TRIỆU BÙI KHÁNH THY
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Di tích lịch sử không chỉ là những công trình, địa điểm và các di vật,cổ vật mà còn là tài sản quý giá cần được gìn giữ. Để bảo vệ và phát huy những giá trị của di tích lịch sử thì chúng ta cần phải tăng cường kiểm tra, trùng tu, bảo dưỡng các di tích đang có tình trạng bị xuống cấp . Chúng ta cần quảng bá, giới thiệu về các hình ảnh di tích lịch sử với các bạn trong và ngoài nước. Chúng ta còn cần phải tích cực tuyên truyền với mọi người về giá trị của việc bảo vệ di tích lịch sử . Ngoài ra, chúng ta cũng cần giữ vệ sinh chung , không vẽ bậy, cậy xước các di tích để tránh bị mất giá trị của di tích lịch sử đó. Bên cạnh đó nhà trường cần tổ chức hoạt động ngoại khoá , đi tham quan các di tích lịch sử liên quan đến các bài học. Phê phán các hành vi phá hoại, đập phá , không bảo vệ các di tích ,các trường hợp này cần được loại bỏ xã hội .Vậy nên, mỗi chúng ta cần có ý thức bảo vệ và phát huy các di tích lịch sử đó
câu 2:
Vũ Tuấn là nhà thơ lớn của dân tộc. Ông có nhiều tác phẩm giá trị xong không thể không kể đến tác phẩm ”mùi cơm cháy”. Bài thơ khắc hoạ dòng hồi tưởng của một người con đã trưởng thành, dù đi khắp mọi miền Tổ quốc nhưng trong lòng vẫn không nguôi nhớ về "mùi cơm cháy" – một món ăn giản dị, thô mộc của những ngày khốn khó nơi quê nhà. “Mùi cơm cháy“ đã để lại nhiều dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc
“ Con đi xa, nhớ hương vị tuổi thơ
…
Có ánh trăng vàng... chị múc bên sông
Mở đầu đoạn thơ, tác giả đưa người đọc trở về với thế giới của hoài niệm, nơi có một món ăn giản dị nhưng chứa đựng cả một bầu trời kỷ niệm:
"Con đi xa, nhớ hương vị tuổi thơ
Mùi cơm cháy, con vẫn ăn ngày trước
Đôi chân con đi khắp miền Tổ quốc
Chẳng nơi nào... có vị cơm năm xưa..."
Hai chữ "con đi xa" mở ra một khoảng cách về cả không gian và thời gian. Khi con người ta trưởng thành, bôn ba khắp mọi miền, đối mặt với bao phồn hoa đô hội, thì thứ họ thèm khát nhất lại là "hương vị tuổi thơ". Hương vị ấy không phải là cao lương mỹ vị, mà chính là "mùi cơm cháy" – món ăn của những ngày khốn khó. Phép đối lập giữa "đi khắp miền Tổ quốc" với "chẳng nơi nào... có vị cơm năm xưa" đã khẳng định tính duy nhất và thiêng liêng của căn tính quê hương. Dấu ba chấm (...) như một nốt lặng đầy thổn thức, một sự hụt hẫng nhẹ nhàng nhưng sâu lắng, chứng minh rằng không một sơn hào hải vị nào có thể thay thế được cái vị giòn rụm, thơm nồng của miếng cơm cháy nơi bếp lửa quê nhà.
Từ nỗi nhớ ấy, nhà thơ đi sâu vào lý giải vì sao mùi cơm cháy lại có sức ám ảnh và nâng đỡ tâm hồn con người đến vậy:
"Cơm cháy quê nghèo... có nắng, có mưa
Có lời mẹ ru, ngọt ngào cay đắng
Có những hi sinh, nhớ thương thầm lặng
Con yêu nước mình... từ những câu ca..."
Biện pháp điệp từ "có" được lặp đi lặp lại liên tiếp như một sự liệt kê những báu vật tinh thần kết tinh trong miếng cơm cháy. Cơm cháy không đơn thuần là hạt gạo được nấu chín, mà nó chứa đựng cả quy luật của tự nhiên "có nắng, có mưa". Sâu sắc hơn, nó thấm đẫm tình mẫu tử: "Có lời mẹ ru, ngọt ngào cay đắng". Cuộc đời mẹ trải qua bao thăng trầm, cay đắng để chắt chiu sự ngọt ngào cho con qua từng câu hát. Trong miếng cơm cháy ấy, con cảm nhận được "những hi sinh, nhớ thương thầm lặng" của người mẹ tần tảo. Và chính từ những điều bình dị ấy, từ lời ru của mẹ, từ tình yêu của mẹ, tình cảm của người con đã nâng tầm thành một thứ tình cảm cao đẹp: "Con yêu nước mình... từ những câu ca...". Tình yêu đất nước trong thơ Vũ Tuấn không trừu tượng, vĩ mô mà nó bắt nguồn từ những gì gần gũi nhất, từ cội nguồn văn hóa dân gian và lòng biết ơn đấng sinh thành.
Bức tranh quê hương tiếp tục được mở rộng với hình bóng của người cha, người chị và vẻ đẹp của làng quê xứ sở:
"Cơm cháy quê nghèo... mặn mồ hơi cha
Có vị thơm rơm, cánh đồng mùa gặt
Muối mặn gừng cay, có hè nắng gắt
Có ánh trăng vàng... chị múc bên sông..."
Nếu như hình ảnh người mẹ gắn liền với lời ru và sự hy sinh thầm lặng, thì người cha lại gắn liền với sự lao động cực nhọc: "mặn mồ hơi cha". Giọt mồ hôi của cha rơi xuống đồng ruộng để làm nên hạt lúa, và vị mặn ấy dường như đã thấm vào từng miếng cơm cháy con ăn. Đoạn thơ đậm đà hương sắc đồng quê với "vị thơm rơm", với "cánh đồng mùa gặt" và cái "hè nắng gắt". Thành ngữ "muối mặn gừng cay" được vận dụng sáng tạo, vừa gợi tả cái nghèo khó, thiếu thốn của vùng quê, vừa ngợi ca nghĩa tình thủy chung, gắn bó của con người nơi đây. Khép lại đoạn thơ là một hình ảnh vô cùng lãng mạn, thơ mộng: "Có ánh trăng vàng... chị múc bên sông...". Hình ảnh này gợi nhớ đến câu ca dao cổ diện "Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?". Sự đan cài giữa hiện thực và chất thơ dân gian làm cho bức tranh quê hương hiện lên vừa lam lũ, nhọc nhằn lại vừa đẹp đẽ, thanh bình đến lạ lùng.
Tác giả đã thành công khi sử dụng thể thơ tám chữ phóng khoáng nhưng vẫn giữ được nhịp điệu êm ái, như một khúc hát ru nhẹ nhàng, sâu lắng. Ngôn ngữ thơ giản dị, giàu hình ảnh và sức gợi. Các biện pháp tu từ như điệp từ ("có"), liệt kê, cùng việc sử dụng các chất liệu văn hóa dân gian (lời ru, câu ca, thành ngữ) đã tạo nên một không gian nghệ thuật đậm đà bản sắc dân tộc, dễ dàng đi vào lòng người đọc.
Tóm lại, đoạn thơ trong "Mùi cơm cháy" của Vũ Tuấn là một nốt nhạc trầm sâu lắng về tình yêu quê hương đất nước. Qua hình tượng "mùi cơm cháy" độc đáo, tác giả đã khơi gợi trong lòng mỗi chúng ta lòng biết ơn sâu sắc đối với công ơn sinh thành của cha mẹ, giữ gìn những giá trị cuội nguồn của quê hương. Tác phẩm nhắc nhở mỗi con người dù có bay cao, bay xa đến đâu cũng hãy luôn nhớ về góc bếp hiên nhà – nơi có hình bóng quê hương luôn dõi theo từng bước chân ta đi.
Câu 1.
Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin (thuyết minh)
Câu 2.
Đối tượng thông tin được đề cập đến là Cố đô Huế – Di sản Văn hóa Thế giới.
Câu 3.
Câu văn trình bày thông tin theo kiểu nêu thời gian kết hợp nguyên nhân – kết quả:
Thời gian: “Ngày 6-12-1993”.
Sự kiện: Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới.
Kết quả/ý nghĩa: trở thành di tích quan trọng của Việt Nam và nhân loại.
Câu 4.
Phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng là hình ảnh Hoàng Thành Huế.
Tác dụng: giúp người đọc hình dung rõ hơn về vẻ đẹp của Cố đô Huế, làm thông tin sinh động và hấp dẫn hơn.
Câu 5.
Mục đích: Giới thiệu, cung cấp thông tin và khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa của Cố đô Huế.
Nội dung: Văn bản trình bày các công trình kiến trúc, giá trị văn hóa, lịch sử và việc Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới.