp cách ly, xử lí tránh lây lan bệnh.
Những chí phí cần thiết cần chuẩn bị:
- Con giống
- Chuồng nuôi
- Thức ăn
- Thuốc thú y
- Dụng cụ chăn nuôi
Biểu hiện: ăn ít, ủ rũ, phân lỏng, có màu xanh hay trắng.
Nguyên nhân: do gà bị nhiễm khuẩn từ thức ăn, nước uống hay từ môi trường.
Phòng, trị bệnh:
- Luôn cho gà ăn thức ăn sạch.
- Thường xuyên vệ sinh chuồng nuôi.
- Hàng ngày cần vệ sinh máng ăn, máng uống.
- Khi gà có các biểu hiện trên, cần nhanh chóng liên hệ với cán bộ thú y để có các biện pháp điều trị kịp thời.
| Mô phân sinh đỉnh | Mô phân sinh bên |
Vị trí | Đỉnh rễ và các chồi thân | Nằm giữa mạch gỗ và mạch rây |
Vai trò | Giúp thân, cành, rễ tăng về chiều dài | Giúp thân, cành, rễ tăng về chiều ngang |
- Dùng tên "cúng cơm" của chủ nhà hoặc tên con (ví dụ: phở Phúc, phở Lộc, phở Tư...).
- Dùng đặc điểm khiếm khuyết, tật nguyền trên thân thể người bán làm tên hiệu (ví dụ: phở Gù, phở Lắp, phở Sứt...).
- Các phương diện: Thời điểm thưởng thức (mọi lúc), giá trị đối với sức khỏe và cảm giác theo mùa (mùa nắng, mùa đông), quy luật đặt tên hiệu và sự gắn bó của phở với đời sống văn hóa, con người Hà Nội.
- Nhận xét: Tác giả có cái nhìn vô cùng tinh tế, sâu sắc và đầy trân trọng. Với Nguyễn Tuân, phở không chỉ là một món ăn để no bụng mà là một tác phẩm nghệ thuật, một thực thể sống động gắn liền với số phận con người và bản sắc văn hóa dân tộc.
- Đề tài: Ẩm thực (Món phở Hà Nội).
- Chủ đề: Ngợi ca hương vị đặc sắc, sự phổ biến và giá trị văn hóa, tinh thần của món phở đối với đời sống con người, qua đó thể hiện tình yêu thiết tha với những nét đẹp truyền thống của quê hương.
- Sự trân trọng, nâng niu và niềm tự hào sâu sắc về một món ăn truyền thống mang đậm quốc hồn quốc túy.
- Sự gắn bó mật thiết, nỗi niềm hoài cổ và tình yêu tha thiết dành cho Hà Nội "ngàn năm văn vật".
- Sự thấu cảm, sẻ chia với những giá trị bình dị và những con người lao động gắn liền với món ăn này.
- Mở bài: Dẫn dắt và giới thiệu sự việc định kể (một lần em nói dối mẹ để đi chơi). Nêu cảm xúc bao trùm (hối hận, day dứt).
- Thân bài:
- bài làm: