ĐINH PHÚ HƯNG
Giới thiệu về bản thân
Một số chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp ở Việt Nam: - Chính trị: + Hoàn thiện bộ máy thống trị ở Liên bang Đông Dương, đứng đầu là viên toàn quyền người Pháp. + Việt Nam bị chia thành ba kì với ba chế độ cai trị khác nhau. - Kinh tế: + Dùng nhiều thủ đoạn chiếm đoạt ruộng đất, lập đồn điền trồng lúa và cây công nghiệp. + Tập trung khai thác mỏ; xây dựng một số nhà máy, xí nghiệp nhằm phục vụ nhu cầu của chính quyền thực dân như: xi măng, điện nước, xay xát gạo,... + Nắm giữ độc quyền thị trường Việt Nam, tăng cường bóc lột bằng các loại thuế, đặt nhiều thứ thuế mới. + Mở mang một số tuyến đường bộ, đường sắt, đường thuỷ và cảng biển. - Văn hóa, giáo dục: + Chú trọng truyền bá văn hóa phương Tây, tìm cách hạn chế ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc. + Đào tạo một lớp người thân Pháp làm chỗ dựa cho công cuộc thống trị và khai thác thuộc địa. + Mở trường học, cơ sở y tế, văn hóa.
a. Các bộ phận của vùng biển Việt Nam: - Nội thuỷ: là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía trong đường cơ sở và là bộ phận lãnh thổ của Việt Nam. - Lãnh hải: là vùng biển có chiều rộng 12 hải lí tính từ đường cơ sở ra phía biển. Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam. - Vùng tiếp giáp lãnh hải: là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng 12 hải lí tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải. - Vùng đặc quyền kinh tế: là vùng biển tiếp liền và năm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp với lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lí tính từ đường cơ sở. - Thềm lục địa: là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền, các đảo và quần đảo của Việt Nam cho đến mép ngoài của rìa lục địa. b. Phát triển tổng hợp kinh tế biển (đánh bắt, nuôi trồng và chế biến hải sản, khai thác khoáng sản biển - đảo, giao thông vận tải biển, du lịch biển - đảo) có ý nghĩa: - Đối với nền kinh tế: + Hoạt động kinh tế biển rất đa dạng: đánh bắt, nuôi trồng và chế biến hải sản, khai thác khoáng sản biển - đảo, giao thông vận tải biển, du lịch biển - đảo. Chỉ có khai thác tổng hợp mới đem lại hiệu quả kinh tế cao và bảo vệ môi trường. + Thúc đẩy sự phát triển các ngành kinh tế khác như công nghiệp, thương mại,... + Đẩy mạnh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cấu trúc lại cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ. + Tăng nguồn thu ngoại tệ để thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước: từ xuất khẩu thủy sản, khoáng sản, từ hoạt động du lịch, dịch vụ vận tải biển,... + Thu hút đầu tư nước ngoài (thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản biển, xây dựng các khu du lịch,...), tăng tiềm lực phát triển kinh tế. + Phát triển giao thông vận tải biển góp phần đẩy mạnh tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực. - Đối với việc bảo vệ an ninh quốc phòng: + Khẳng định chủ quyền lãnh thổ biển - đảo của nước ta. + Có điều kiện bảo vệ an ninh quốc phòng biển - đảo tốt hơn.
- Người dùng có thể dễ dàng mang theo bên mình mọi lúc mọi nơi, truy cập thông tin và thực hiện công việc ở bất cứ đâu. - Tích hợp nhiều chức năng như liên lạc, chụp ảnh, giải trí, định vị, và thanh toán, thay thế nhiều thiết bị riêng lẻ.
Sự phát triển của máy tính qua các thế hệ là một hành trình liên tục của việc thu nhỏ, tăng tốc, tiết kiệm điện năng và tăng cường khả năng di động, biến máy tính từ những cỗ máy khổng lồ, cố định thành những thiết bị cá nhân mạnh mẽ, luôn sẵn sàng đồng hành cùng con người.
Thế hệ máy tính thứ nhất (1940-1956) được đặc trưng bởi việc sử dụng đèn điện tử chân không làm linh kiện chính, kích thước khổng lồ, tiêu thụ nhiều điện năng, tỏa nhiệt lớn và không đáng tin cậy. Chúng được lập trình bằng ngôn ngữ máy, sử dụng thẻ đục lỗ để nhập/xuất/lưu trữ. Chủ yếu phục vụ các mục đích khoa học, quân sự do chi phí và độ phức tạp cao.
Ý tưởng cơ giới hóa tính toán đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với lịch sử phát triển máy tính vì nó là bước chuyển mình từ việc tính toán thủ công, dễ sai sót sang tự động hóa, là tiền đề cho mọi cỗ máy tính toán phức tạp sau này. Máy tính cơ học đầu tiên của Blaise Pascal cho thấy máy móc có thể thực hiện các phép tính một cách độc lập.
Chúng có dung lượng lưu trữ cực kỳ hạn chế, đòi hỏi số lượng lớn thẻ cho dữ liệu nhỏ, và quá trình truy xuất dữ liệu lại rất chậm do cơ chế đọc cơ học. Bên cạnh đó, thẻ giấy dễ bị hỏng, khó chỉnh sửa thủ công và yêu cầu không gian lưu trữ, khiến việc vận hành và quản lý máy tính trở nên kém hiệu quả.
Bóng bán dẫn đã cách mạng hóa ngành công nghiệp điện tử và máy tính bằng cách mang lại hiệu suất vượt trội, kích thước nhỏ gọn, độ bền cao và chi phí thấp hơn nhiều so với rơ le điện cơ, mở ra kỷ nguyên của máy tính hiện đại.
Năm 1945, nhà Toán học người Mỹ gốc Hung-ga-ry John Von Neumann đã trình bày nguyên lí hoạt động của máy tính với khái niệm "chương trình được lưu trữ". Theo đó: - Các lệnh của chương trình được lưu trữ trong bộ nhớ giống như dữ liệu; - Để thực hiện nhiệm vụ nào, chỉ cần tải chương trình tương ứng vào bộ nhớ; - Chương trình được nạp từ bộ nhớ vào bộ xử lí từng lệnh một và thực hiện xong mới nạp lệnh tiếp theo (tuần tự).
Thế hệ thứ nhất (khoảng 1940 - 1956): Đèn điện tử chân không. Thế hệ thứ hai (khoảng 1956 - 1963): Bóng bán dẫn. Thế hệ thứ ba (khoảng 1964 - 1971): Mạch tích hợp. Thế hệ thứ tư (khoảng 1971 - đến nay): Bộ vi xử lý sử dụng công nghệ Tích hợp quy mô rất lớn (Very Large Scale Integration - VLSI) và sau này là Tích hợp quy mô cực lớn (Ultra Large Scale Integration - ULSI).