Nguyễn Thanh Vân
Giới thiệu về bản thân
Hồ Xuân Hương là một trong những nữ sĩ tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam, nổi tiếng với phong cách thơ Nôm độc đáo, giọng điệu trào phúng sắc sảo và cá tính mạnh mẽ. Thơ bà thường thể hiện tiếng nói phản kháng của người phụ nữ trước những bất công của xã hội phong kiến, đồng thời khẳng định giá trị, phẩm chất và khát vọng sống của con người cá nhân. Bài thơ “Đề đền Sầm Nghi Đống” là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy. Qua việc mỉa mai, đả kích một viên tướng xâm lược bất tài, bài thơ không chỉ bộc lộ thái độ khinh bỉ đối với kẻ thù mà còn thể hiện rõ ý thức tự tôn dân tộc và khát vọng bình đẳng nam – nữ của tác giả.
Sầm Nghi Đống là một tướng trong đội quân xâm lược nhà Thanh do Tôn Sĩ Nghị thống lĩnh sang đánh nước ta. Mùa xuân 1789, khi vua Quang Trung tiến quân vào Thăng Long, sầm Nghi Đống đang trấn thủ ở đồn Ngọc Hồi bị đánh tan tành. Y đã treo cổ tự tử, kết thúc đời làm tướng của mình. Thể theo nguyện vọng của Hoa kiều, và truyền thống nhân đạo của dân tộc ta, vua Quãng Trung cho phép lập một đền thờ. Trước khi chết, hẳn viên tướng họ Sầm không ngờ rằng mấy chục năm sau có một người phụ nữ Việt Nam đã ngạo mạn đề vào đền mấy câu thơ sau:
Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo
Kìa đền Thái thú đứng cheo leo
Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiễu.
Bài thơ không những thể hiện cái nhìn khinh rẻ một viên tướng xâm lược, mà còn nói lên khát vọng của bản thân tác giả và phụ nữ nói chung về sự bình đẳng nam nữ.
Hai câu đầu của bài thơ nói về ngôi đền. Đền là một nơi để thờ, lễ bái thành kính. Nhưng ở đây nhà thơ tỏ ra mình không hề có ý định đến vãn cảnh, càng không phải để lễ đền. Vì một lí do nào tình cờ bà đi ngang và tiện thể nhìn qua:
Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo.
“Ghé mắt” nghĩa là không phải quay sang để nhìn cho rõ mà chỉ là nhìn nghiêng, nhìn chéo, có thể chỉ “liếc” qua. Đã “ghé mắt” lại “trông ngang”! Trông ngang vì nó chỉ ngang tầm với mình thôi mặc dù đó la “viên tướng”. Nhờ cái bảng treo, nữ sĩ mới biết đây là đền của “Thái thú”. Cách nhìn, cách thấy của Hồ Xuân Hương tỏ ra khinh thị, ngạo mạn. Ngôi đền dưới con mắt của Hồ Xuân Hương tiếp tục hiện ra với những nhận xét thật độc đáo:
Kìa đền Thái thú đứng cheo leo.
Nhà thơ có vẻ ngạc nhiên: “Kìa”. Hóa ra đó là đền sầm Nghi Đống, quan Thái thú xâm lược. Ngôi đền được xây trên cao, nhưng nó chẳng tạo ra được sự uy nghi, hùng vĩ đối với nữ sĩ, không thể khiến bà đứng ngước lên một cách kính cẩn mà bà chỉ thấy nó “đứng cheo leo”. Câu thơ đem đến cho người đọc cảm giác ngôi đền đó chẳng có gì vững chãi, đàng hoàng. Chữ “kìa” đầu câu, còn nói lên điều kinh ngạc của nhà thơ: đối với con người này, tại sao lại lập đền thờ? Tại sao lại biến ông ta thành “thần thánh’? Thực ra ở y có gì đáng để thờ như vậy đâu!... Tiếp đến hai câu sau, Hồ Xuân Hương không còn úp mở gì nữa và tỏ rõ thái độ “khinh ra mặt”:
Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu.
Đem chính mình ra so sánh với một ông thần là một điều “báng bổ bất kính”, nhưng còn coi mình hơn ông thần ấy thì sự bất kính lên đến đỉnh cao. Đại từ ngôi thứ nhất “đây” thường chỉ dùng để xưng hô trong trường hợp những người ngang hàng, hoặc là thân mật hoặc là coi thường. Đối với những người được thờ cúng coi như thánh, thần mà xưng như thế thì rất “xược”. Ý thơ thật là độc đáo và táo bạo! Nhà thơ đã lột trần chân tướng và giá trị thật của sầm Nghi Đống rằng hắn không đáng măt nam nhi! Chưa cần nói đến tội xâm lược mà ngay việc cầm quân, hẩn cũng tỏ ra không đủ tài, đủ sức chỉ huy, đến nỗi quân sĩ bị đối phương đánh tan tác, cuối cùng phải treo cổ tự tử cho khỏi nhục! Kẻ “anh hùng” đã tùng ra trận mạc đang được thờ trong đền kia thực ra còn không có tài không bằng một người đàn bà! Chỉ can dùng cụm từ “há bấy nhiêu”, Hồ Xuân Hương đã chỉ ra sự nghiệp một đời của “quan Thái thú” thảm hại đến nhường nào.
Với bốn câu thơ, Hồ Xuân Hương đã hạ bệ được một ông thần gọn gàng, duyên dáng mà cũng đanh đá, nghịch ngợm làm sao!
Hồ Xuân Hương luôn tự ý thức được tài năng, phẩm chất, giá trị của mình, ngay trong thái độ đối với các bậc mày râu. Với phong cách trào phúng, bà đã phê phán sự bất tài, sự kém cỏi của các bậc tự xưng là “quân tử”, “anh hùng”. Giá trị tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ nằm ở chỗ, nó không dừng ở việc đánh giá, chê bai một viên tướng giăc mà nhà thơ muốn nói lên một tâm sự bức thiết hơn: khát vọng bình đắng nam và nữ.Không chỉ dừng lại ở việc bày tỏ thái độ khinh bỉ đối với một viên tướng xâm lược bất tài, bài thơ Đề đền Sầm Nghi Đống còn là tiếng nói mạnh mẽ khẳng định giá trị của con người cá nhân, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Qua giọng thơ trào phúng, sắc sảo mà đầy ngạo nghễ, Hồ Xuân Hương đã phá vỡ quan niệm trọng nam khinh nữ vốn ăn sâu trong tư tưởng đương thời. Bà dám đặt mình – một người phụ nữ – lên bàn cân so sánh với kẻ được tôn thờ như “thần thánh”, từ đó lật tẩy sự giả tạo của danh xưng “anh hùng”. Thái độ ấy thể hiện bản lĩnh cá nhân mạnh mẽ, ý thức sâu sắc về tài năng và phẩm giá của bản thân.
Về nghệ thuật, bài thơ gây ấn tượng bởi ngôn ngữ Nôm giản dị mà giàu sức biểu đạt, giọng điệu mỉa mai, đanh đá nhưng vẫn duyên dáng, thông minh. Cách dùng từ như “ghé mắt”, “trông ngang”, “đứng cheo leo”, “há bấy nhiêu” vừa gợi hình vừa hàm chứa ý nghĩa phê phán sâu cay. Kết cấu bài thơ chặt chẽ, ý thơ phát triển tự nhiên từ quan sát đến bình luận, từ giễu cợt đến khẳng định tư tưởng. Chính sự kết hợp hài hòa giữa nội dung nhân văn tiến bộ và nghệ thuật trào phúng độc đáo đã làm nên sức sống bền lâu của tác phẩm. Đề đền Sầm Nghi Đống xứng đáng là một trong những bài thơ tiêu biểu thể hiện tài năng và cá tính của “Bà chúa thơ Nôm” Hồ Xuân Hương.
Đề đền Sầm Nghi Đống là một bài thơ độc đáo không chỉ vì giá trị tư tưởng và cách đặt vấn đề táo bạo của nó, mà còn vì nghệ thuật thơ xuất sắc... Bài thơ này xứng là thơ của “bà chúa thơ Nôm”. Cách sử dụng từ thuần Việt, sắc sảo, sinh động, có sức gợi tả sâu sắc, kết cấu chặt chẽ, đầy kịch tính, gây nhiều hứng thú cho người đọc.
Tôi cho rằng tiếng cười không chỉ là cảm xúc giải trí nhất thời mà còn là một thứ vũ khí tinh thần đặc biệt sắc bén. Trong đời sống cũng như trong văn học, tiếng cười mang tính châm biếm, trào phúng có khả năng vạch trần những thói hư tật xấu, những biểu hiện giả dối, lạc hậu và những điều chưa hay, chưa đẹp tồn tại trong con người và xã hội. Không cần đến những lời phê phán nặng nề hay sự cưỡng ép, tiếng cười vẫn đủ sức khiến con người phải giật mình, xấu hổ và tự suy ngẫm để nhìn lại chính mình. Chính sự nhẹ nhàng nhưng sâu cay ấy làm cho tiếng cười trở nên dễ tiếp nhận, thấm thía và có sức tác động lâu dài. Hơn nữa, tiếng cười còn giúp giải tỏa căng thẳng, tạo nên bầu không khí cởi mở, giúp con người tiếp nhận sự phê bình một cách tự nhiên hơn. Nhờ đó, tiếng cười không chỉ mang lại niềm vui mà còn góp phần thanh lọc đời sống tinh thần, định hướng con người đến những giá trị tốt đẹp, nhân văn và tiến bộ của xã hội.
Từ “thiếu phụ” trong câu:
“Chợt một thiếu phụ bước vào với một đứa bé độ chín, mười tháng tuổi trên tay và một chú mèo con.”
có sắc thái nghĩa như sau:
- Chỉ người phụ nữ đã có chồng, thường còn trẻ, đang ở độ tuổi trung niên sớm.
- Mang sắc thái trang trọng, nhã nhặn, có phần cổ điển, khác với các từ thông dụng như người đàn bà, phụ nữ.
- Gợi lên hình ảnh người phụ nữ đã làm mẹ, có đời sống gia đình, tạo cảm giác chín chắn, đằm thắm.
Như vậy, việc dùng từ “thiếu phụ” không chỉ để xác định giới tính, độ tuổi mà còn giúp câu văn tăng tính gợi hình, gợi cảm, phù hợp với văn phong miêu tả.
BÀI 1: ĐỀN HÙNG
Sáng hôm ấy, mặt trời vừa ló dạng sau rặng núi, chiếu những tia nắng đầu tiên xuống sân trường rợp bóng cây xanh. Tiếng chim hót ríu ran trên hàng phượng vĩ như khúc nhạc mở đầu cho một ngày đầy hứng khởi. Tôi bước chân vào cổng trường, lòng rộn ràng lạ thường. Hôm nay, lớp tôi sẽ cùng nhau tham gia chuyến tham quan về nguồn tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng – Phú Thọ, nơi linh thiêng ghi dấu bao giá trị tinh thần, là biểu tượng cho truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam.
Ngay từ khi nghe cô giáo thông báo kế hoạch, tôi đã háo hức đếm từng ngày. Đền Hùng – cái tên đã đi vào tâm thức người Việt từ thuở còn nằm trong nôi qua lời mẹ ru, qua những trang sách kể chuyện Vua Hùng dựng nước, qua những câu ca dao, truyền thuyết mà mỗi học sinh chúng tôi đều thuộc nằm lòng. Vậy mà hôm nay, tôi lại có cơ hội thật sự được đặt chân đến mảnh đất thiêng ấy, nơi từng được Bác Hồ căn dặn:
“Các Vua Hùng đã có công dựng nước,
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.”
Chiếc xe bắt đầu lăn bánh rời khỏi cổng trường, mang theo tiếng nói cười rộn rã của chúng tôi. Con đường từ thành phố hướng về Phú Thọ hiện ra thật nên thơ. Qua ô cửa kính, tôi ngắm nhìn những cánh đồng lúa xanh mướt đang vào mùa trổ đòng, từng giọt sương sớm còn đọng trên lá, lấp lánh dưới nắng vàng. Xa xa, dãy núi Hùng sừng sững hiện ra trong làn sương mỏng, vừa hùng vĩ vừa linh thiêng như đang đón chào những đứa con trở về thăm cha ông. Càng đến gần, trái tim tôi càng rộn ràng, xen lẫn niềm tự hào và xúc động.
Đến nơi, chúng tôi được chào đón bằng làn gió nhẹ mang theo hương thơm dìu dịu của hoa rừng và mùi trầm hương thoang thoảng. Khu di tích Đền Hùng hiện lên giữa màu xanh ngút ngàn của núi Nghĩa Lĩnh – ngọn núi được xem là nơi hội tụ linh khí đất trời, là cội nguồn của dân tộc Việt. Từ chân núi, con đường dẫn lên đền được lát đá ong cổ kính, hai bên là hàng cây cổ thụ tỏa bóng râm mát. Dưới tán lá, những tia nắng vàng đan xen, tạo thành những vệt sáng lung linh như dát vàng lên từng bước chân.
Chúng tôi xếp hàng ngay ngắn, theo chân cô giáo và chú hướng dẫn viên. Chú kể rằng: “Khu di tích Đền Hùng có bốn ngôi đền chính và một lăng vua Hùng, được xây dựng qua nhiều thời kỳ. Mỗi viên đá, mỗi mái ngói đều là chứng nhân cho lòng tôn kính của người Việt đối với tổ tiên.” Tôi lắng nghe mà thấy lòng mình dâng lên niềm tự hào khó tả. Từng lời kể của chú như thổi bừng lên hình ảnh của những ngày xa xưa – thuở các vua Hùng dựng nước Văn Lang, những cánh đồng lúa đầu tiên được khai khẩn, những con người Việt đầu tiên chung sức xây dựng quê hương.
Bước chân lên những bậc đá quanh co, tôi vừa leo vừa ngước nhìn lên đỉnh núi. Mồ hôi lấm tấm trên trán, nhưng chẳng ai than mệt. Mỗi bậc đá như một dấu ấn của lịch sử, dẫn dắt chúng tôi đi dần về phía nguồn cội thiêng liêng. Gió từ rừng thổi về mát rượi, mang theo tiếng chim gọi nhau trên tán cây cao. Tôi thầm nghĩ: “Có lẽ bao đời nay, những hàng cây này vẫn đứng đây, lặng lẽ chứng kiến bước chân bao lớp người Việt về tri ân tổ tiên.”
Cuối cùng, chúng tôi cũng lên đến Đền Thượng – nơi thờ các vua Hùng. Trước mắt tôi là khung cảnh hùng vĩ mà trang nghiêm. Những cột gỗ lim nâu bóng, mái ngói rêu phong, khói hương nghi ngút tỏa bay, khiến lòng người tự nhiên trở nên thành kính lạ thường. Cô giáo dặn:
– Các em hãy giữ trật tự, thắp nén hương và cúi đầu tưởng niệm.
Tôi nhẹ nhàng cầm nén hương, đôi tay khẽ run run. Mùi hương trầm lan tỏa trong không gian tĩnh mịch, hòa quyện cùng tiếng gió xào xạc, tiếng chuông chùa vang vọng xa xăm. Giây phút ấy, tôi bỗng cảm nhận rõ rệt thế nào là “linh thiêng của cội nguồn dân tộc”.
Tôi nhắm mắt, tưởng tượng ra hình ảnh của Vua Hùng thứ nhất – người đã lập nên nước Văn Lang, cùng bao thế hệ con cháu nối tiếp xây dựng đất nước. Từ dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa, từ những thửa ruộng bậc thang nơi miền sơn cước, từ những mái đình làng cổ kính, tất cả đều bắt đầu từ nền móng của các vua Hùng. Tôi hiểu rằng, mỗi chúng ta – những người con của đất Việt – đều mang trong mình dòng máu ấy, dòng máu của cội nguồn kiêu hãnh.
Sau khi dâng hương, chúng tôi được nghe chú hướng dẫn kể lại truyền thuyết “Bánh chưng, bánh giầy” và “Sơn Tinh – Thủy Tinh”. Giọng kể của chú trầm ấm, đầy cảm xúc. Mỗi câu chuyện như khắc sâu hơn niềm tin vào sự sáng tạo, lòng hiếu thảo và tinh thần đoàn kết của dân tộc. Tôi chợt nhận ra rằng, những truyền thuyết tưởng chừng giản dị ấy chính là những bài học sâu sắc về đạo làm người, về lòng biết ơn, về ý chí vượt qua thử thách – những giá trị vẫn còn nguyên vẹn đến hôm nay.
Buổi trưa, chúng tôi nghỉ dưới tán cây đại thụ bên lối lên đền. Gió thổi mát rượi, tiếng ve kêu râm ran như bản hòa tấu mùa hè. Tôi mở hộp cơm mẹ chuẩn bị, cảm nhận vị mặn của muối vừng và hương thơm của cơm trắng. Bỗng thấy lòng mình lạ quá – bình yên, giản dị mà sâu sắc. Tôi nghĩ về những người xưa, cũng từng ngồi nghỉ chân dưới những bóng cây như thế này, cũng ngước nhìn lên đỉnh Nghĩa Lĩnh và nhớ về nguồn cội. Giữa không gian linh thiêng ấy, từng hơi thở cũng trở nên thiêng liêng hơn.
Buổi chiều, chúng tôi ghé thăm Đền Giếng, nơi tương truyền hai nàng công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa thường soi gương chải tóc. Nước giếng trong vắt, long lanh như ánh mắt của thời gian. Tôi cúi xuống, soi bóng mình trên mặt nước, thấy gương mặt phản chiếu trong làn sóng gợn nhẹ. Bỗng nhiên, tôi mỉm cười – một nụ cười của niềm tự hào và biết ơn. Tôi đang đứng ở nơi mà hàng nghìn năm trước, tổ tiên tôi từng sống, từng thở, từng gửi gắm niềm tin về tương lai.
Trước khi ra về, chúng tôi tập trung dưới chân núi, lắng nghe cô giáo chia sẻ:
– Các em ạ, ai trong chúng ta cũng có một cội nguồn. Dân tộc Việt Nam ta đã đi qua hàng nghìn năm lịch sử, trải qua biết bao gian nan, nhưng vẫn đứng vững bởi lòng đoàn kết và lòng biết ơn tổ tiên. Hôm nay, chúng ta về đây không chỉ để tham quan, mà để học cách trân trọng những gì mình đang có.
Lời cô nhẹ nhàng mà chạm sâu vào lòng tôi. Tôi chợt hiểu rằng, “về nguồn” không chỉ là một chuyến đi đến nơi chôn rau cắt rốn của dân tộc, mà còn là hành trình trở về với chính tâm hồn mình – để học cách yêu hơn, sống tốt hơn, và biết ơn hơn với quá khứ.
Khi xe lăn bánh rời khỏi Đền Hùng, tôi ngoái lại nhìn đỉnh Nghĩa Lĩnh đang dần xa. Mây trắng bay lững lờ trên đỉnh núi, như tấm lụa mềm quấn quanh mái đền cổ. Trong lòng tôi dâng lên một cảm xúc bồi hồi khó tả. Tiếng hát của bạn Lan vang lên khe khẽ:
“Dù ai đi ngược về xuôi,
Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba…”
Cả lớp cùng hòa theo, giọng hát vang vọng giữa không gian chiều, ngân dài trên triền núi. Tôi thấy tim mình ấm áp lạ kỳ. Tình yêu đất nước, niềm tự hào dân tộc bỗng hóa thành một ngọn lửa nhỏ, âm ỉ mà bền bỉ trong lòng. Tôi tự hứa với bản thân rằng, sẽ luôn sống xứng đáng với công lao của cha ông, sẽ học tập chăm chỉ, sẽ giữ gìn những giá trị mà thế hệ trước đã dày công vun đắp.
Đêm hôm ấy, khi trở về nhà, tôi mở cuốn sổ nhật ký và ghi dòng chữ đầu tiên:
“Hôm nay, tôi đã về với cội nguồn – nơi bắt đầu của dân tộc, nơi tôi thấy rõ hơn tình yêu đất nước trong tim mình.”
Tôi khẽ đặt bút xuống, nhìn ra ngoài cửa sổ. Ánh trăng lấp lánh phủ lên vườn cây, gió đêm thổi nhẹ, như lời thì thầm từ nghìn xưa vọng lại. Tôi bỗng thấy lòng mình bình yên, ấm áp và biết ơn vô hạn.
Chuyến đi về nguồn ấy không chỉ là một kỷ niệm đẹp của tuổi học trò, mà là một bài học sâu sắc về lòng biết ơn, về truyền thống dân tộc, và về trách nhiệm của mỗi người Việt Nam .
BÀI 2: NHÀ TÙ CÔN ĐẢO
Tôi vẫn nhớ như in buổi sáng hôm ấy — một buổi sáng trong trẻo, tràn ngập ánh nắng vàng của miền biển. Sân trường ngập tiếng cười, tiếng gọi nhau í ới. Ai nấy đều háo hức, rộn ràng chuẩn bị cho chuyến đi về nguồn đặc biệt – đến thăm Khu di tích lịch sử Nhà tù Côn Đảo, hòn đảo thiêng liêng từng được mệnh danh là “địa ngục trần gian”. Tôi đã từng nghe về nơi ấy qua sách báo, qua lời kể của thầy cô, nhưng chưa bao giờ tôi hình dung được rằng, có một ngày mình sẽ thật sự được đặt chân lên mảnh đất chứa đựng bao đau thương mà cũng thật hào hùng ấy.
Trên chuyến tàu ra đảo, biển xanh ngắt trải dài đến tận chân trời. Gió biển thổi mát rượi, mằn mặn vị muối. Tôi đứng tựa lan can, ngắm những con sóng trắng bạc nối đuôi nhau xô vào mạn tàu. Xa xa, Côn Đảo dần hiện ra giữa mênh mông sóng nước — một hòn đảo vừa hùng vĩ vừa cô liêu, như tấm bia khổng lồ khắc ghi tội ác của kẻ thù và tinh thần kiên cường của những người chiến sĩ cách mạng.
Cô giáo khẽ nói:
– Các em à, nơi chúng ta sắp đến từng là chốn giam cầm hàng vạn người con ưu tú của dân tộc. Nhưng chính từ “địa ngục trần gian” ấy, họ đã biến đau thương thành sức mạnh, biến ngục tù thành trường học của cách mạng.
Lời cô khiến tôi bỗng thấy nghèn nghẹn nơi cổ họng.
Chiếc tàu cập bến. Mặt đất dưới chân tôi vẫn còn mùi muối biển, gió lồng lộng mang theo hơi nóng của nắng phương Nam. Con đường dẫn vào khu di tích rợp bóng hàng bàng vuông cổ thụ. Những tán lá xanh mướt vươn mình che chở, dường như vẫn thì thầm kể chuyện về một thời máu lửa đã qua. Dưới chân cây, những cánh hoa bàng rơi rụng, nhỏ bé mà thắm đỏ, như vết máu thời gian còn in lại trên mảnh đất này.
Khu nhà tù Côn Đảo nằm giữa lòng đảo, bao quanh là những bức tường đá xám xịt, cao và lạnh lẽo. Bước qua cánh cổng sắt nặng nề, tôi có cảm giác như vừa đi qua một cánh cửa thời gian — trở lại những năm tháng đen tối của lịch sử. Không gian im ắng đến lạ. Gió thổi qua song sắt rít lên như tiếng than khóc, tiếng gọi hồn của bao người đã khuất.
Chú hướng dẫn viên – người sinh ra và lớn lên trên đảo – giọng chậm rãi mà trầm sâu:
– Các em đang đứng ở khu “chuồng cọp Pháp”, nơi từng giam giữ hàng nghìn tù nhân chính trị. Mỗi buồng giam chỉ rộng chừng bảy mét vuông, nhưng chứa hàng chục người. Mùa nắng thì nóng như lò than, mùa mưa lại ẩm thấp, đầy rệp muỗi.
Nghe chú nói, tôi rùng mình. Chúng tôi bước vào trong. Căn phòng tối om, mùi ẩm mốc xộc lên. Ánh sáng yếu ớt len lỏi qua những song sắt, đổ những vệt sáng mảnh như dao cắt xuống nền xi măng lạnh. Ở góc phòng, những mô hình sáp tái hiện cảnh tù nhân bị cùm tay, bị đánh đập, nằm la liệt. Tôi lặng người. Trái tim tôi co thắt lại khi tưởng tượng những con người bằng xương bằng thịt từng chịu cảnh ấy, trong tiếng roi da, tiếng xiềng xích leng keng, trong mùi máu tanh hòa lẫn với mùi ẩm mục của ngục tối.
Chú kể tiếp, giọng trầm xuống:
– Nhiều người bị tra tấn đến chết, nhưng chưa ai chịu khuất phục. Họ hát Quốc ca, hô vang “Việt Nam muôn năm!” ngay trong lúc bị hành hình. Có người lấy chính máu mình viết lời tuyên thệ lên tường đá.
Nghe đến đây, cổ họng tôi nghẹn lại. Tôi thấy trong mắt cô giáo lấp lánh nước. Bạn Lan bên cạnh khẽ nắm tay tôi, bàn tay bạn run run. Không ai nói một lời. Chỉ có tiếng gió thổi qua những song sắt và mùi trầm hương phảng phất đâu đây.
Chúng tôi tiếp tục sang khu chuồng cọp Mỹ – nơi tội ác bị đẩy đến tận cùng. Dưới ánh nắng chói chang, dãy song sắt sáng loáng, những ô cửa nhỏ bé đến đáng sợ. Tôi chạm tay lên bức tường đá thô ráp, thấy rát bỏng như có hơi người, hơi máu còn vương lại. Trên tường, vẫn còn vết khắc nguệch ngoạc bằng mảnh sành: “Sống, chiến đấu, học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại.” Dòng chữ ấy khiến tôi nghẹn ngào. Người viết nó có lẽ đã ra đi, nhưng niềm tin và lý tưởng họ gửi lại vẫn cháy sáng mãi đến hôm nay.
Sau khi tham quan, chúng tôi dừng chân tại Nghĩa trang Hàng Dương – nơi yên nghỉ của hơn hai nghìn liệt sĩ, trong đó có chị Võ Thị Sáu. Cả đoàn đi trong im lặng. Mỗi bước chân trên con đường lát đá đều vang lên như tiếng vọng của quá khứ. Không khí nơi đây vừa trang nghiêm, vừa linh thiêng. Tôi nhìn hàng hàng bia mộ xếp ngay ngắn, trắng toát trong nắng chiều mà thấy lòng mình nặng trĩu. Trước phần mộ chị Võ Thị Sáu, cô giáo và chúng tôi thắp nén hương thơm. Khói hương bay lên, quyện trong gió, nhẹ nhàng như lời tiễn biệt. Tôi khẽ cúi đầu. Trong tâm trí, hình ảnh cô gái tuổi mười bảy hiên ngang bước ra pháp trường vẫn hiện lên rực rỡ. Chị ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ, nhưng trái tim chị thì bất diệt. Tôi nghe như có tiếng hát “Biết ơn chị Võ Thị Sáu” vang lên đâu đó, tha thiết mà kiêu hùng.
Ngồi dưới tán cây bàng cổ thụ, tôi mở cuốn sổ nhỏ, ghi vài dòng:
“Ở nơi địa ngục, con người vẫn thắp lên ngọn lửa của niềm tin và tự do. Có lẽ, không gì có thể giam cầm được lòng yêu nước.”
Những câu chữ run rẩy trên giấy, nhưng trái tim tôi thì rực cháy. Tôi hiểu rằng, sự hi sinh của những người năm xưa không chỉ để đổi lấy độc lập, mà còn để gửi gắm một thông điệp: “Tự do là điều thiêng liêng nhất.”
Buổi chiều, ánh nắng nhuộm vàng những bức tường đá cũ kỹ. Biển phía xa vẫn xanh đến nao lòng, sóng vỗ rì rào như ru giấc ngủ ngàn thu cho những anh hùng đã ngã xuống. Cô giáo nói khẽ:
– Các em ạ, đất nước ta được như hôm nay là nhờ máu xương của biết bao người. Mỗi chúng ta phải sống sao cho xứng đáng với họ.
Tôi khẽ gật đầu. Một cảm xúc dâng lên trong lòng, vừa tự hào, vừa biết ơn, vừa thấy mình trưởng thành hơn bao giờ hết.
Trên đường trở về, tôi lặng im ngắm hoàng hôn buông xuống mặt biển. Mặt trời đỏ rực, chìm dần vào làn nước mênh mông. Biển vẫn dạt dào sóng vỗ, như nhịp tim của đất nước đang đập bền bỉ. Tôi thầm nghĩ: “Côn Đảo không chỉ là nỗi đau, mà còn là biểu tượng của lòng kiên cường, của niềm tin và hi vọng.”
Khi về đến đất liền, tôi ngoái nhìn lại phía xa — hòn đảo nhỏ giờ chỉ còn là một chấm mờ giữa đại dương. Nhưng trong tim tôi, hình ảnh ấy vẫn rực sáng. Tôi hiểu rằng, chuyến đi hôm nay không chỉ là một cuộc hành trình địa lý, mà còn là một chuyến đi của tâm hồn, của nhận thức, của lòng biết ơn sâu sắc.
Tối hôm đó, tôi mở cuốn nhật ký và viết:
“Tôi đã đến Côn Đảo – nơi từng là địa ngục, nhưng lại dạy tôi hiểu thế nào là thiên đường của tự do.”
Tôi khép sổ lại, lòng vẫn còn nguyên cảm xúc. Ngoài khung cửa sổ, gió đêm thổi nhè nhẹ, mùi muối biển còn phảng phất đâu đây. Tôi nhắm mắt, nghe như vang lên trong tiềm thức tiếng hát của những người tù năm xưa – âm vang kiêu hãnh của một dân tộc không bao giờ khuất phục.
Chuyến đi về nguồn ấy đã dạy tôi một bài học quý giá – bài học về lòng yêu nước, về sự hi sinh, về trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay. Từ đó, tôi thấy mình phải sống có ích hơn, phải cố gắng học tập, rèn luyện để góp phần nhỏ bé xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp, để những người đã ngã xuống nơi Côn Đảo linh thiêng có thể mỉm cười yên nghỉ trong lòng đất mẹ.
BÀI 1: ĐỀN HÙNG
Sáng hôm ấy, mặt trời vừa ló dạng sau rặng núi, chiếu những tia nắng đầu tiên xuống sân trường rợp bóng cây xanh. Tiếng chim hót ríu ran trên hàng phượng vĩ như khúc nhạc mở đầu cho một ngày đầy hứng khởi. Tôi bước chân vào cổng trường, lòng rộn ràng lạ thường. Hôm nay, lớp tôi sẽ cùng nhau tham gia chuyến tham quan về nguồn tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng – Phú Thọ, nơi linh thiêng ghi dấu bao giá trị tinh thần, là biểu tượng cho truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam.
Ngay từ khi nghe cô giáo thông báo kế hoạch, tôi đã háo hức đếm từng ngày. Đền Hùng – cái tên đã đi vào tâm thức người Việt từ thuở còn nằm trong nôi qua lời mẹ ru, qua những trang sách kể chuyện Vua Hùng dựng nước, qua những câu ca dao, truyền thuyết mà mỗi học sinh chúng tôi đều thuộc nằm lòng. Vậy mà hôm nay, tôi lại có cơ hội thật sự được đặt chân đến mảnh đất thiêng ấy, nơi từng được Bác Hồ căn dặn:
“Các Vua Hùng đã có công dựng nước,
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.”
Chiếc xe bắt đầu lăn bánh rời khỏi cổng trường, mang theo tiếng nói cười rộn rã của chúng tôi. Con đường từ thành phố hướng về Phú Thọ hiện ra thật nên thơ. Qua ô cửa kính, tôi ngắm nhìn những cánh đồng lúa xanh mướt đang vào mùa trổ đòng, từng giọt sương sớm còn đọng trên lá, lấp lánh dưới nắng vàng. Xa xa, dãy núi Hùng sừng sững hiện ra trong làn sương mỏng, vừa hùng vĩ vừa linh thiêng như đang đón chào những đứa con trở về thăm cha ông. Càng đến gần, trái tim tôi càng rộn ràng, xen lẫn niềm tự hào và xúc động.
Đến nơi, chúng tôi được chào đón bằng làn gió nhẹ mang theo hương thơm dìu dịu của hoa rừng và mùi trầm hương thoang thoảng. Khu di tích Đền Hùng hiện lên giữa màu xanh ngút ngàn của núi Nghĩa Lĩnh – ngọn núi được xem là nơi hội tụ linh khí đất trời, là cội nguồn của dân tộc Việt. Từ chân núi, con đường dẫn lên đền được lát đá ong cổ kính, hai bên là hàng cây cổ thụ tỏa bóng râm mát. Dưới tán lá, những tia nắng vàng đan xen, tạo thành những vệt sáng lung linh như dát vàng lên từng bước chân.
Chúng tôi xếp hàng ngay ngắn, theo chân cô giáo và chú hướng dẫn viên. Chú kể rằng: “Khu di tích Đền Hùng có bốn ngôi đền chính và một lăng vua Hùng, được xây dựng qua nhiều thời kỳ. Mỗi viên đá, mỗi mái ngói đều là chứng nhân cho lòng tôn kính của người Việt đối với tổ tiên.” Tôi lắng nghe mà thấy lòng mình dâng lên niềm tự hào khó tả. Từng lời kể của chú như thổi bừng lên hình ảnh của những ngày xa xưa – thuở các vua Hùng dựng nước Văn Lang, những cánh đồng lúa đầu tiên được khai khẩn, những con người Việt đầu tiên chung sức xây dựng quê hương.
Bước chân lên những bậc đá quanh co, tôi vừa leo vừa ngước nhìn lên đỉnh núi. Mồ hôi lấm tấm trên trán, nhưng chẳng ai than mệt. Mỗi bậc đá như một dấu ấn của lịch sử, dẫn dắt chúng tôi đi dần về phía nguồn cội thiêng liêng. Gió từ rừng thổi về mát rượi, mang theo tiếng chim gọi nhau trên tán cây cao. Tôi thầm nghĩ: “Có lẽ bao đời nay, những hàng cây này vẫn đứng đây, lặng lẽ chứng kiến bước chân bao lớp người Việt về tri ân tổ tiên.”
Cuối cùng, chúng tôi cũng lên đến Đền Thượng – nơi thờ các vua Hùng. Trước mắt tôi là khung cảnh hùng vĩ mà trang nghiêm. Những cột gỗ lim nâu bóng, mái ngói rêu phong, khói hương nghi ngút tỏa bay, khiến lòng người tự nhiên trở nên thành kính lạ thường. Cô giáo dặn:
– Các em hãy giữ trật tự, thắp nén hương và cúi đầu tưởng niệm.
Tôi nhẹ nhàng cầm nén hương, đôi tay khẽ run run. Mùi hương trầm lan tỏa trong không gian tĩnh mịch, hòa quyện cùng tiếng gió xào xạc, tiếng chuông chùa vang vọng xa xăm. Giây phút ấy, tôi bỗng cảm nhận rõ rệt thế nào là “linh thiêng của cội nguồn dân tộc”.
Tôi nhắm mắt, tưởng tượng ra hình ảnh của Vua Hùng thứ nhất – người đã lập nên nước Văn Lang, cùng bao thế hệ con cháu nối tiếp xây dựng đất nước. Từ dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa, từ những thửa ruộng bậc thang nơi miền sơn cước, từ những mái đình làng cổ kính, tất cả đều bắt đầu từ nền móng của các vua Hùng. Tôi hiểu rằng, mỗi chúng ta – những người con của đất Việt – đều mang trong mình dòng máu ấy, dòng máu của cội nguồn kiêu hãnh.
Sau khi dâng hương, chúng tôi được nghe chú hướng dẫn kể lại truyền thuyết “Bánh chưng, bánh giầy” và “Sơn Tinh – Thủy Tinh”. Giọng kể của chú trầm ấm, đầy cảm xúc. Mỗi câu chuyện như khắc sâu hơn niềm tin vào sự sáng tạo, lòng hiếu thảo và tinh thần đoàn kết của dân tộc. Tôi chợt nhận ra rằng, những truyền thuyết tưởng chừng giản dị ấy chính là những bài học sâu sắc về đạo làm người, về lòng biết ơn, về ý chí vượt qua thử thách – những giá trị vẫn còn nguyên vẹn đến hôm nay.
Buổi trưa, chúng tôi nghỉ dưới tán cây đại thụ bên lối lên đền. Gió thổi mát rượi, tiếng ve kêu râm ran như bản hòa tấu mùa hè. Tôi mở hộp cơm mẹ chuẩn bị, cảm nhận vị mặn của muối vừng và hương thơm của cơm trắng. Bỗng thấy lòng mình lạ quá – bình yên, giản dị mà sâu sắc. Tôi nghĩ về những người xưa, cũng từng ngồi nghỉ chân dưới những bóng cây như thế này, cũng ngước nhìn lên đỉnh Nghĩa Lĩnh và nhớ về nguồn cội. Giữa không gian linh thiêng ấy, từng hơi thở cũng trở nên thiêng liêng hơn.
Buổi chiều, chúng tôi ghé thăm Đền Giếng, nơi tương truyền hai nàng công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa thường soi gương chải tóc. Nước giếng trong vắt, long lanh như ánh mắt của thời gian. Tôi cúi xuống, soi bóng mình trên mặt nước, thấy gương mặt phản chiếu trong làn sóng gợn nhẹ. Bỗng nhiên, tôi mỉm cười – một nụ cười của niềm tự hào và biết ơn. Tôi đang đứng ở nơi mà hàng nghìn năm trước, tổ tiên tôi từng sống, từng thở, từng gửi gắm niềm tin về tương lai.
Trước khi ra về, chúng tôi tập trung dưới chân núi, lắng nghe cô giáo chia sẻ:
– Các em ạ, ai trong chúng ta cũng có một cội nguồn. Dân tộc Việt Nam ta đã đi qua hàng nghìn năm lịch sử, trải qua biết bao gian nan, nhưng vẫn đứng vững bởi lòng đoàn kết và lòng biết ơn tổ tiên. Hôm nay, chúng ta về đây không chỉ để tham quan, mà để học cách trân trọng những gì mình đang có.
Lời cô nhẹ nhàng mà chạm sâu vào lòng tôi. Tôi chợt hiểu rằng, “về nguồn” không chỉ là một chuyến đi đến nơi chôn rau cắt rốn của dân tộc, mà còn là hành trình trở về với chính tâm hồn mình – để học cách yêu hơn, sống tốt hơn, và biết ơn hơn với quá khứ.
Khi xe lăn bánh rời khỏi Đền Hùng, tôi ngoái lại nhìn đỉnh Nghĩa Lĩnh đang dần xa. Mây trắng bay lững lờ trên đỉnh núi, như tấm lụa mềm quấn quanh mái đền cổ. Trong lòng tôi dâng lên một cảm xúc bồi hồi khó tả. Tiếng hát của bạn Lan vang lên khe khẽ:
“Dù ai đi ngược về xuôi,
Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba…”
Cả lớp cùng hòa theo, giọng hát vang vọng giữa không gian chiều, ngân dài trên triền núi. Tôi thấy tim mình ấm áp lạ kỳ. Tình yêu đất nước, niềm tự hào dân tộc bỗng hóa thành một ngọn lửa nhỏ, âm ỉ mà bền bỉ trong lòng. Tôi tự hứa với bản thân rằng, sẽ luôn sống xứng đáng với công lao của cha ông, sẽ học tập chăm chỉ, sẽ giữ gìn những giá trị mà thế hệ trước đã dày công vun đắp.
Đêm hôm ấy, khi trở về nhà, tôi mở cuốn sổ nhật ký và ghi dòng chữ đầu tiên:
“Hôm nay, tôi đã về với cội nguồn – nơi bắt đầu của dân tộc, nơi tôi thấy rõ hơn tình yêu đất nước trong tim mình.”
Tôi khẽ đặt bút xuống, nhìn ra ngoài cửa sổ. Ánh trăng lấp lánh phủ lên vườn cây, gió đêm thổi nhẹ, như lời thì thầm từ nghìn xưa vọng lại. Tôi bỗng thấy lòng mình bình yên, ấm áp và biết ơn vô hạn.
Chuyến đi về nguồn ấy không chỉ là một kỷ niệm đẹp của tuổi học trò, mà là một bài học sâu sắc về lòng biết ơn, về truyền thống dân tộc, và về trách nhiệm của mỗi người Việt Nam .
BÀI 2: NHÀ TÙ CÔN ĐẢO
Tôi vẫn nhớ như in buổi sáng hôm ấy — một buổi sáng trong trẻo, tràn ngập ánh nắng vàng của miền biển. Sân trường ngập tiếng cười, tiếng gọi nhau í ới. Ai nấy đều háo hức, rộn ràng chuẩn bị cho chuyến đi về nguồn đặc biệt – đến thăm Khu di tích lịch sử Nhà tù Côn Đảo, hòn đảo thiêng liêng từng được mệnh danh là “địa ngục trần gian”. Tôi đã từng nghe về nơi ấy qua sách báo, qua lời kể của thầy cô, nhưng chưa bao giờ tôi hình dung được rằng, có một ngày mình sẽ thật sự được đặt chân lên mảnh đất chứa đựng bao đau thương mà cũng thật hào hùng ấy.
Trên chuyến tàu ra đảo, biển xanh ngắt trải dài đến tận chân trời. Gió biển thổi mát rượi, mằn mặn vị muối. Tôi đứng tựa lan can, ngắm những con sóng trắng bạc nối đuôi nhau xô vào mạn tàu. Xa xa, Côn Đảo dần hiện ra giữa mênh mông sóng nước — một hòn đảo vừa hùng vĩ vừa cô liêu, như tấm bia khổng lồ khắc ghi tội ác của kẻ thù và tinh thần kiên cường của những người chiến sĩ cách mạng.
Cô giáo khẽ nói:
– Các em à, nơi chúng ta sắp đến từng là chốn giam cầm hàng vạn người con ưu tú của dân tộc. Nhưng chính từ “địa ngục trần gian” ấy, họ đã biến đau thương thành sức mạnh, biến ngục tù thành trường học của cách mạng.
Lời cô khiến tôi bỗng thấy nghèn nghẹn nơi cổ họng.
Chiếc tàu cập bến. Mặt đất dưới chân tôi vẫn còn mùi muối biển, gió lồng lộng mang theo hơi nóng của nắng phương Nam. Con đường dẫn vào khu di tích rợp bóng hàng bàng vuông cổ thụ. Những tán lá xanh mướt vươn mình che chở, dường như vẫn thì thầm kể chuyện về một thời máu lửa đã qua. Dưới chân cây, những cánh hoa bàng rơi rụng, nhỏ bé mà thắm đỏ, như vết máu thời gian còn in lại trên mảnh đất này.
Khu nhà tù Côn Đảo nằm giữa lòng đảo, bao quanh là những bức tường đá xám xịt, cao và lạnh lẽo. Bước qua cánh cổng sắt nặng nề, tôi có cảm giác như vừa đi qua một cánh cửa thời gian — trở lại những năm tháng đen tối của lịch sử. Không gian im ắng đến lạ. Gió thổi qua song sắt rít lên như tiếng than khóc, tiếng gọi hồn của bao người đã khuất.
Chú hướng dẫn viên – người sinh ra và lớn lên trên đảo – giọng chậm rãi mà trầm sâu:
– Các em đang đứng ở khu “chuồng cọp Pháp”, nơi từng giam giữ hàng nghìn tù nhân chính trị. Mỗi buồng giam chỉ rộng chừng bảy mét vuông, nhưng chứa hàng chục người. Mùa nắng thì nóng như lò than, mùa mưa lại ẩm thấp, đầy rệp muỗi.
Nghe chú nói, tôi rùng mình. Chúng tôi bước vào trong. Căn phòng tối om, mùi ẩm mốc xộc lên. Ánh sáng yếu ớt len lỏi qua những song sắt, đổ những vệt sáng mảnh như dao cắt xuống nền xi măng lạnh. Ở góc phòng, những mô hình sáp tái hiện cảnh tù nhân bị cùm tay, bị đánh đập, nằm la liệt. Tôi lặng người. Trái tim tôi co thắt lại khi tưởng tượng những con người bằng xương bằng thịt từng chịu cảnh ấy, trong tiếng roi da, tiếng xiềng xích leng keng, trong mùi máu tanh hòa lẫn với mùi ẩm mục của ngục tối.
Chú kể tiếp, giọng trầm xuống:
– Nhiều người bị tra tấn đến chết, nhưng chưa ai chịu khuất phục. Họ hát Quốc ca, hô vang “Việt Nam muôn năm!” ngay trong lúc bị hành hình. Có người lấy chính máu mình viết lời tuyên thệ lên tường đá.
Nghe đến đây, cổ họng tôi nghẹn lại. Tôi thấy trong mắt cô giáo lấp lánh nước. Bạn Lan bên cạnh khẽ nắm tay tôi, bàn tay bạn run run. Không ai nói một lời. Chỉ có tiếng gió thổi qua những song sắt và mùi trầm hương phảng phất đâu đây.
Chúng tôi tiếp tục sang khu chuồng cọp Mỹ – nơi tội ác bị đẩy đến tận cùng. Dưới ánh nắng chói chang, dãy song sắt sáng loáng, những ô cửa nhỏ bé đến đáng sợ. Tôi chạm tay lên bức tường đá thô ráp, thấy rát bỏng như có hơi người, hơi máu còn vương lại. Trên tường, vẫn còn vết khắc nguệch ngoạc bằng mảnh sành: “Sống, chiến đấu, học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại.” Dòng chữ ấy khiến tôi nghẹn ngào. Người viết nó có lẽ đã ra đi, nhưng niềm tin và lý tưởng họ gửi lại vẫn cháy sáng mãi đến hôm nay.
Sau khi tham quan, chúng tôi dừng chân tại Nghĩa trang Hàng Dương – nơi yên nghỉ của hơn hai nghìn liệt sĩ, trong đó có chị Võ Thị Sáu. Cả đoàn đi trong im lặng. Mỗi bước chân trên con đường lát đá đều vang lên như tiếng vọng của quá khứ. Không khí nơi đây vừa trang nghiêm, vừa linh thiêng. Tôi nhìn hàng hàng bia mộ xếp ngay ngắn, trắng toát trong nắng chiều mà thấy lòng mình nặng trĩu. Trước phần mộ chị Võ Thị Sáu, cô giáo và chúng tôi thắp nén hương thơm. Khói hương bay lên, quyện trong gió, nhẹ nhàng như lời tiễn biệt. Tôi khẽ cúi đầu. Trong tâm trí, hình ảnh cô gái tuổi mười bảy hiên ngang bước ra pháp trường vẫn hiện lên rực rỡ. Chị ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ, nhưng trái tim chị thì bất diệt. Tôi nghe như có tiếng hát “Biết ơn chị Võ Thị Sáu” vang lên đâu đó, tha thiết mà kiêu hùng.
Ngồi dưới tán cây bàng cổ thụ, tôi mở cuốn sổ nhỏ, ghi vài dòng:
“Ở nơi địa ngục, con người vẫn thắp lên ngọn lửa của niềm tin và tự do. Có lẽ, không gì có thể giam cầm được lòng yêu nước.”
Những câu chữ run rẩy trên giấy, nhưng trái tim tôi thì rực cháy. Tôi hiểu rằng, sự hi sinh của những người năm xưa không chỉ để đổi lấy độc lập, mà còn để gửi gắm một thông điệp: “Tự do là điều thiêng liêng nhất.”
Buổi chiều, ánh nắng nhuộm vàng những bức tường đá cũ kỹ. Biển phía xa vẫn xanh đến nao lòng, sóng vỗ rì rào như ru giấc ngủ ngàn thu cho những anh hùng đã ngã xuống. Cô giáo nói khẽ:
– Các em ạ, đất nước ta được như hôm nay là nhờ máu xương của biết bao người. Mỗi chúng ta phải sống sao cho xứng đáng với họ.
Tôi khẽ gật đầu. Một cảm xúc dâng lên trong lòng, vừa tự hào, vừa biết ơn, vừa thấy mình trưởng thành hơn bao giờ hết.
Trên đường trở về, tôi lặng im ngắm hoàng hôn buông xuống mặt biển. Mặt trời đỏ rực, chìm dần vào làn nước mênh mông. Biển vẫn dạt dào sóng vỗ, như nhịp tim của đất nước đang đập bền bỉ. Tôi thầm nghĩ: “Côn Đảo không chỉ là nỗi đau, mà còn là biểu tượng của lòng kiên cường, của niềm tin và hi vọng.”
Khi về đến đất liền, tôi ngoái nhìn lại phía xa — hòn đảo nhỏ giờ chỉ còn là một chấm mờ giữa đại dương. Nhưng trong tim tôi, hình ảnh ấy vẫn rực sáng. Tôi hiểu rằng, chuyến đi hôm nay không chỉ là một cuộc hành trình địa lý, mà còn là một chuyến đi của tâm hồn, của nhận thức, của lòng biết ơn sâu sắc.
Tối hôm đó, tôi mở cuốn nhật ký và viết:
“Tôi đã đến Côn Đảo – nơi từng là địa ngục, nhưng lại dạy tôi hiểu thế nào là thiên đường của tự do.”
Tôi khép sổ lại, lòng vẫn còn nguyên cảm xúc. Ngoài khung cửa sổ, gió đêm thổi nhè nhẹ, mùi muối biển còn phảng phất đâu đây. Tôi nhắm mắt, nghe như vang lên trong tiềm thức tiếng hát của những người tù năm xưa – âm vang kiêu hãnh của một dân tộc không bao giờ khuất phục.
Chuyến đi về nguồn ấy đã dạy tôi một bài học quý giá – bài học về lòng yêu nước, về sự hi sinh, về trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay. Từ đó, tôi thấy mình phải sống có ích hơn, phải cố gắng học tập, rèn luyện để góp phần nhỏ bé xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp, để những người đã ngã xuống nơi Côn Đảo linh thiêng có thể mỉm cười yên nghỉ trong lòng đất mẹ.
Câu 1.
Bài thơ “Cảnh ngày hè” được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật (7 chữ, 8 câu).
Câu 2.
Những hình ảnh thiên nhiên được nhắc đến trong bốn dòng thơ đầu là:
Cây hoè xanh rợp bóng, hoa lựu đỏ rực, sen hồng ngát hương, không khí ngày hè trong lành, tươi sáng.
Câu 3.
Biện pháp đảo ngữ trong hai câu thơ trên là :
→ Cụm từ “Lao xao” và “Dắng dỏi” được đảo lên đầu câu nhằm nhấn mạnh âm thanh sống động của cuộc sống ngày hè.
Biện pháp này giúp tạo nhịp điệu linh hoạt, khiến bức tranh mùa hè không chỉ có sắc màu mà còn tràn đầy âm thanh và sức sống của con người, thiên nhiên.
Câu 4.
Trong hai dòng thơ cuối, tác giả bộc lộ ước nguyện chân thành vì dân, vì nước, mong cho “dân giàu đủ khắp mọi nơi”, thể hiện tấm lòng yêu nước thương dân sâu sắc của Nguyễn Trãi.
Câu 5.
Chủ đề:
Bài thơ thể hiện niềm yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống và tấm lòng nhân nghĩa, lo cho dân của Nguyễn Trãi.
→ Căn cứ xác định: Hệ thống hình ảnh tươi sáng, rộn rã trong thiên nhiên (hoè, lựu, sen, chợ cá, tiếng ve) và hai câu cuối thể hiện rõ ước nguyện “dân giàu đủ khắp đòi phương”.
Câu 6.
Từ niềm vui giản dị mà Nguyễn Trãi tìm thấy trong thiên nhiên ngày hè, em học được bài học về tinh thần lạc quan và biết trân trọng những điều bình dị quanh mình. Giữa cuộc sống hiện đại bận rộn, đôi khi chỉ cần dừng lại ngắm hoàng hôn, nghe tiếng chim hót hay mùi hoa thoảng qua cũng khiến tâm hồn thêm bình yên. Biết tận hưởng cái đẹp từ những điều nhỏ bé giúp ta yêu đời hơn, sống chan hòa và cảm nhận ý nghĩa của từng khoảnh khắc trong cuộc sống.
Nguyễn Khuyến là một trong những gương mặt tiêu biểu nhất của thơ ca Việt Nam cuối thế kỷ XIX. Ông được mệnh danh là “nhà thơ của làng cảnh Việt Nam”, bởi thơ ông không chỉ gắn bó với cánh đồng, ao chuôm, lũy tre, mà còn thấm đẫm tình người quê mộc mạc, thủy chung. Trong di sản thơ phong phú ấy, “Bạn đến chơi nhà” là một viên ngọc sáng, kết tinh vẻ đẹp hồn hậu, tinh tế và sâu sắc trong tâm hồn Nguyễn Khuyến — một bài thơ ngắn mà chứa cả một triết lý sống về tình bạn, sự chân thành và nhân cách thanh cao.
Mở đầu bài thơ, Nguyễn Khuyến viết:
“Đã bấy lâu nay bác tới nhà.”
Câu thơ vừa như lời chào thân mật, vừa như tiếng reo vui mừng rỡ. Sau bao ngày xa cách, nay bạn đến thăm, niềm vui trào dâng trong lòng người chủ. Cách xưng hô “bác – ta” mộc mạc, đậm chất dân gian, thể hiện mối quan hệ gần gũi, chân thành, bình đẳng giữa hai người bạn tri kỷ. Chữ “đã bấy lâu nay” nghe giản dị mà gợi cảm, như lời trách yêu, lời nhắc nhẹ nhàng đầy thương mến. Ngay từ đầu, tình bạn ấy đã được đặt trong không khí đậm tình người, chan chứa yêu thương mà không cần phô trương.
Sau lời mở đầu ấy, Nguyễn Khuyến bắt đầu kể về hoàn cảnh “tiếp bạn” rất đỗi đặc biệt của mình:
“Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa,
Ao sâu nước cả, khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.”
Chỉ bằng ba câu thơ, tác giả đã khắc họa bức tranh làng quê Bắc Bộ vừa thân quen vừa bình dị. Ở đó, người ta bắt gặp nhịp sống thôn quê thanh đạm, yên ả – một ngôi nhà vắng vẻ, quanh quẩn với ao sâu, vườn thưa, chợ xa. Hàng loạt từ “vắng”, “xa”, “khôn”, “khó” gợi ra sự thiếu thốn, song điều kì diệu là trong giọng điệu ấy không hề có nỗi buồn, mà ngược lại, toát lên một nụ cười hóm hỉnh, nhẹ nhõm. Nguyễn Khuyến không than nghèo kể khổ; ông kể bằng giọng vui, tự nhiên, như thể đang nói đùa với bạn thân. Chính sự chân chất, tự nhiên ấy khiến bài thơ vừa gần gũi, vừa sâu sắc.
Hai câu thực tiếp theo mở ra khung cảnh thiên nhiên tràn đầy sức sống:
“Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.”
Những hình ảnh dân dã này không chỉ gợi ra đời sống vật chất giản đơn của người dân quê mà còn phảng phất hương vị thanh bình, thuần khiết. Các từ “chửa”, “mới”, “vừa”, “đương” diễn tả cái non tơ, tươi mới của cỏ cây, gợi cảm giác căng tràn nhựa sống. Dù “chưa có gì để đãi bạn”, nhưng giữa sự thiếu thốn ấy lại ánh lên niềm vui, niềm tự hào của một con người biết bằng lòng, yêu cuộc sống thanh bần mà thanh cao. Cảnh vật trong thơ Nguyễn Khuyến không chỉ là bối cảnh mà còn là tiếng nói của tâm hồn: bình dị, chân thật và đượm tình người.
Hai câu kết là điểm sáng rực rỡ, lắng đọng toàn bộ ý nghĩa bài thơ:
“Đầu trò tiếp khách, trầu không có,
Bác đến chơi đây, ta với ta.”
Trầu – vật tượng trưng cho lòng hiếu khách của người Việt – nay cũng không có. Thế nhưng, người đọc không thấy ngượng ngùng, trái lại cảm nhận được một tình bạn thuần khiết, trong sáng, vượt lên mọi vật chất. Câu thơ cuối “ta với ta” là một sáng tạo tuyệt vời. Hai chữ “ta” – một chỉ chủ, một chỉ khách – nhưng lại hòa làm một. Không còn ranh giới giữa người với người, giữa chủ và khách, chỉ còn lại sự đồng điệu trong tâm hồn, trong tri kỷ. Câu thơ giản dị mà lấp lánh triết lý: niềm vui lớn nhất trong đời không nằm ở mâm cao cỗ đầy, mà ở tình cảm chân thành, ở sự thấu hiểu và sẻ chia giữa con người với con người.
Về nghệ thuật, bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật chặt chẽ nhưng Nguyễn Khuyến đã “Việt hóa” một cách tài hoa. Ngôn ngữ thuần Việt, hình ảnh gần gũi đời thường, giọng điệu đùa vui mà sâu sắc khiến bài thơ vừa mang tính dân gian, vừa có chiều sâu triết lý. Cách sử dụng điệp cấu trúc, phép đối và nhịp điệu uyển chuyển giúp bài thơ tự nhiên như lời trò chuyện, không gò bó mà vẫn đầy nhạc điệu.
“Bạn đến chơi nhà” là bức chân dung tâm hồn Nguyễn Khuyến – một con người giản dị mà cao đẹp, nghèo vật chất mà giàu nghĩa tình. Bài thơ là lời ca ngợi tình bạn trong sáng, là minh chứng cho lối sống thanh bạch, coi trọng đạo nghĩa hơn của cải. Đọc bài thơ, ta thấy lòng mình nhẹ nhõm, ấm áp, như vừa được ngồi giữa gian nhà quê nhỏ, nghe hai người bạn già trò chuyện giữa tiếng gió mát và mùi hương hoa mướp thoảng bay — một vẻ đẹp thuần Việt, bền vững cùng năm tháng.
Sống hòa hợp với thiên nhiên có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với con người. Khi con người biết yêu quý và trân trọng thiên nhiên, chúng ta sẽ được tận hưởng môi trường trong lành, cuộc sống bình yên và hạnh phúc hơn. Thiên nhiên là nguồn sống quý giá, cung cấp cho ta không khí, nước, lương thực và cả vẻ đẹp tinh thần. Sống hòa hợp với thiên nhiên còn giúp con người biết tiết chế, sống giản dị và chan hòa, tránh làm tổn hại đến môi trường. Ngược lại, nếu con người khai thác thiên nhiên quá mức, môi trường sẽ bị tàn phá, dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng. Vì vậy, mỗi người cần bảo vệ và gắn bó với thiên nhiên, để cuộc sống luôn xanh, sạch và bền vững.
Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ “Chiều xuân ở thôn Trừng Mại” hiện lên thật thanh bình và tươi đẹp. Cảnh vật được mở ra bằng làn mưa phùn lất phất, đặc trưng của mùa xuân miền Bắc, gợi cảm giác nhẹ nhàng, yên ả. Trong không gian ấy, con người hiện ra cần mẫn, hăng say lao động: người đàn ông giục trâu cày, nàng dâu gieo dưa, bà lão xới đậu. Thiên nhiên và con người hòa quyện, cùng mang nhịp sống mới của mùa xuân. Những hình ảnh mía nảy ngọn, khoai xanh cây cho thấy sức sống căng tràn của ruộng đồng, của đất trời. Màu xanh, màu nâu, màu mưa xuân đan xen tạo nên một bức tranh quê giản dị mà ấm áp. Qua khung cảnh ấy, tác giả bộc lộ niềm yêu mến cuộc sống điền viên thanh thản, dù nghèo mà vẫn vui, vẫn đủ đầy tinh thần. Bài thơ gợi cho người đọc niềm tự hào và tình yêu tha thiết với quê hương Việt Nam mộc mạc, yên bình.
Gà cần lượng dinh dưỡng và chất dinh dưỡng khác nhau: khi còn nhỏ gà cơ thể gà con rất bé vì vậy cũng cần lượng thức ăn ít hơn và chất dinh dưỡng vừa đủ , con gà trong giai đoạn sinh trưởng chúng cần lượng dinh dưỡng nhiều hơn để cơ thể phát triển.
- Gà còn nhỏ không thể tự kiếm ăn nên phải ăn thức ăn có sẵn, khi lớn hơn chúng có thể tự kiếm ăn và cần để cho chúng tự kiếm ăn để cơ thể được săn chắc. => Khả năng phát triển và kiếm ăn cũng khác nhau:
- Gà con chỉ có thể ăn thức ăn được xay nhỏ và chế biến sẵn còn gà lớn có khả năng tiêu thụ và hấp thu tốt hơn nên ăn được thức ăn nhiều chất dinh dưỡng và tự kiếm ăn => Khả năng hấp thụ và tiêu hóa chất dinh dưỡng cũng khác nhau.
- Chuẩn bị chuồng trại đảm bảo khô ráo, thoáng mát, có đủ ánh sáng. Phun khử trùng, diệt khuẩn chuẩn trại trước khi đưa gà vào nuôi.
- Giai đoạn gà con (từ 1 ngày đến 4 tuần tuổi): cho ăn tự do loại cám được chế biến phù hợp với khả năng tiêu hoá của gà. Rải đều thức ăn lên khay ăn tuỳ theo định lượng thức ăn cho số gà (dầy khoảng 1 cm) và bổ sung thêm thức ăn cho gà từ khoảng 6 – 7 lần/ngày. Trước khi rải thức ăn mới nên vệ sinh sạch lượng thức ăn thừa còn lại trên khay ở lần cho ăn trước. Đặt xen kẽ máng uống với khay ăn và thay nước khoảng 2 – 3 lần ngày.
- Giai đoạn gà tơ (gà non, mới lớn): phối trộn thêm lúa, gạo và rau vào trong thức ăn để tăng cường chất dinh dưỡng cho gà.
- Giai đoạn gà thịt: gia tăng lượng thức ăn, nước uống, đồng thời bổ sung thêm thức ăn giàu chất đạm, rau xanh,... để gà lớn nhanh và chắc xương hơn.
- Định kỳ phải tiêm vaccine cho gà.